• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Lên PhanSiPăng
Ngày xuất bản: 05/08/2016 7:40:12 SA

Bút ký của Hoàng Thế Sinh

 

 Nghe đài báo gió mùa đông bắc, tôi cứ ngửa mặt lên tầng xanh thăm thẳm mà cầu xin Giời đừng mưa bão. Giời không mưa bão, để ngọn lửa khát vọng trong tôi rực cháy– ngọn lửa khát vọng leo lên đỉnh núi PhanSiPăng. May mắn, tôi được nhập với đoàn leo núi của phóng viên Báo Thái Nguyên– Bắc Giang, do anh Vũ Liêu– Phó tổng biên tập Báo Thái Nguyên làm trưởng đoàn. Tất cả đều sẵn sàng, tự tin bởi có thêm sự cổ vũ mạnh mẽ và giúp đỡ tận tình của bạn Báo Lào Cai.

 Đêm Sa Pa phấp phỏng. Chợt mưa ào, rồi tạnh. Vừa sáng, ngước nhìn chẳng thấy ngọn PhanSiPăng, chỉ thấy biển mây xám bạc đè trĩu xuống khiến chân núi như toè ra. Mặc, chiếc xe của Công ty du lịch Đức Minh vẫn đón chúng tôi ngược Ô Quy Hồ, đến tận bản doanh Vườn quốc gia Hoàng Liên. Gió ào từng cơn. Sương bay mờ mịt. Cuộc leo núi bắt đầu lúc 9h5phút, dưới sự hướng dẫn của hướng dẫn viên du lịch Trần Tiến Sơn, cùng các chàng trai Mông làm dịch vụ, do Thào A Chừ và Thào A Tếnh phụ trách nhóm.

 Vừa nhấc chân khỏi sân đá của bản doanh Vườn quốc qia Hoàng Liên, chúng tôi đã gặp ngay rừng Trúc, rồi nương Thảo quả- thơm nức mùi quả sấy trong lò khói toả, nửa ngày thì xuyên qua rừng nguyên sinh– vô vàn  những cây cổ thụ, thân to đùng, vỏ xù xì, mốc thếch, lởm chởm những địa y. Tôi hỏi anh Sơn tên cây, anh Sơn chỉ vào các biển gắn trên thân cây. Tôi liền lấy sổ tay phóng viên, vừa bước thấp bước cao vừa ghi lia lịa tên các loài cây: Hồi lá mỏng, KhathuKAWAKAM, Chân vịt, Quế đỏ, Dẻ gai nhím, Hồi PETELOT, Nâu bồ dục, Vối thuốc, Đỗ quyên, GiangnúiSa Pa, Côm trâu, Bùi lá sẫm, Sồi tày, Dạ hợp CACHCART, Chè trám, Hồng quang CHAM PION, Thụ sâm quả to, Dẻ anh... Và kia nữa, kia nữa, không thể nào ghi hết được, có đến hàng trăm thứ cây gỗ quý hiếm ở Vườn quốc gia Hoàng Liên này. Là người từng ngủ với rừng, ăn của rừng, sống cùng rừng, nhưng nhiều loài cây tôi mới được biết lần đầu. Riêng cây dẻ thì thân thuộc với tôi lắm. Thân cây rắn chắc, cao ngút lên, mùa này dẻ đang nhả hạt xuống gốc. Những hạt dẻ giống như hạt sen màu xám bạc vung vãi khắp mặt đất. Mọi người cứ xuỵt xoà tiếc không có thời gian nhặt về rang ăn. Tôi lặng lẽ nhặt mấy hạt đút túi, giữ lấy như giữ một kỷ niệm tưởng đã phai mờ. Ấy là kỷ niệm của những ngày ra trận, mùa Thu năm Bảy mốt, đào hầm trú quân dưới rừng cây dẻ, chúng tôi nhặt hàng túi hạt, đem rang và tí tách cắn vỏ, nhai bùi cả đêm Trường Sơn. Thấy tôi cứ bần thần hết tựa lưng lại dang tay ôm mấy gốc cây to, chẳng theo kịp đoàn leo núi, anh Sơn phải giục đi nhanh kẻo muộn. Làm sao đi khỏi cánh rừng đẹp thế này! Nghĩ vậy, nhưng tôi vội rảo bước, sợ lạc vì anh Sơn vừa nói đã mất hút trong rừng cây. Bước qua một khoảng sáng rộng, bây giờ tôi mới chợt nhìn thấy những bông hoa vàng to bằng miệng chén, cánh và nhuỵ vàng tươi rất giống hoa chè, rắc dọc lối đi. Tôi cúi nhặt một bông, gắng bước thật nhanh kịp anh Sơn để hỏi, mới biết đó là hoa của cây Chè trám. Tự dưng lòng tôi bồi hồi xúc động, bởi hoa rắc vàng dấu lối rừng già- vẻ như một cuộc đón rước long trọng của Thần rừng dành cho những chàng trai biết mê đắm cõi nguyên sinh của Người. Mải miết xuyên rừng già, xuống dốc, rẽ lối chui trong rừng Trúc phất trần ken dày như đan mành, bước dài bước ngắn trên bùn lầy đầy hố chân trâu, mãi nửa chiều chúng tôi mới được lệnh dừng chân ở một bãi bằng ven suối, giữa  rừng cây cổ thụ ngút ngàn và sẽ ngủ lại đây. Mọi người nhớn nhác, lời ra lời vào: “Chưa đi đã nghỉ thì bao giờ mới tới nơi?”. Anh Vũ Liêu phảy tay ra hiệu mọi người trật tự, rồi hỏi anh Sơn:

- Đây là bao nhiêu? (ý anh Liêu hỏi đang ở độ cao bao nhiêu )

- Hai ngàn mốt rồi, anh ạ!– Anh Sơn vừa cởi dây ba lô, vừa trả lời.

- Vậy là còn những hơn ngàn nữa, mai đi sao kịp?

 Mọi người nhao lên:

- Còn cao thế, mai đi sao kịp!

- Khéo các ông đưa nhầm đường rồi!

- Thấy người ta bảo lên Hai ngàn bảy hoặc Hai ngàn chín mới ngủ cơ mà. Như thế sớm hôm sau lên đỉnh PhanSiPăng, rồi mới xuống được.

 Anh Vũ Liêu cũng biết thế, nên gặng anh Sơn:

- Hay là lên Hai ngàn chín hãy ngủ?

- Ôi, không được!– Anh Sơn lắc đầu- Đêm cũng chả lên đến Hai ngàn chín đâu. Mới lại, trên ấy không có nước, lấy gì nấu ăn!

- Sao bảo người ta thường nghỉ ở Hai ngàn chín?– Anh Vũ Liêu lẩm bẩm, vẻ hoài nghi, cứ chăm chăm nhìn cái dáng bé nhỏ mà rắn chắc như hòn đá cuội của anh Sơn.

Anh Vũ Liêu lo ngại như vậy là phải. Còn tôi không nói ra vì biết anh Sơn từng dẫn người Bỉ, người Úc, người Anh, người Pháp, người Mỹ...theo con đường du lịch mạo hiểm này, lạc sao được. Nghe anh Vũ Liêu và anh Sơn trao đổi, Thào A Chừ nhấc chiếc lù cở đầy tú hụ những xoong nồi, lều bạt, đặt ngay ngắn trên chỗ đất phẳng, rồi quay lại, nói to:

- Phải ngủ ở đây thôi, các nhà báo ơi! Trên ấy không có nước thật mà. Mai đi thật sớm thì kịp xuống núi đấy!

- Ờ thì ngủ!

Anh Liêu tin anh bạn người Mông nói thật, nên quyết định cho đoàn ngủ lại, mặc dù anh và mọi người, cả tôi nữa, đều tiếc mấy tiếng buổi chiều nghỉ không, sốt ruột lắm.

 Thế là tất cả toá ra, mỗi người chọn một hòn đá, một rễ cây, cứ phệt ngay xuống, co co ruỗi ruỗi cái gối mỏi nhừ. Còn Thào A Chừ, Thào A Tếnh cùng các bạn Mông chẳng có vẻ gì là mệt mỏi, đã bắt đầu công việc của những người làm dịch vụ, cứ răm rắp: dựng lều bạt, nhóm lửa lên, nào gạo– gà- rau dưa– hành tỏi– ớt– cà chua– mì tôm- trứng– mộc nhĩ– vân vân. Rồi chặt, thái, nấu sào, rang, luộc. Mấy chàng Mông trẻ tuổi thoắt cái đã chặt về dăm cây Trúc phất trần, róc hết lá, vạt nhọn như que sắt, xiên thịt nướng thơm lừng. Phải nói, các chàng trai Mông nấu ăn khéo chẳng kém gì phụ nữ, thành thạo và ngon lành đến là thích. Bữa cơm trong rừng chiều ngon quá thể, do không gian trong lành, dân dã như hội trại, thứ nữa, tất cả cũng đã đói ngấu.

 Cơm nước xong, mọi người xúm quanh đống lửa, chuyện vui như khơi mãi ngọn lửa hồng. Thèm ngọn lửa ấm, nhưng ai nấy phải chui vào lều bạt ngủ sớm lấy sức để mai còn leo núi. Chưa ấm chỗ, tôi đã rờ rẫm kéo khoá cửa lều, chui ra ngoài. Có một cái gì đó làm lay động rất sâu trong tâm hồn tôi. Tôi đứng lặng, dồn hết thị lực, bất giác nhận ra chính mình đương lạc vào đêm nguyên thuỷ. Tiếng suối thoảng vào đêm như chảy từ đỉnh trời xuống, qua nắng- qua gió- qua bão- qua sương- qua cây- qua đá, cảm giác ngọt và trong đến lạ lùng. Trong sương mù và bóng tối, cây cổ thụ nghiêng ngả vào nhau, cứ thì thầm thì thầm những chuyện đẩu đâu của rừng xanh núi thẳm. Bếp lửa ban chiều vẫn cháy rực, những hòn đá cuội to tròn giống cái hũ được đốt cháy cứ hồng lên như ngọc. Các chàng trai Mông nằm ngủ ngon lành ngay bên đống lửa, ngay giữa Đất – Trời sương giá, ngay giữa đại ngàn thăm thẳm như từ xửa xưa vẫn thế. Tự nhiên tôi đưa tay khoả vào sương lạnh, rồi ngửa mặt nhìn ngàn sao qua kẽ lá, lạ thay, có gió mùa đông bắc mà ngàn sao vẫn lấp lánh thế kia thì chỉ có Giời mới sắp đặt cho chúng tôi một ngày mai thật tốt lành. Và cả ngàn sao ấy đã theo tôi vào đêm nguyên thuỷ, kết thành một giấc mơ kỳ lạ về sự mọc lên vời vợi của núi PhanSiPăng cách nay cả trăm triệu năm giữa mênh mông ạt ào sóng nước. Mãi tới khi bàn tay chạm vào mái lều bạt lạnh toát, tôi mới sực tỉnh, cũng là lúc mọi người gọi nhau, rột roạt chui ra khỏi lều. Những chàng trai chưa từng ngủ rừng đều ồ lên vẻ ngạc nhiên khi thấy bếp lửa vẫn rực cháy trong màn sương bay trắng như tuyết bay.

Bữa sáng bằng một bát mì tôm, cốc trà gừng, cà phê, rồi hối hả đi. Lại lên dốc, xuống dốc, chừng nửa giờ thì gặp một dòng suối– rất tiếc là không ai biết tên dòng suối trên PhanSiPăng hay chúng chưa được đặt tên, nhưng tôi xin mạn phép thần núi PhanSiPăng đặt tên là suối Hoang Thủy, rồi nằm xoài trên phiến đá rêu xanh, vục đầu xuống nước và uống ba ngụm hoang thủy cho đã thèm– bước chân còn mát lẹm dưới lòng suối, vừa ngẩng mặt lên, một dốc đá dựng đứng đã đặt ngay trên mặt! Anh Sơn bảo, từ đây mới thật là leo núi- chính cái sống núi chênh vênh, vút thẳng lên đỉnh PhanSiPăng. Chiếc gậy chống không còn tác dụng nữa! Bắt đầu phải dùng cả hai bàn tay bám đá, bám rễ cây để leo lên từng bậc, từng gang một. Trời lạnh thế mà mồ hôi ướt đầm, mọi người phải cởi áo rét, cởi cả sơ mi. Thấm mệt, anh Sơn phải đeo giúp tôi chiếc máy ảnh. Các trai làng báo khoẻ mạnh thì chân đạp tay kéo liên tục, nhọc lắm mà vẫn vừa leo vừa cười, vừa xuýt xoa khen rừng cây đẹp. Còn tuổi nửa thế kỷ hơn như tôi chẳng thể sánh với các bạn thì dùng mẹo, cái mưu mẹo tích luỹ được từ thuở còn làm nghề khai thác lâm thổ sản trên vùng rừng núi Mã Yên Sơn, những tháng ngày xẻ dọc Trường Sơn ra trận, cả những ngày lặn lội hàng chục, hàng trăm cây số đường rừng núi đến các bản làng để viết văn, viết báo– tôi ngậm miệng, bám chắc từng rễ cây, giẫm thẳng lên đầu từng mỏm đá, rồi mới lấy sức nhấn lên từng bước, từng bước một. Đã có sinh khương– gừng tươi ấy, chứ đừng ngậm sâm- ăn một chút, một chút, huyết mạch sẽ nóng lên thông suốt, cơ bắp theo đấy mà như nở nang mạnh mẽ. Tới Hai ngàn bảy, nắng đã bừng lên. Tôi tránh sang một bên, vắt áo rét lên cành cây, đứng nghe tiếng suối, tiếng gió, tiếng chim sơn ca hót ríu ran khắp rừng. Ôi, sao giống rừng Trường Sơn thế! Trong tôi bỗng ngân lên lời Bài ca Trường Sơn(thơ Gia Dũng- nhạc Trần Chung), lời mà chúng tôi đã từng hát suốt một thời trai trẻ: Trường Sơn ơi!/ Trên đường ta qua không một dấu chân người/ Có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác/ Dừng ở lưng đèo mà nghe suối hát/ Ngắt một đoá hoa rừng cài lên mũ ta đi/... Cảm xúc ở hai đầu thời gian những Ba mươi lăm năm và ở hai đầu không gian nghìn trùng mà sao giống nhau đến lạ! Bởi thế, khác hẳn cánh trai làng báo, tôi bền bỉ băng rừng leo núi bằng sức mạnh dồn nén âm thầm một đời của những kỷ niệm đau buồn và đẹp đẽ với núi rừng. Thế nên, các bạn đang gắng sức nhằm vượt nhanh lên phía trước, còn tôi thì vừa túc tắc leo, vừa mê mải ngắm rừng núi và chụp ảnh. Làm sao đi lướt qua cho đành, khi mà cả một triền núi mênh mông tăm tắp những cây thông lùn ABISPhanSiPăngENSIS và đan xít vào nhau là dòng họ nhà Đỗ quyên có tới trên 32 loài. Sống đan xen vấn vít với họ nhà Đỗ quyên còn trên 130 loài cây gỗ quý như Ngọc am, Thiết sam, Lãnh sam, Liễu sam, Hoàng đàn... Đây là Rừng Cảnh Tiên! Sau này phải mất cả chục cuộc điện thoại cho Vườn quốc gia Hoàng Liên, gặp anh Chiến– người nghiên cứu về rừng, tôi mới được biết không chỉ thế, mà ở đây còn có tới trên 330 loài hoa Phong lan, thảm thực vật chừng 700 loài đặc hữu, với vô số loài côn trùng, động vật quí hiếm của vùng Á nhiệt đới. Đấy thực sự là một nguồn gien quí giá mà Quốc gia- chính quyền địa phương- các nhà khoa học phải hết lòng giữ gìn, phát triển. Còn ngay cuộc leo núi này, suốt từ độ cao hơn Hai ngàn mốt đến Hai ngàn chín, tôi chỉ biết thích thú đến kinh ngạc trước vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của ngàn cây. Ngàn cây không vút lên cao mà ken vào nhau, nén mình rạp xuống gần đất như một thảm thực vật khổng lồ, là bởi phải gồng sức chống chọi với mưa bão, tuyết sương dữ dội. Chi chít địa y bám khắp thân cành cũng không đủ làm cho cây ra dáng cổ thụ. Mà cây ở Rừng Cảnh Tiên này chỉ cổ thụ rễ. Muôn vàn rễ cây bám chặt vào thẳng tầng đá mẹ, rồi phình lên to uỵch, vươn dài mãi, quấn chặt với nhau, quấn chặt vào đất đá, cũng là lẽ tự nhiên, để cây không bao giờ bị bão tố quật ngã và bị dứt ra khỏi mặt đất. Lá của ngàn cây cũng kết thành một tấm thảm xanh rịm che mưa che nắng cho cây. Rất tiếc chưa phải mùa hoa Đỗ quyên! Anh Sơn bảo, nếu đúng mùa, hoa Đỗ quyên cùng với hoa Phong lan, hoa Hoàng anh sẽ cùng nở rực rỡ, khiến Rừng Cảnh Tiên trở nên kỳ ảo lạ lùng. Mê mải ngắm, mê mải ngẫm nghĩ, thì vẫn mê mải leo núi, phải nửa buổi chúng tôi mới lên đến Hai ngàn chín. Lại một điều lạ lùng nữa, ở đây Trúc quân tử mọc san sát, cũng tăm tắp, bạt ngàn. Ngọn Trúc vút cần câu, lá xanh như tóc tuổi mười lăm. Đây đó, cây Tùng ngạo nghễ vút lên, cành lá xoè tán rộng trong sương mờ, gió núi. Tùng Trúc quân tử quấn quýt bên nhau. Thực ra đã được đọc, được nghe, được biết không ít về tứ quý Tùng- Cúc- Trúc- Mai , nhưng lên PhănSiPăng, tôi mới hiểu một cách sâu sắc hơn sự thâm thuý của người xưa nói về cốt cách người quân tử như TùngTrúc vậy! Ở trên cao này, gió còn hơn cả gió, bão còn hơn cả bão, mưa nắng còn hơn cả mưa nắng, tuyết sương còn hơn cả tuyết sương... thế mà Trúc quân tử vẫn xanh tươi ngút ngàn, ngọn cứ thẳng vút lên trời. Tùng vẫn cao lớn, sừng sững đứng thẳng giữa ngàn xanh, cành lá xoè tán rộng che cho tấm thân  "bách niên" cường tráng!

Mải rong ruổi với những  ý nghĩ về Tùng – Trúc, tôi bị tụt lại sau, anh Sơn phải vừa đi vừa đợi. Ra khỏi rừng Trúc quân tử, chúng tôi đắm vào nắng trưa rực rỡ. Cứ nhẩm tính còn Hai trăm mét đứng nữa sẽ lên tới đỉnh PhanSiPăng, có ngại gì. Vậy mà, vừa ngẩng lên, một gò đá khổng lồ như từ trên trời thả xuống, dí ngay vào  trán. Gò đá trắng nhẵn nhụi, nên mọi người phải bám dây– loại dây leo của các nhà thể thao- đạp thẳng vào mặt đá, rồi lần tay theo dây mà kéo tấm thân nặng trịch nhích lên dần dần. Tôi được biết không ít người khát vọng lên đỉnh PhanSiPăng, nhưng chỉ tới Hai ngàn bảy, cố nữa lên Hai ngàn chín, phải bỏ cuộc. Người Pháp từ năm 1905 cũng mới chinh phục được độ cao 2.963 m. Tôi chưa nhìn thấy cột mốc của người Pháp, nhưng có lẽ ở chính cái chân gò đá khổng lồ này chăng, bởi một số người hăm hở nhất đã phải đứng ở đây cúi chào, chỉ còn cách ngước nhìn ngưỡng vọng PhanSiPăng mà thôi.

Tôi cũng đang ngước lên PhanSiPăng đây. Đôi bàn chân bây giờ là cả ngàn cân rồi! Chỉ còn Hai trăm mét đứng nữa mà sao chẳng thấy đỉnh PhanSiPăng đâu, vẫn ngun ngút mây trắng, ngun ngút đá, ngun ngút rừng xanh. Nhưng tình yêu thiên nhiên, khát vọng chinh phục đã cho tôi sức mạnh, vượt lên. Giữa vùng núi chất ngất, có lẽ nằm trong “phễu gió” cho nên không có cây cối um tùm, mà rặt cây lúp xúp, thảm thực vật phải dán mình vào đá, theo tôi biết, lẫn trong đó là rất nhiều cây thuộc họ Cúc, họ Cói, họ Hoa Hồng, họ Hoàng Liên rễ đắng và vượt lên chùm lá phơ phất ở ngọn lại là Trúc phất trần. Họ nhà Cói mất đầu, chết khô trắng, cũng tăm tắp hàng loạt- đối lập với gam màu xanh và xám của rừng, của đá- mới biết họ nhà Cói đã tử trận bởi một cuộc đọ sức ác liệt tự bao giờ với nắng- gió- tuyết- sương giữa lưng chừng trời này. Một lúc lâu nữa, leo dốc nữa nhưng bàn chân chợt mền vì cả ngọn núi đá khổng lồ đã được phủ khá dày xác thực vật- đến nỗi, tôi thấy Thào A Chừ cầm đoạn que cắm thẳng xuống dễ như cắm xuống bùn, rồi rút lên, đo được hơn hai gang tay– tạo nên lớp đất xốp đen như than.  Cũng thật bất ngờ, trên đó là san sát bạt ngàn cả một cánh rừng Vầu-  cây Vầu chỉ nhỉnh hơn cây Trúc quân tử một chút, thân rắn chắc, đốt ngắn, cành lá xanh tươi chẳng khác gì cây mọc trên đất phù sa màu mỡ. Tôi đã đi qua nhiều cánh rừng trên núi cao, nhưng chưa thấy ở đâu có loại cây Vầu khác lạ đến thế. Ở đoạn dốc cuối cùng lên PhanSiPăng, lại chính những cây Vầu khác lạ kia đỡ bàn tay chúng tôi, dìu lên. Vừa ra khỏi rừng Vầu, tôi nghe tiếng reo cười toả ra mênh mông. Thì ra, các bạn trẻ khoẻ đã tới đỉnh rồi! Tôi dốc sức vượt nhanh, đúng lúc các bạn đang tíu tít giăng lá cờ Tổ quốc– Cờ đỏ sao vàng tung bay như ngọn lửa giữa đỉnh núi vời vợi nắng gió. Anh Vũ Liêu và tôi cùng vào giăng cờ, một lúc, trao lá cờ Tổ quốc cho các bạn, rồi châm hương, đứng nghiêm trang trên đỉnh đá, cầu xin cho quê hương, đất nước mãi mãi bình yên, ngày càng giầu đẹp và con người chỉ biết có yêu thương nhau. Chúng tôi cùng cúi lạy bốn phương Trời - Đất. Rồi mở chai Sâmpanh, bốp, rượu Sâmpanh bắn toá lên, các bạn tíu tít chụp ảnh, ríu rít điện thoại đi khắp nơi báo tin vui, thật sướng! Tôi cũng rút mobile, gọi cho gia đình, gọi cho bạn bè ở tận Cà Mau – Sài Gòn – Vũng Tàu – Thành phố Huế – Cao Bằng – Hà Nội... Các bạn chúc mừng xong còn không quên dặn tôi phải đem về một kỷ vật nào đấy của PhanSiPăng. Chưa kịp nghĩ sẽ xin gì của PhanSiPăng, ở ngay dưới gầm trời, tôi đứng như ngọn tháp nhỏ tưởng đưa tay với được mặt trời đương rừng rực cháy trên đầu, mắt dõi ra mênh mông, chẳng biết đâu là Bạch Mộc Lương Tử, đâu là Pú Luông –  hai “người em” cùng chung mái nhà Hoàng Liên Sơn. Tôi lại ngó ra vô cùng vô tận, ở đâu Evơret- Aconcagoa- Măckinly- Kylimanđiarô- Enbrux-Ynxơn, những đỉnh núi cao vời của trái đất, nhưng chắc không có núi nào đẹp như PhanSiPăng của Việt Nam ta. Bởi PhanSiPăng ngun ngút đá, nhưng vẫn bốn mùa hoa thơm trái ngọt suốt từ cái chấm đỉnh Ba ngàn một trăm bốn mươi ba mét xuống tận Tả Van- Ô Quy Hồ- Mường Hoa- Xéo Mí Tỷ- Tả Phìn- Sín Chải- Dền Thàng- San Xả Hồ... và Xuân- Hạ hay Thu- Đông , bao giờ cũng chân thật, ấm áp tình người. PhanSiPăng- núi linh thiêng thêm một lần cho tôi cảm nhận sâu sắc hơn về non sông Việt Nam hùng vĩ, giàu đẹp với sức sống mãnh liệt đến thế nào!

Tôi chợt nhớ bài thơ Núi của thi sỹ Lò Ngân Sủn: Núi– nơi bắt nguồn của mọi con suối/ Núi- nơi cây mọc thành rừng/ Núi- xứ sở của hoa trái/ Núi toả ánh sáng màu xanh của lá/... Những câu chuyện cổ tích sinh ra từ núi/ Những bài ca hay nhất sinh ra từ núi/ Núi- nơi hội tụ của người dân miền ngược/... Thế nên mãi bây giờ tôi mới nhập được hồn vía vào PhanSiPăng, rồi cứ đắm chìm mãi trong nguyên thuỷ Đá - nguyên thuỷ Cây – nguyên thuỷ Mây - nguyên thuỷ Nắng – nguyên thuỷ Gió. Ôi dà, tất cả cứ mọc lên hồn nhiên giữa mênh mông đất trời! Tất cả cứ dâng lên, ào ra, rồi thoảng đi trong mênh mông đất trời! Đợi cho mọi người xuống núi trước, tôi mới lặng lẽ quỳ xuống dang tay ôm lấy HuaSiPan– phiến đá lớn khổng lồ nằm chênh vênh– rồi ngắt một bông hoa dại màu tím bé xíu với một nhành cây Đỗ quyên lá xanh rịm đặt lên đấy, lại cầu xin Trời - Đất và Thần núi linh thiêng PhanSiPăng cho quê hương, đất nước mãi mãi bình yên, con người chỉ biết có yêu thương nhau.

         Giữa vời vợi Đất - Trời, tôi đứng thẳng dậy, cất tiếng hú gọi vang vọng khắp PhanSiPăng, giống người nguyên thuỷ, chợt nhận ra mình mạnh mẽ, hồn nhiên như thời trai trẻ.

                                                                                          

                                                       H.T.S

                                 PhanSiPăng, ngày 2&3 tháng 10 năm 2004

                                Thành phố Yên Bái, ngày 19 tháng 10 năm 2004

                            

 

 

 

      

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter