• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Vai trò của “Lúng ta”- họ ông cậu- trong hôn nhân truyền thống của người Thái đen ở Mường Lò tỉnh Yên Bái
Ngày xuất bản: 25/04/2019 1:38:43 CH

 ThS. Hoàng Thị Vân Mai 

Từ lâu người Thái đen đã duy trì chế độ hôn nhân một vợ, một chồng và tuân thủ nguyên tắc ngoại hôn- tức là cấm có quan hệ hôn nhân trong khuôn khổ tông tộc. Đây là nguyên tắc quan trọng để củng cố sự thống nhất bên trong của tông tộc- tức là đẳm. Theo đó, người đàn ông không bao giờ có thể dời đẳm này sang đẳm khác, còn người đàn bà khi đã đi lấy chồng thì trở thành thành viên của  đẳm  chồng mình. Tất cả các thành viên trong cùng  một tông tộc đều phải tuân thủ nguyên tắc này.

Đối với các mối quan hệ thân tộc trong hôn nhân của người Thái đen ở Mường Lò, người đàn ông gọi tất cả những người họ hàng bên vợ là lúng ta, người đàn bà gọi tất cả những người họ hàng bên nhà chồng là nhính sao, những người đàn ông cùng một ông tổ được gọi là ải nọng. Như vậy, người Thái đen có ba quan hệ thân thuộc- quan hệ ba chiều, mỗi chiều ấy được gọi là một họ. Tục ngữ Thái có câu: “Người có ba họ như nồi có ba rế” (Côn mi xam họ, mỏ mi xam hế). Nếu cá nhân và gia đình nào không giữ được nền nếp, làm trái các quy định của phong tục tập quán: ải nọng- lúng ta- nhính sao sẽ bị xã hội lên án, chê trách.

 Lúng ta, hay còn gọi là họ ông cậu, là toàn bộ những người thân bên đẳm lúng ta (gồm có ông bà, bố mẹ, anh chị em và các em, đặc biệt là các anh, em trai của mẹ, của vợ...). Đối với hôn nhân truyền thống của người Thái đen ở Mường Lò, mối quan hệ giữa người cháu với những ông cậu ruột được thể hiện trong nhiều giai đoạn của hôn nhân cũng như xuất hiện trong các nghi thức tín ngưỡng của đồng bào.

Với người Thái đen, khi người đàn ông chọn vợ, bạn đời cho mình, anh ta sẽ xem xét các yếu tố ở cô gái như tính tình, sức khỏe, khả năng lao động, quản l‎ý công việc nhà và đặc biệt là tài xe chỉ, dệt vải (theo quan niệm của người Thái người phụ nữ cần phải biết làm tất cả các sản phẩm của nghề dệt như quần áo, chăn, gối đệm v.v.), có giáo dục và khéo léo. Ngoài ra, họ còn tìm hiểu rất kỹ bà mẹ vợ tương lai. Nếu bà mẹ vợ là một người phụ nữ biết lo toan và thu vén gia đình thì cũng sẽ dạy dỗ những cô con gái của họ như vậy. Do đó, dân gian Thái có câu: “Hầu mía bứng mé nai/u quai bứng quai tổn lang (Lấy vợ trông mẹ vợ/ Chọn trâu xem con trâu mẹ). Tuy nhiên, để có thể trở thành rchấp nhận chàng rtương lai của dòng họ mình thì các ông cậu của cô gái đã phải xem xét rất nghiêm túc lai lịch dòng họ của người con trai, đặc biệt bản thân người con trai có sức khỏe, yêu lao động hay không, biết làm mọi việc để làm chủ gia đình sau này hay không. Nếu được phía lúng ta coi trọng và đồng ý thì sẽ được đến chơi nhà và sẽ tiếp tục các giai đoạn tiếp theo. Nếu không đáp ứng đủ hai điều kiện đó, phía lúng ta sẽ tìm cách nói khéo không để phát triển tiếp mối quan hệ giữa hai dòng họ.

Khi đôi trẻ đã tiến đến bước hôn nhân, lúng ta của cô gái tiếp tục làm tròn vai trò của mình trong các nghi thức của đám cưới. Đầu tiên là lễ chạm ngõ- tham pợ. Đây là giai đoạn nhà trai lần đầu tiên tiếp xúc với nhà gái (ra mắt nhà gái). Lễ vật bao gồm trầu, cau, bánh kẹo, thuốc do bà mờ- bà/ông mối mang đến, được họ nhà gái tiếp đón (nhất thiết phải có mặt của người anh/em trai của mẹ vợ tương lai). Sau khi gặp gỡ một vài ngày, lúng ta của cô gái sẽ bàn bạc, nếu đồng ý sẽ không trả lại quà và ngầm thông báo cho nhà trai tiếp tục tiến hành các bước tiếp theo. Tiếp đó là lkhắt cằm kin nọi- khắt cằm kin luông. Theo truyền thống của người Thái đen, hai lễ này được tách thành hai lễ riêng và cách nhau từ 2 đến 3 tháng. Nhà trai chuẩn bị lễ vật gồm 6 con gà, 6 ống cá sấy (bảng háp), thịt lợn... cùng bà mối đến nhà cô gái để xin ý kiến chính thức được đi lại với nhà gái. Nhà gái sẽ mời anh em trong họ (gồm anh em bên bố đẻ và mẹ đẻ của cô gái) đến chứng kiến việc con gái mình đã có nơi có chốn. Lễ vật của nhà trai mang đến sẽ được chia đôi, một phần đặt ở bàn thờ họ ngoại nhà cô gái- hươn sơ (Người Thái đen có phong tục sau khi đi lấy chồng, nếu bố mẹ đẻ của con dâu đã qua đời, gia đình nhà chồng phải lập một bàn thờ riêng thờ bố mẹ đẻ của con dâu. Bàn thờ hươn sơ được làm bằng tre, có mái gianh, xung quanh có phên nứa, dưới là một sàn tre cách mặt đất khoảng một mét, được dựng bên cạnh bàn thờ Thổ công, trong góc vườn hoặc khu đất dưới gầm nhà sàn); một phần đặt ở bàn thờ tổ tiên- colo hóng ở trên nhà sàn.

Trong lễ khắt cm kin nọi, hai bên gia đình nhà trai và nhà gái sẽ thống nhất lễ vật mà nhà trai cần mang đến, nếu lúng ta đồng ý thì sẽ quyết định người con trai được ngủ quản. Đây là thời gian thử thách với chàng rể tương lai. Sau lễ này, người con trai sẽ sang ở rể nhà cô gái, thời gian từ 1 đến 3 năm và anh ta được bố trí ngủ ở bên quản (phần từ giữa nhà đổ về phía lan can đầu hồi bên tay trái, phía dành cho nam giới). Chàng trai sẽ ở lại nhà gái, tham gia vào đời sống kinh tế, sinh hoạt như một thành viên của gia đình nhà gái, không được phép chung chăn gối với cô gái.

Lễ khắt cm kin luông được thực hiện sau giai đoạn thử thách, nhà gái đồng ý chọn chàng trai là rể chính thức, sẽ thông báo cho con rể chuẩn bị tổ chức nghi lễ sú phả- tằng cẩu và lễ cưới chính thức- cm kin luông. Nhà trai chuẩn bị thịt lợn khoảng 30kg, gà 4 con (02 con gà còn sống và 02 con đã luộc chín); 8 con cá sấy gói, 8 con cá nướng, trầu cau 4 gói mang sang nhà gái và cũng được chia làm hai mâm cúng hươn sơ colo hóng như lễ khắt cm kin nọi. Trong  lễ này, nhà gái và nhà trai sẽ định ngày cưới cho đôi trẻ, cũng như ấn định số lễ vật mà nhà trai sẽ phải mang đến trong lễ cưới. Cũng theo quan niệm của người Thái, đến giai đoạn này, nếu vì một lý do nào đó, cô gái không lấy chàng trai thì họ nhà gái sẽ phải trả lại toàn bộ lễ vật (có thể quy ra trị giá bằng tiền mặt) cho nhà trai. Nếu chàng trai không lấy cô gái, họ nhà gái không phải trả lại lễ vật.

Khi sắp kết thúc thời gian ở rể, chàng trai trở về nhà của mình và chuẩn bị lễ vật để làm lễ cưới hay đón dâu- tỏn pựa.  Nhà trai phải mang sang nhà gái hàng tạ gạo nếp, thịt lợn, rượu 30- 40 lít; 10- 12 con gà  chia thành các cặp sống- mái,  bảng háp- những đôi giỏ tre đựng pa giảng- cá sấy khô hoặc cá nướng; trứng gà. Số lượng bảng háp sẽ phụ thuộc vào số lượng lúng ta (cụ thể là cô dì chú bác bên nhà gái vì mỗi người sẽ được tặng một đôi và bốn quả trứng gà trong giỏ). Tất cả những đồ lễ này sẽ được cho vào những chiếc giỏ đan bằng lạt xanh, đỏ và số lượng giỏ là số chẵn vì quan niệm đám cưới phải có đôi, có lứa. Ngoài ra trong đồ sính lễ không thể thiếu là đôi vòng tay bằng bạc: một vòng cho mẹ vợ- để tỏ lòng biết ơn công sinh thành và nuôi nấng vợ mình và một vòng cho cô dâu. Buổi chiều trước khi lễ cưới diễn ra, nhà trai phải chuẩn bị một mâm cơm, rượu, thịt cho bố mẹ của bà mẹ vợ (nếu còn sống)- gọi là chóng lanh lúng ta, nghĩa là đưa bữa tối, với ý nghĩa báo cáo trước về đám cưới với lúng ta. Đại diện lúng ta (ông cậu hoặc em trai của bà mẹ vợ) sẽ đến và khiêng cả mâm cơm về.

Trong nghi lễ đám cưới ở nhà gái, anh con rể phải đi chào, cúi lạy bố mẹ vợ và họ hàng nhà gái, thể hiện sự kính trọng và biết ơn bố mẹ vợ. Riêng với bố mẹ vợ phải phủ phục và cúi lạy bảy lần, mỗi lần 3 cái. Sau đám cưới, cuộc sống giữa hai vợ chồng càng mối quan hệ gắn bó với lúng ta. Với quan niệmYêu lúng ta, khà lụ măng/ Trăng lúng ta khà lụ yếu”- Tôn trọng, quý bên ngoại, con khỏe/ Ghét bên ngoại, con còi cọc. Khi có con, cha mẹ hoặc anh em họ nội đặt tên chính thức để gọi thường ngày. Sau một tháng, mời thầy một đến làm lễ cúng hồn một người đàn ông phía họ lúng ta đến đặt thêm tên mới và tên ấy gọi là tên một (chư một). Tên này chỉ dùng để cho một hoặc mo xướng trong các lễ cúng cầu hồn, cầu sức khỏe và tuổi thọ, không dùng để gọi trong ngày thường v.v. Người Thái rất coi trọng lúng ta, thậm chí họ còn coi lúng ta là trời riêng “lúng ta phạ bóm”. Người Thái ở Mường Lốc câu: Pi lung phạ/ nọng na then” (Anh vợ là trời; em vợ là then); Phép phay lưn phép phạ/ Phép nọng nạ lưn phép pi khươi (Phép lửa hơn phép trời/ Phép em vợ hơn phép anh rể); “Va vang xút chí xo vang/  Pha va vang lung ta chí xo vang pi nọng” (Nếu có bỏ màn thì xin bỏ chăn/ Nếu có phải bỏ lúng ta xin bỏ anh em của mình).

Ngày nay, hôn nhân của người Thái đen ở Mường Lò tỉnh Yên Bái còn lưu giữ nhiều yếu tố truyền thống. Các giai đoạn khác nhau của hôn nhân thể hiện rõ sự duy trì nét đặc trưng văn hóa Thái. Đó là loại hình văn hóa coi trọng thiên nhiên, sử dụng những sản vật thiên nhiên trong chuẩn bị lễ vật đám cưới (các món ăn từ cá suối); các mối quan hệ trong hôn nhân mang nặng những phong tục tập quán mang dấu ấn của chế độ mẫu hệ, tôn trọng họ ông cậu (lúng ta).  Vai trò của lúng ta trong các nghi thức khác nhau của hôn nhân tuy đôi lúc không xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn chi phối khá rõ đến các quyết định quan trọng của hôn nhân. Điều này càng làm rõ văn hóa truyền thống của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam nói chung và người Thái đen ở Mường Lò-Yên Bái nói riêng.

 

                                                                                               H.T.V.M

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter