• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Xên Đông- Lễ hội cúng rừng của người Thái ở Hạnh Sơn (Văn Chấn)
Ngày xuất bản: 17/05/2018 7:47:30 SA

Nguyễn Thị Tâm

Là cư dân nông nghiệp miền núi, việc bảo vệ, giữ rừng đầu nguồn, rừng thiêng đã trở thành lệ của bản mường người Thái nói chung và người Thái ở Hạnh Sơn (Văn Chấn) nói riêng. Từ đời này sang đời khác, đồng bào Thái ở Hạnh Sơn vẫn lưu truyền câu ca "Tai pá phăng, nhăng pá liệng", nghĩa là "Sống rừng nuôi, chết rừng chôn". Trong tâm thức của mỗi người dân nơi đây luôn nhận thức rất rõ tầm quan trọng của rừng đối với đời sống hàng ngày của họ. Rừng là nơi bảo vệ cho bản mường luôn mát lành, đem lại cuộc sống ấm no, mùa màng tươi tốt, cung cấp những nguồn nước sạch cho đồng bào, cung cấp cho con người bao sản vật quý, từ nhà ở đến sinh hoạt hàng ngày đều do rừng cung cấp, rừng đã góp phần nuôi sống con người và đến khi theo quy luật của tạo hóa, mỗi người qua đời, rừng lại đón về ấp ủ như vòng tay người mẹ. Vì vậy, việc bảo vệ rừng, đặc biệt là những khu rừng đầu nguồn là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người. Người Thái nơi đây vẫn luôn nhắc nhau và nhắc nhở con cháu rằng: "Giữ rừng cho muôn đời phát triển, để cho muôn mó nước tuôn trào". Đồng bào quan niệm, ai nhớ được câu ấy thì mới thành người. Mặt khác, theo chuyện kể của những người già ở Hạnh Sơn, ngày xưa, vùng đất Mường Lò còn rất hoang vu, núi rừng rậm rạp. Đời sống người dân cực khổ, làm lụng cật lực mà vẫn không đủ ăn. Họ chỉ biết trồng lúa ở ven suối, nhưng toàn bị sâu, bọ ăn hết cây lúa, rồi lại hạn hán, mất mùa quanh năm. Ngày đó, bởi quan niệm rừng chỉ có cây cối rậm rạp, là nơi ẩn nấp của các loài thú dữ nên đồng bào ít ai dám sống gần rừng. Bỗng một ngày có đôi vợ chồng trẻ từ phương Bắc tới khai phá những khu đất ven rừng để làm thành ruộng, thành nương. Thấy họ làm được, nhiều người cũng làm theo. Sau một vài năm, cuộc sống của người dân khấm khá hơn trước, không bị đói, bị rét như xưa kia mà giờ họ đã có nhà để trú mưa, ruộng nương ngày càng tươi tốt. Khi đôi vợ chồng đó chết đi thì bỗng nhiên đúng năm ấy, ruộng nương của dân làng bị sâu bọ ăn hết, cả làng đều mất mùa. Người dân cho rằng, do người khai phá ra chết đi nên những mảnh ruộng, mảnh nương cũng chết theo. Để cảm tạ công ơn người đã khai phá, nhân dân đã mang lễ vật, những của cải làm ra để cúng lễ cho đôi vợ chồng và dâng những lễ vật đó lên các thần thánh để cầu mong các thần phù hộ. Từ sau năm đó, ruộng nương bỗng trở lại tươi tốt, đời sống người dân no đủ. Kể từ đó trở đi, cứ vào ngày giỗ của đôi vợ chồng nọ (ngày 12 tháng Giêng âm lịch), đồng bào Thái Hạnh Sơn lại tổ chức lễ cúng tại khu rừng thiêng để cảm tạ công ơn của họ, cảm tạ thần rừng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Việc cúng lễ được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành lễ hội Xên Đông (Lễ hội cúng rừng) được tổ chức vào dịp xuân mới hàng năm.

Lễ hội cúng rừng của người Thái tỉnh Yên Bái (Ảnh: internet)

Lễ hội Xên Đông là một lễ hội lớn, mang tính tập thể, cộng đồng nên ngay từ trong năm, đồng bào Thái ở Hạnh Sơn đã tập trung chuẩn bị lễ vật, lều thờ, ban thờ, dọn dẹp nơi đặt lễ cúng cũng như chuẩn bị địa điểm, vật chất để lễ hội được tổ chức đầy đủ, ý nghĩa và trang trọng nhất.

Lễ vật chuẩn bị cho lễ cúng rừng Xên Đông gồm có: 01 con trâu; gà, vịt; gạo, rượu, hoa, quả; hương, vàng; bánh chưng, bánh giày; trứng gà, trứng vịt; giấy màu đỏ, xanh, vàng (mỗi màu thể hiện cho một ước mong của con người, màu đỏ tượng trưng cho sự sung túc, đủ đầy của cộng đồng; màu xanh tượng trưng cho sự bình an, may mắn; màu vàng tượng trưng cho sự thành công, vui vẻ…); 01 áo dài đen của chủ mường (hay còn gọi là Tạo- người có chức sắc lớn nhất trong mường, bản, ngày nay thường do ông Chủ tịch xã đảm nhiệm). Theo quan niệm của người Thái khi cúng Xên Đông, áo của Tạo sẽ là cầu nối giữa thế giới hiện tại (trần gian) với “mương phi” (tức là mường ma), nhằm kính báo với các “phi” về những gì cuộc sống dưới trần gian đang có, cầu mong “phi” phù hộ, che chở cho mọi người được khỏe mạnh, cây cối sinh sôi nảy nở, mùa màng tốt tươi, thóc lúa đầy bồ, gia súc không dịch bệnh. Lễ cúng được thực hiện bởi 2 thầy Mo (1 thầy Mo chính và 1 thầy Mo phụ). Thầy Mo chính mặc áo đỏ, có nhiệm vụ cúng thỉnh “mương Phi”, còn thầy Mo phụ mặc áo đen, phụ trách phần cúng cho thế giới hiện tại.

Lễ hội cúng rừng Xên Đông được chia làm 2 phần, phần lễ và phần hội. Ở phần lễ, trâu lễ được đưa về nhà Tạo, buộc dưới cột cái gầm sàn. Đến giờ tốt, thầy Mo dắt trâu ra bãi đất rộng ven bờ suối, hoặc bên dưới chân rừng thiêng để mổ. Trâu mổ xong, người ta lấy đủ 4 chân, đầu, nội tạng và tiết để làm lễ cúng. Nội tạng được thầy Mo phụ cùng những người giúp việc đem nướng tại gốc cây cổ thụ có ban thờ, sau đó chuẩn bị 3 mâm cơm gồm có nội tạng trâu, thịt lợn, gà, gạo, vàng hương, rượu... để làm lễ cúng cho thế giới hiện tại. Còn đầu trâu, chân trâu, hoa quả và hương được sắp lên ban thờ chính, đầu trâu được đặt chính giữa. Trước đó, dân bản đã làm một cái lều nhỏ tại gốc cây đa cổ thụ để làm ban thờ. Theo quan niệm của người Thái, gốc cây cổ thụ là nơi các vị thần, thánh thường xuyên lui tới nên lễ cúng Xên Đông thường được tổ chức tại đây. Ban thờ được làm ngay dưới gốc cây, lều thờ được dựng và trang trí chủ yếu bằng các vật liệu tranh, tre, nứa, lá và hoa giấy có màu xanh, đỏ.

Khi mọi việc đã chuẩn bị xong thì chủ mường (nay là Chủ tịch xã) tiến hành làm lễ Khai mạc. Trong lễ Khai mạc này, chủ mường sẽ cùng bà con ôn lại lịch sử truyền thống, mục đích, ý nghĩa của rừng cũng như lễ cúng rừng đối với đời sống cộng đồng nói riêng và con người nói chung. Ngoài việc nhắc nhở cộng đồng giữ gìn truyền thống nghi lễ, các tiết mục văn nghệ dân gian cũng được diễn trong buổi khai mạc long trọng này và được bà con các thôn bản nhiệt tình hưởng ứng, thể hiện.

Lễ Khai mạc kết thúc là đến giờ linh thiêng nhất mà từ xưa đến nay luôn được nhân dân coi trọng và chờ đợi. Tất cả mọi người đều hướng về khu rừng “pu loong” (tưc là đồi rồng), nơi có cây “co loong” (cây cổ thụ) để thực hiện nghi lễ cúng rừng. Lúc này, trước ban thờ gồm có hai thầy Mo, ngồi phía sau thầy Mo là Tạo bản, Tạo mường cùng người già và nhân dân trong bản. Thầy Mo sẽ thực hiện các nghi thức cúng tế theo nghi lễ của dân tộc. Trong bài cúng, thầy Mo kính báo với “phi” về cuộc sống hiện tại, những điều đã làm được, những điều chưa làm được; việc ma quỷ dữ làm hại con người và cầu mong “phi” phù hộ, che chở cuộc sống dân bản, trừ ác để nhân dân có cuộc sống an lành… Các thầy Mo sẽ lần lượt hỏi ý kiến các “phi” về những việc cần làm và không nên làm. Sau mỗi câu hỏi thầy Mo sẽ tung đồng xu để có câu trả lời, nếu các “phi” đồng ý thì hai đồng xu sẽ có một mặt sấp, một mặt ngửa; nếu các “phi” không đồng ý thì hai đồng xu sẽ là hai mặt giống nhau. Nếu 2 đồng xu đều bị hất tung xuống đất thì có nghĩa các “phi” cho rằng đó là điều sai phạm, không đồng ý nên rất tức giận. Khi đó, các thầy Mo và bà con dân bản phải xin và hỏi nguyên do bằng việc tiếp tục tung đồng xu, đến khi nào các “phi” đồng ý thì các nghi lễ cúng tế mới được tiếp tục. Buổi cúng lễ Xên Đông giống như một cuộc trao đổi, trò chuyện giữa thầy Mo và các “phi” thông qua bài cúng khấn thành khẩn của thầy Mo, mời các vị thần thánh xuống dự lễ cùng nhân dân: “Mơi mưa chảu phạ tẳng phạ tó/ Chảu phạ có dệt mương/ Có pên mương lo luông cả hak/ Bản Cại cáu chiềng lang/ Mơi sau ma kin/ Kin mết nhứa quai thấc lón quai căm/ Nhứa quai thấc lăm quai kiểng/ Mơi sau lông ma kin, kin mết lẹo/ Dệt xăng hở ly lảy/ Cạy xăng hở ly pên nờ/ Ăn hại nha hở hên/ Ăn khên nha hở hụ/ Ly pang tạo, hả pang chiêng/ Ly tênh dảo, hảo tênh hươn/ Liệng mu ma hở pè/ Liệng cáy củ cáy mè hở pên/ Liệng ngua pên ngua lai/ Liệng quai pè quai lai mè/ Púc khảu pên khảu/ Khảu na chiêm na mua chằn tênh dân/ Tô bổng bô hở cắt... Có nghĩa là: “Hôm nay ngày lành tháng tốt, dân bản làm mâm cỗ dâng tổ tiên, trời đất và các thánh thần để tỏ tấm lòng thành kính, tưởng nhớ tới công ơn khai mường mở bản, đào ruộng, trồng lúa cho nhân dân no đủ, bản làng yên vui. Mong các vị thánh thần về chứng giám và phù hộ cho dân bản trồng lúa lúa tốt, trồng cây sai quả, chăn nuôi không bị dịch bệnh, mọi người khỏe mạnh, bản làng bình an...”

Sau khi thầy Mo chính cúng xong thì thầy Mo phụ cúng cho thế giới hiện tại bắt đầu làm lễ. Nội dung bài cúng nói về những tâm ước, nguyện vọng của nhân dân đến các thần thánh, cảm tạ những vị thần đứng đầu của vùng đất, những người đã có công khai phá được những mảnh nương, mảnh ruộng nuôi sống con người, mong muốn sang năm mới, thần thánh sẽ giúp cho nhân dân có một cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc... Sau bài cúng này, cả thầy Mo và người dân đều thụ lộc bằng những chén rượu lễ được cho là thần thánh đã ban lộc cho con người. Tất cả vàng hương dâng lên thần thánh thì được người giúp việc hóa ngay tại ban thờ. Mâm cúng có đầu, chân, nội tạng trâu được đưa về nhà Tạo; đồ lễ gồm gà, rượu, vịt phần thầy Mo mang về. Mọi người dự lễ cùng về nhà Tạo ăn uống vui vẻ, múa xòe, hát khắp mừng xuân mới.

Trước đây, trong những ngày này người ta treo Ta Leo từ đầu bản đến cuối bản, nhằm mục đích thông báo cho những người làng khác kiêng không ai được vào bản, đồng thời cấm dân bản không được đặt chân lên rừng, lên rừng chặt cây, kiêng sử dụng đồ dùng dụng cụ sinh hoạt có nguồn gốc từ rừng. Sau 3 ngày dân bản mới được lên rừng chặt cây, lấy củi và người ngoài mới được vào bản. Người Thái nơi đây quan niệm, thần rừng đã phù hộ, che chở, mang lại những gì tốt đẹp nhất cho nhân dân suốt cả năm, đây chính là dịp để cho các vị thần nghỉ ngơi và hưởng thụ những báo đáp công ơn của con người. Đây cũng là dịp để đồng bào chúc mừng những thành quả đã đạt được sau một năm miệt mài lao động vất vả, con người cần được nghỉ ngơi và phải cảm tạ các thần thánh thì cuộc sống được ấm no, hạnh phúc. Ngày nay, tục lệ cắm Ta Leo ở đầu bản và cuối bản không còn nữa, chỉ có tục lệ cấm lên rừng chặt phá cây, lấy củi vẫn được giữ nguyên. Mỗi khi tổ chức lễ Xên Đông, tất cả người Thái từ già trẻ, trai gái ở các bản trong xã và các xã lân cận đều có thể tham dự. Bởi người Thái cho rằng có lộc thần thánh ban cho thì phải cùng hưởng thì năm mới sẽ có nhiều niềm vui, may mắn và hạnh phúc hơn...

Ngay sau khi các nghi lễ cúng tế kết thúc, tất cả bà con cùng hướng về nhà Tạo (ngày nay là sân ủy ban xã) để tổ chức phần hội. Các trò chơi dân gian lần lượt diễn ra như múa xòe, nhảy sạp, ném còn, tó mắc lẹ, kéo co, đẩy gậy... Khi những trò chơi kết thúc là lúc mọi người cùng nắm tay nhau để xòe, họ xòe mừng cho một năm đạt được nhiều thành quả tốt đẹp. Kết thúc các vòng xòe, người ta chia tay nhau về với gia đình, với bạn bè, làm những công việc ngày thường với niềm vui phấn khởi của một năm mới hứa hẹn nhiều thành công, để rồi mùa sau gặp lại, lại cùng nắm tay nhau xòe trong chén rượu nồng, xòe trong niềm vui được mùa và may mắn.

Là một nghi lễ truyền thống của tộc người Thái, lễ hội Xên Đông mang nhiều giá trị, ý nghĩa nhân văn không chỉ với cộng đồng tộc người mà còn với các cộng đồng xung quanh. Với những nét độc đáo riêng, Xên Đông phản ánh một tập quán xã hội có lịch sử lâu đời, phản ánh quá trình lịch sử, đặc điểm kinh tế, đặc điểm cư trú và một số yếu tố văn hoá, xã hội của tộc người rất rõ nét; là nghi lễ mang đậm dấu ấn tín ngưỡng văn minh nông nghiệp, tuy có quy mô nhỏ, ngắn gọn nhưng có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện đời sống của tộc người Thái từ xưa đến nay. Các nghi lễ trong lễ hội thể hiện quan niệm của cộng đồng về thế giới tâm linh, những đặc điểm tôn giáo- tín ngưỡng của tộc người, thể hiện các giá trị văn hóa văn nghệ của cộng đồng, những phong tục tập quán, tính giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, ý thức giữ gìn môi trường sống được cộng đồng duy trì qua nhiều thế hệ.  

Người Thái ở xã Hạnh Sơn nói riêng và người Thái huyện Văn Chấn nói chung có đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú và đa dạng. Mặc dù ngày nay đời sống của đồng bào còn gặp nhiều khó khăn, nhưng văn hóa dân gian, văn hóa truyền thống vẫn được bảo lưu, giữ gìn và phát huy, trong đó có lễ hội Xên Đông. Điều đó sẽ góp phần tích cực vào việc giữ gìn và phát huy các đặc trưng văn hóa truyền thống của tộc người Thái trong bức tranh văn hoá tổng thể của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

 

                                                                                                         N.T.T

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter