Nhà văn Hoàng Thế Sinh với tiểu thuyết "Cánh đồng Chum mùa hoa Ban"

Nguyễn Hiền Lương 

"Cánh đồng Chum mùa hoa Ban" tập sách thứ 18 và là tiểu thuyết thứ 8 của nhà văn Hoàng Thế Sinh, NXB Hội Nhà văn, quý I/2021 gồm 7 chương: Đường vào chiến dịch, Lính tò te đánh trận, Bẫy mìn Claymo, Cao điểm rỗng, Một mình và ác thú, Cờ Pa- thét Lào, Vỹ thanh. Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạnh, phản ánh cuộc chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào thời chống Mỹ.

Trong "Cánh đồng Chum mùa hoa Ban", các sự kiện, nhân vật hầu như đều có nguyên mẫu. Diễn biến sự kiện, hành động của nhân vật đều được phản ánh qua cái nhìn của nhân vật Hoàng, chiến sĩ điện báo, trực tiếp tham gia chiến dịch, cũng là hiện thân tác giả. Các nhân vật: Tiểu đoàn trưởng Tung, Tiểu đội trưởng Đán, chiến sĩ Chước, Lập, Thắng, Bình, Qui, Đức, Phú, Minh, Cảnh, Thanh, Thành, Lai... đều là những người bạn cùng học, cùng quê, hoặc đồng đội thân thiết của Hoàng. Nên có thể xem "Cánh đồng Chum mùa hoa Ban" mang tính tự truyện. 5 trận đánh được phản ánh trong tác phẩm: Trận đánh đồn Phu Tâng, trận đánh đồn Sảm Thông, trận đánh cao điểm 1978, trận đánh đồn Tà Can, trận đánh cứ điểm Nam Tra, là một phần trong chiến dịch phòng ngự Cánh đồng Chum- Xiêng khoảng năm 1972 nhằm bảo vệ vùng giải phóng Cách đồng Chum của liên quân Việt- Lào. Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh đồng Chum- Xiêng Khoảng chẳng những góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975); cổ vũ mạnh mẽ và tạo điều kiện cho quân và dân Lào liên tiếp nổi dậy, giành chính quyền trong cả nước và thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào vào ngày 2/12/1975 mà còn làm phong phú thêm lý luận tác chiến chiến dịch phòng ngự và là bước phát triển về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. 

Bìa tập Tiểu thuyết Cánh đồng Chum mùa hoa Ban

 

Với sự am hiểu thực tế chiến trường và là người trong cuộc, nhà văn đã tái hiện khá chi tiết những đặc thù từng cứ điểm địch, tình huống tác chiến, diễn biến của từng trận đánh và luôn có sự gắn kết giữa hiện thực chiến đấu với cảm xúc, suy nghĩ của những người lính trẻ trước, trong và sau các trận đánh. Trận đánh đồn Phu Tâng, trận đầu tiên của những người lính trẻ, vừa hành quân tới chiến trường. Đêm trước giờ ra trận, Hoàng và đồng đội vừa hình dung về trận đánh, vừa nhớ về quê nhà, hình dung ra những người thân của mình. Chờ giờ G, Hoàng thì thầm đọc bài thơ "Đợi anh về" của nhà thơ Nga Simonov cho đồng đội nghe. Gần sáng, sau 2 tiếng nổ như sét đánh, giặc trên đồn gào thét náo loạn. Cuộc giao chiến bắt đầu, giặc gọi máy bay T28 đến thả bom vung vãi, pháo 37 của ta cũng bắn lên dữ dội. Quá trưa mặt trời như dội lửa, ta quyết định đánh cường tập. Từ 2 cửa mở quân ta dũng mãnh ào lên chiếm cứ điểm. Trận đánh đồn Sảm Thông, chờ giờ G, Hoàng và Xuân lại trò chuyện về sự sống chết, lý tưởng chiến đấu, danh dự một con người. Rồi Hoàng kể cho Xuân nghe về làng Bích Tràng, bên dòng sông Thi của mình. Gần sáng, sau 2 tiếng nổ rung trời chuyển đất, quân ta xé toang cửa mở phía Tây- Nam và Đông- Bắc. Nhưng địch trên cao điểm vừa bắn pháo sáng, vừa bắn súng máy ra cửa mở như mưa rào. Ta phải ém quân. Sáng hẳn, pháo, cối, ĐKZ của ta đồng loạt nã đạn vào đồn giặc. Bọn giặc rút chạy về phía Tây- Nam. Hoàng đang nằm sát cao điểm, thấy chúng sắp chạy thoát, không sợ nguy hiểm, anh nhảy hẳn lên mặt đất, bắt tín hiệu vô tuyến, bỏ cả mật mã, gào vào bộ đàm, yêu cầu pháo bắn ngay về cửa Tây- Nam. Không thấy pháo ta bắn, nhìn lũ giặc sắp chạy thoát, Hoàng uất quá gào lên. Bỗng từ phía cửa Tây- Nam vang lên cả tràng tiếng nổ kéo dài như pháo cối ngày tết. Thì ra ta đã chuẩn bị bãi mìn Claymor chờ sẵn. Xác giặc kéo dài theo khe núi. Lòng khe máu đọng thành vũng lớn. Trận đánh cao điểm 1978, chờ giờ G, Hoàng lại đọc cho Công, Toàn, Miền, Minh nghe bài thơ "Cuộc chia ly màu đỏ" của Nguyễn Mỹ. Đang đọc thì cối giặc bắn làm ngắt quãng. Giặc dừng bắn, Hoàng lại đọc tiếp. Nửa đêm, 2 tiếng nổ, ánh chớp sáng rực cả cao điểm. Quân ta vẫn ém quân giữ chặt 2 cửa mở. Sáng hẳn, pháo ta bắt đầu nã vào cao điểm. Pháo dừng bắn, quân ta từ mũi đột phía Đông và phía Tây ào lên như gió cuốn. Nhưng cao điểm trống rỗng, không một bóng giặc. Bọn chúng hoảng sợ đã bỏ cao điểm tẩu thoát theo các đường hào rẻ quạt xuống chân núi từ lúc nào. Trận đánh đồn Tà Can, Hoàng và Xuân được Tiểu đoàn trưởng Tung cử theo Đại đội 2. Trên đường hành quân tiếp cận cứ điểm, B52 đánh bom tọa độ, nhiều chiến sĩ hy sinh. Nửa đêm, quân ta mới lên được lưng chừng núi. Được lệnh dừng lại đào hầm, Hoàng và Xuân đào chung một hầm. Song, vì trời quá mù, khó quan sát được cứ điểm địch, tiểu đoàn trưởng lệnh cho Hoàng lên tuyến ép, sát đồn giặc để quan sát hỏa lực địch được rõ hơn. Giờ G, sau 2 tiếng nổ lớn, ta mở được 2 cửa nhưng giặc ở Tà Can cảnh giác và ngoan cố, chúng lại có lợi thế độ cao nên chống trả quyết liệt. Quân ta vẫn ào lên 2 cửa mở. Những làn đạn AK, trung liên của ta ríu vào làn đạn súng máy và AR 15 của giặc, cùng với tiếng hô xung phong ầm vang núi rừng. Quân giặc vón lại ở từng khúc chiến hào, liền bị AK quét đổ hàng loạt. Khoảng nửa giờ, quân ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Tà Can. Trận đánh cứ điểm Nam Tra, vị trí cuối cùng bảo vệ Long Chẹng nên địch quyết giữ bằng mọi giá. Cả 5 mỏm núi Nam Tra đều được chúng bố trí hàng rào dây thép gai và hỏa lực dày đặc. Khi tiếp cận trận địa, sườn núi dốc, lại trơn trượt, quân ta phải bám vào cây, dò từng bước lên cao điểm. Giờ G, cả 5 mỏm Nam Tra đều bị bộc phá ta phá tung. Quân ta cũng đã ém sát hàng rào dây thép gai. Giặc trên đồn la hét, bắn pháo, cối như vãi đạn. Pháo ta cũng khai hỏa, dìm đầu địch. Ta ngừng thì pháo địch lại bắn. Cứ thế pháo qua, pháo lại. Gần trưa máy bay địch ào đến chi viện. Pháo cao xạ của ta từ Cánh đồng Chum và từ các đỉnh núi bên cạnh đồng loạt khai hỏa. Hai chiếc T28 của địch trúng đạn, bốc cháy như hai chiếc thuyền lửa. Rồi pháo, cối của ta giã một trận dài xuống Nam Tra. Vừa ngớt tiếng pháo, bộ binh từ các hướng đồng loạt xung phong lên cao điểm. Cùng đường, giặc nhảy khỏi chiến hào, liều lĩnh xả đạn AR 15 như mưa. Bất thần xe tăng T34 của ta xuất hiện, tấn công, áp đảo quân giặc. Đức hướng AK vào thẳng đám giặc nhưng chưa kịp bóp cò thì một loạt đạn AR 15 từ đâu quét ngang xối xả. Anh chỉ kịp thều thào gọi mẹ rồi tắt thở. Bình gầm lên đau đớn, tì khẩu B41 vào ụ đất trên bãi trống nhằm thẳng lũ giặc siết cò trả thù cho Đức. Bỗng Bình thấy đùi mình nhói buốt. Biết đã bị thương nhưng Bình vẫn mím môi nén đau nhìn đồng đội đang tràn lên, lá cờ Pa thét Lào phấp phới tung bay trên cả 5 ngọn núi Nam Tra.

Đọc xong tiểu thuyết, đọng lại nhiều nhất là chân dung người lính trẻ và sự khốc liệt của chiến tranh. Những người lính hồn nhiên, tinh nghịch, tếu táo, đúng với tuổi trẻ và chất lính, song cũng đầy trách nhiệm và sự kiêu hãnh. Đứng trên đỉnh Trường Sơn, Hoàng nghĩ: "Bây giờ ta đang đứng trên đỉnh Trường Sơn. Trường Sơn cao vời, Trường Sơn hiên ngang, Trường Sơn máu lửa, Trường Sơn huyền thoại. Ờ, Trường Sơn đang ở dưới bàn chân ta của tuổi trẻ lên đường ra trận, mà không có gì cản nổi khát vọng chiến đấu và chiến thắng". Họ làm sinh nhật tập thể tuổi 20 ở mặt trận bằng nồi chè lương khô nấu với hạt dẻ rừng; rồi cùng hát "Vì nhân dân quên mình", cùng hô vang: "Tuổi hai mươi trai tráng, dũng cảm và quyết thắng". Đón giao thừa 1972, bằng các bài ca "Tiến bước dưới quân kỳ", "Tình ca Tây Bắc", "Bài ca hy vọng", "Hương thầm", "Tình yêu bên dòng sông quan họ", "Hà Nội, niềm tin và hy vọng",  "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây"; chăm chú nghe thư chúc tết của Bác Tôn. Phú hí húi thơ về cái Tết đầu tiên ở chiến trường: Đồng đội quây quần bên đống lửa/ Bên chiếc đài bán dẫn/ Một vòm hang sáng rực trên cao/ Ngồi bên ta- những con người giản dị/ Như cây cỏ hiền lành, như đất đai bền chặt/ Ánh mắt và trái tim rạo rực/ Cùng đón mùa xuân giữa cánh đồng Chum.../ Sức sống mới sẽ đưa ta vào trận/ Đánh thắng quân thù cho mãi mãi mùa Xuân. Xây dựng hình ảnh người lính, nhà văn không chỉ miêu tả hành động chiến đấu quả cảm mà còn phản ánh đời sống tinh thần, tình cảm của những người lính trẻ lần đầu ra trận. Đó là nỗi nhớ quê hương, mái trường, gia đình, bạn bè; đó là tình đồng đội; tình quân dân với nhân dân Lào; đó là những khát vọng tình yêu tuổi trẻ, ham thích làm thơ, đọc thơ, ca hát... Tất cả những điều ấy đã làm nên gương mặt tinh thần những người lính trẻ trong chiến tranh cũng là sự khẳng định, chiến tranh không thể hủy diệt được tâm hồn, tình yêu của người lính.

Viết về chiến tranh, nhà văn Hoàng Thế Sinh không né tránh sự khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh; không né tránh những hy sinh mất mát. Trên đường hành quân vào mặt trận, nhiều chiến sĩ đã hy sinh vì sốt rét; tiếp cận đồn Phu Tâng, qua rừng thông, địch bắn pháo chụp như mưa đá, vì không có hầm hào trú ẩn nên nhiều chiến sĩ bị trúng mảnh pháo vỡ đầu, cụt tay, xẻ vai, nát chân, toạc lưng, vỡ bụng. Tiểu đội trưởng Đán bị đạn pháo xé nát đầu và vai; liên lạc Quy bị mảnh đạn lạc rơi trúng đầu, hy sinh khi chưa vào trận chiến. Rồi cảnh nghĩa trang quân tình nguyện Việt Nam bị trúng bom. Thi hài các chiến sĩ đã được chôn cất lại bị bom địch giết thêm lần nữa. Các chiến sĩ tìm nhặt từng mảnh thi thể đồng đội vương vãi khắp nơi. Mấy chục thi hài mà chỉ còn được một túi ni lông xương đầu, xương tay, xương chân, xương sườn lẫn lộn. Mới chỉ qua 5 trận đánh, những người bạn thân thiết của Hoàng: Quy, Lập, Chước, Thắng, Đức lần lượt hy sinh; Hoàng, Bình cũng bị thương nặng. Chiến tranh không chỉ giết chết bao tuổi hai mươi đầy khát vọng, nó còn hủy diệt mọi sự sống. Cả rừng ban đang trổ hoa cũng bị bom đạn làm tan nát... Nhà văn cũng không né tránh nỗi đau xót của người lính khi chứng kiến sự hy sinh của đồng đội: "Hoàng không sao đứng dậy được, cứ bò quanh các gốc thông, hai bàn tay rờ rẫm lên thân thể đồng đội, bàn tay nóng bỏng máu tươi, nước mắt giàn giụa, ngực nghẹn ứ đau đớn, miệng mếu máo", "Hoàng hực lên, ngực như bị lưỡi lê đâm đau nhói; khi nhìn thấy anh Đán đầu và vai bị đạn pháo chém nát, máu nhuộm đỏ thân", "Hoàng bật khóc hu hu, nghẹn ngào: Qui ơi, Qui ơi, sao chết nhanh thế?". Đối mặt với sự khốc liệt của chiến tranh, đau đớn khi đồng đội ra đi, nhưng người lính không run sợ, hèn nhát, bỏ ngũ. Trong trận đánh Phu Tâng, nhìn đồng đội hy sinh, lòng căm thù khiến Bình bắn liên tiếp tới 9 quả B41, bắn tung chiến hào địch, bắn tung hầm địch, bắn tung hàng rào dây thép gai có bọn giặc chui lủi chạy trốn, mặc cho sức ép khiến tai anh rỉ máu. Trong trận đánh Tà Can, một mình Hoàng ôm chiếc máy vô tuyến nóng rẫy trong chiếc hầm nhỏ chật, ngay sát hàng rào dây thép gai. Bom, đạn nổ ngay trên đầu, cái chết cận kề. Ngó ra, thấy từ hầm tới bìa rừng chỉ bò mất chừng một phút. Một phút là thoát chết. Nhưng chợt lóe lên trong đầu Hoàng ý nghĩ: "Nếu trở về thì sao? Có dám nhìn thẳng vào đôi mắt đen thẳm của thủ trưởng Tung không? Có dám nhìn thẳng vào đôi mắt rực lửa của đồng đội không? Có dám nhìn thẳng vào đôi mắt trong sáng của Mây không? Không! Không thể như thế được. Không thể là thằng hèn. Không thể bỏ chạy. Danh dự một con người đâu phải chuyện thường”. Hoàng thì thầm gọi: “Mẹ ơi! Vĩnh biệt mẹ. Vĩnh biệt các bạn chiến đấu. Mây ơi! Vĩnh biệt Mây". Rồi Hoàng ngó hẳn đầu lên quan sát, ghi nhớ phương hướng và các loại hỏa lực của địch, phát tín hiệu liên lạc, báo cáo tình hình hỏa lực địch cho chỉ huy. Điện báo xong, Hoàng ôm chặt chiếc máy vô tuyến, lòng rộn nên niềm vui vì đã hoàn thành nhiệm vụ, đã giữ trọn danh dự một con người. Tay Hoàng bỗng sờ xuống trái lựu đạn, rờ lên khẩu AK, lóe lên trong đầu Hoàng ý nghĩ: Nếu bọn giặc tới, Hoàng sẽ đánh chúng bằng cả 2 băng đạn và 1 trái lựu đạn, còn 1 trái Hoàng sẽ dành cho mình.

Viết về cuộc chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam trên đất Lào, không thể không nhắc tới tình cảm Việt - Lào. Những người lính tình nguyện Việt Nam coi sự chiến đấu, hy sinh vì sự bình yên của đất nước Lào, vì hạnh phúc của người dân Lào như của chính mình. Nhân dân các bộ tộc Lào cũng thương yêu bộ đội Việt Nam như người ruột thịt. Mẹ Bun May ở bản Son, có chồng và con trai đều là bộ đội Pa thét đã hy sinh. Mẹ về ở với quân tình nguyện Việt Nam, chăm sóc, dạy tiếng Lào, dạy múa lăm vông cho bộ đội Việt Nam. Các mẹ Lào ở bản Ban, thân hình gầy guộc, tóc bạc, váy áo vá, vẫn ôm quả bí ngô to cho bộ đội Việt Nam. Bộ đội thương mẹ cũng nghèo, cũng đói, không nhận, thì mẹ bảo: "Các mẹ Lào thương quí bộ đội Việt Nam lắm. Các mẹ cũng như cũng như các mẹ bên Việt Nam thôi. Con cứ cầm quả bí đi, gọi là chút quà của mẹ thôi mà. Không cầm là mẹ tủi lắm". Cảnh, Thành bị lạc trong rừng, gặp 2 mẹ con người phụ nữ Lào, biết bộ đội Thành đói, chị lấy nắm cơm duy nhất trong gùi đưa cho, rỗi dẫn đường ra khỏi rừng. Minh bị cảm, mẹ Bun May lên rừng hái lá thuốc, em Bun La nấu cháo; Bí thư Chi đoàn Bua Xa Ly vừa đưa tay xoa ngực Minh vừa hát bài dân ca Lào "Ô đuông Chăm Pa". Bộ đội Việt Nam cùng các cô gái Lào nắm tay nhau nối thành vòng tròn vừa múa vừa hát. Bộ đội khắp cọi, tiếng khắp "Trong mát như nước máng lần chảy từ núi Ngàng về bản, như lửa cháy rừng rực bếp nhà sàn, lúc vi vút tiếng gió, khi rì rào lá reo, lúc ào ào thác đổ, khi lác đác mưa rơi, như có tiếng chim sơn ca ríu rít ban mai", hòa cùng tiếng hát dân ca Lào ngọt ngào, êm ái, lời hát như có nắng sớm mai, như chim hót, như gió thoảng lá rừng, như có hoa nở, hương thơm… Những chi tiết này vừa thể hiện sâu sắc tình cảm gắn bó của nhân dân Lào với quân tình nguyện Việt Nam, vừa thể hiện 2 dân tộc Việt- Lào rất gần gũi về đời sống văn hóa. Đó chính là nền tảng của tình hữu nghị Việt- Lào đời đời bền vững, mãi mãi xanh tươi.

 Trong "Cánh đồng Chum mùa hoa ban", có nhiều trường đoạn giàu chất trữ tình. Đoạn Hoàng nhớ về làng Bích Tràng của mình: “Nhà Hoàng ở ngay bến sông Thi, nơi có ngôi Chùa Cỏ…nơi in dấu vết cái bến đò ngang còn xôn xao sóng nước”.  Đoạn tả đêm trăng rừng Lào: "Bầu trời cao thăm thẳm. Mặt trăng còn hơi khuyết nhưng sáng trong, cứ bay bay giữa muôn vì sao lấp lánh...". Đoạn hồi tưởng của Hoàng về đêm mùa xuân Phố Ràng: "Đêm mùa Xuân trong sáng, bầu trời cao thăm thẳm, vầng trăng như chiếc đĩa bạc khổng lồ... Mây rủ Hoàng lên đồi Ban. Mùa xuân hoa Ban nở trắng sườn đồi. Mây bảo ngắm hoa Ban qua ánh trăng mới thấy hoa Ban lung linh chẳng kém gì những vì sao trên trời". Đoạn miêu tả cảm xúc của Hoàng khi nhìn rừng Ban bị tàn phá: "Ôi! Cánh rừng Ban mênh mông trắng ngần! Hoàng ngơ ngẩn nhìn một nửa rừng Ban bị pháo bắn tan nát cây cành. Những chiếc lá hình trái tim rách tướp, những chiếc lá hình trái tim cháy quăn đen nhẻm... Những cánh hoa Ban màu hồng nhạt bị chém tơi tả khắp mặt đất như máu ứa. Ôm chặt khẩu AK, lặng đi hồi lâu, Hoàng lẩm nhẩm: Ôi chiến tranh, người là con quỷ dữ. Ngươi đã giết chết những người bạn của ta tràn trề nhựa sống đương hai mươi tuổi. Ngươi đã giết chết những ước mơ cao đẹp của bạn ta đương hai mươi tuổi. Ngươi đã giết chết những cây Ban có chiếc lá hình trái tim như trái tim bạn ta đương hai mươi tuổi. Ngươi đã giết chết những bông hoa Ban trắng ngần như tình yêu của bạn ta đương hai mươi tuổi. Nhưng không phải thế đâu, hỡi con quỷ chiến tranh! Hy sinh vì nghĩa lớn bạn ta mãi mãi trẻ trung cùng đất nước. Cây Ban lại mọc lên xanh biếc lá hình trái tim. Hoa Ban lại nở trắng ngần giữa mùa xuân bình yên". Suy nghĩ ấy của Hoàng chính là tuyên ngôn của những người lính về chiến tranh và khát vọng hòa bình.

Cuối cùng, điều tôi muốn nói: Viết về cánh đồng Chum trong chiến tranh nhưng tác giả lại đặt tên tác phẩm gắn với hoa Ban, loài hoa dân dã nhưng có sức sống mãnh liệt. Điều ấy thể hiện ý tưởng: sự khốc liệt của chiến tranh không thể giết chết cảm xúc, tình yêu, cái đẹp và sự lãng mạn. Đó cũng là một nguồn sức mạnh của người lính, chiến thắng mọi kẻ thù. Trong truyện ngắn "Mảnh trăng cuối rừng", nhà văn Nguyễn Minh Châu gọi đó là "sợi chỉ xanh óng ánh", bom đạn, thời gian không thể làm đứt nổi. Tôi nghĩ, đó cũng là một điểm nhấn của chủ đề tiểu thuyết "Cánh đồng Chum mùa hoa Ban".

                                                                 

                                                                                                     N.H.L

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Các tin khác:

1-5 of 18<  1  2  3  4  >

Văn nghệ Yên Bái

Văn nghệ Yên Bái vùng cao

Thư viện Video

cuộc thi Văn học nghệ thuật

Giá sách văn nghệ

Lượt view

Visitor Counter