Thành công trong tiểu thuyết cánh cung đỏ của nhà văn Hà Lâm Kỳ

NGỌC BÁI

 

Thành công lớn nhất của nhà văn Hà Lâm Kỳ là sự công phu dựng lại những nhân vật có thật ngoài đời, những chiến sĩ cách mạng một thời hoạt động trên đất Yên Bái. Đó là các ông Hoàng Quốc Việt, Ngô Minh Loan, Trần Đức Sắc, Trần Huy Liệu, Đào Đình Bảng, Trần Quý Kiên, Hoàng Mẫn Tuệ, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Phúc, Nguyễn Quang Trạch, Trần Quang Bình, Nguyễn Đức Quỳ, Nguyễn Duy Thân, Mai Văn Ty, Đào Duy Kỳ… những cán bộ Việt Minh đầu tiên xuất hiện trên đất Yên Bái.  Đặc biệt những chức sắc của chế độ cũ như Chánh tổng Trần Đình Khánh (đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I), Đặng Bá Lâu, Hoàng Văn Cừ, Sa Văn Bút được cách mạng giác ngộ, đã có nhiều cống hiến lớn lao cho đất nước. Tiếp sau là lớp người trẻ trung nhiệt huyết, tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai, với sự thành tâm sâu sắc như Đào Tiến Lộc, Bùi Đức Lạc, Nguyễn Đăng Long, Hoàng Minh Lưu, Hà Thị Thuần, Hoàng Đình Lợi, Bùi Đức Lương.... Người thật đã thành người mẫu trong tiểu thuyết. Ấy là chưa kể tới nhiều tên người trong cộng đồng các dân tộc ở Yên Bái tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến. Những nhân vật phải khoác tên bí mật, tiện lợi cho hoạt động che mắt bọn mật thám, bọn phản động. Những địa danh quen thuộc được tác giả đưa vào tiểu thuyết minh chứng cho các sự kiện đã từng xảy ra trên đất Yên Bái. Phải nói các nhân vật được tác giả tái hiện có nhiều nét chung mang đặc điểm của thời kỳ những năm đầu cách mạng, trên mảnh đất Yên Bái...

Bằng 2 tập, tiểu thuyết Cánh cung đỏ, theo tuyến tính có thể thấy rõ nhà văn Hà Lâm Kỳ đã xây dựng tác phẩm, từ thời nhen nhóm ngọn lửa cách mạng, khơi dậy tinh thần yêu nước, đoàn kết các dân tộc theo Việt Minh, cho tới thời kỳ cách mạng thành công, với biết bao cam go thử thách mà những chiến sĩ cách mạng trải qua. Đó là nơi từng có dấu chân của nghĩa quân Nguyễn Quang Bích, thời Cần Vương chống thực dân Pháp. Nhắc tới điều này để thấy dụng ý của tác giả, làm nổi bật truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Bí quyết thắng lợi của cách mạng là khéo tuyên truyền vận động những người đã nung nấu tinh thần yêu nước, bất bình với thực dân phong kiến, đoàn kết các dân tộc cùng chống các thế lực phản động ngoại xâm. Xác lập niềm tin. Niềm tin chính là sự liên kết chắc chắn nhất. Điều quan trọng là trung thành với cách mạng, chịu khổ và trải qua nhiều gian nan nguy biến. Vận động và tổ chức hoạt động là việc sống còn của những người cách mạng. Những địa danh Nang Sa, Linh Thông, Bách Lẫm, Tuần Quán… trở nên quen thuộc, linh thiêng. Khắp dải đất từ Hiền Lương, Minh Quân, Giới Phiên đến Động Lâm, Lương Ca, Đại Lịch vào tới Văn Chấn, Nghĩa Lộ… vượt qua tai mắt của mật thám và đám người còn duyên nợ với chế độ cũ không dễ. Ấy vậy mà các chiến sĩ cách mạng đã thuyết phục được từ chánh tổng, lý trưởng, phó lý, kỳ hào ngả theo cách mạng. Tác giả đã phản ánh không khí sục sôi đấu tranh của người dân theo cách mạng.

Hà Lâm Kỳ đã công phu sưu tập tài liệu, dày công tra cứu và gặp nhiều nhân chứng, ghi chép, kiểm chứng, thu thập các tư liệu lịch sử. Công việc ấy đòi hỏi thời gian, cẩn trọng và sắp xếp khoa học. Cấu trúc tiểu thuyết theo “trục xương cá” sự việc đến đâu thì nhân vật xuất hiện đến đó. Khối lượng nhân vật nhiều nên tác giả không đủ điều kiện khắc họa sâu cá tính từng người. Có cảm giác tác giả không quên từng tên tuổi nhân vật, vì thế sự dàn trải là điều khó tránh. Chất anh hùng ca trong tiểu thuyết được nhấn mạnh. Lý giải sự nghiệp cách mạng là của nhân dân. Nhân vật điển hình là nhân dân. Số đông là sức mạnh. Không có nhân vật điển hình xuyên suốt tiểu thuyết. Có lẽ do phải tải quá nhiều nhân vật nên tác giả không xây dựng được nhân vật điển hình.

Phải có trí tưởng tượng phong phú, cân nhắc từng lời nói, cử chỉ của nhân vật, tạo các tình huống để nhân vật tung hoành trên các trang viết. Đây là các nhân vật lịch sử, nên viết sao cho trung thực khách quan, là yêu cầu lớn đặt ra với nhà văn. Những cuộc biểu tình, bãi công, đấu tranh đòi tăng lương, khởi sự từ hội ái hữu… đã liên kết những người dân lao động, mà vai trò tổ chức ngầm của Việt Minh là chủ yếu. Điều quan thiết là tác giả đã bám sát các sự kiện cách mạng xảy ra trên đất Yên Bái, làm tăng thêm tính thuyết phục với người đọc. Qua tác phẩm, người đọc hiểu hơn về các sự kiện xảy ra trên đất Yên Bái những năm đầu của cách mạng. Tác giả đã kể về những lần tù chính trị ở căng Nghĩa Lộ, tù chính trị ở Sơn La, được người dân giúp đỡ chỉ đường, đã giúp nhiều thanh niên dân tộc trở thành nòng cốt gây cơ sở cách mạng.

 Viết về lịch sử quê hương là thiện chí và mong muốn của tác giả, thể hiện  trong giọng văn tươi vui náo nức của Hà Lâm Kỳ: “Sáng đầu mùa hè, nắng trời tràn khắp thung lũng khu căn cứ làng Vần. Các cán bộ cốt cán các châu các phủ gần như có mặt. Nhà ông Trần Đình Khánh vẫn lặng lẽ xưa nay, giờ sôi động hẳn lên. Đội du kích võ trang Âu Cơ chia các trung đội luyện tập ngay cánh đồng Cây Gạo và cửa Hang Dơi... Một số canh gác đầu các trục đường đề phòng quân bảo an Nhật quấy rối. Các dõng binh của lý trưởng làng Vần cũng được bổ sung vào nhóm cảnh giới. Xã đoàn Hoàng Văn Các làm theo yêu cầu của ông chánh tổng, đã kịp đem mấy chục khẩu súng góp cho đội du kích ngay trước cuộc họp” (trang 120).

Rất dễ nhận thấy, trong tiểu thuyết Cánh cung đỏ, tác giả kể về hoạt động của nhân vật nhiều hơn, rất ít khắc họa tâm trạng nhân vật. Điều này nhà văn Hà Lâm Kỳ chắc chắn ý thức được. Có lẽ đấy vừa là sở trường vừa là sở đoản của nhà văn khi xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết.

Gắn bó với Yên Bái, viết về Yên Bái, nhà văn Hà Lâm Kỳ đã thành công trong một số tác phẩm viết cho thiếu nhi. Anh đã có công dựng hình tượng người anh hùng thiếu niên Hoàng Văn Thọ và quê hương Đại Lịch. Với Cánh cung đỏ Hà Lâm Kỳ đã có nhiều đóng góp cho đề tài truyền thống kháng chiến ở Yên Bái. Qua tác phẩm thấy được lao động nghệ thuật nghiêm túc của tác giả.

Điều người đọc còn cảm thấy tác giả xử lý chương cuối (tạm kết), hơi thừa thãi. Chẳng khác gì kịch đã đóng màn, lại có người ra thưa với khán giả điều quên chưa nói hết! Dẫu vậy, tiểu thuyết Cánh cung đỏ đã hoàn thành xứ mạng của mình, đóng góp xứng đáng cho kho tàng văn học Việt Nam thời hiện đại

 

N.B

Các tin khác:

Louvre - Bảo tàng nghệ thuật danh giá nhất thế giới

ĐỖ NGỌC DŨNG

Nằm bên hữu ngạn sông Seine ở Thủ đô Paris của nước Pháp, Louvre là một bảo tàng lớn nhất và nổi tiếng nhất trên thế giới, với khối kiến trúc tráng lệ và là nơi lưu trữ những kiệt tác, tinh hoa nghệ thuật vô giá của Pháp và thế giới. Nơi đây được chính thức mở cửa đón khách tham quan từ năm 1793.

ĐỖ NGỌC DŨNG

Nằm bên hữu ngạn sông Seine ở Thủ đô Paris của nước Pháp, Louvre là một bảo tàng lớn nhất và nổi tiếng nhất trên thế giới, với khối kiến trúc tráng lệ và là nơi lưu trữ những kiệt tác, tinh hoa nghệ thuật vô giá của Pháp và thế giới. Nơi đây được chính thức mở cửa đón khách tham quan từ năm 1793.

Là một họa sĩ, từ lâu cái tên bảo tàng Louvre tôi đã được nghe nhắc nhiều lần, cũng được biết sơ sơ qua màn ảnh nhỏ. Vì thế, chuyến Tây Âu lần này, là cơ hội để tôi được đặt chân đến địa chỉ văn hóa đặc biệt này.

Một ngày nghỉ tự do ở Thủ đô Paris, nhờ sự hỗ trợ của cán bộ sứ quán đặt vé qua mạng trước đó hai ngày, chúng tôi đã có mặt tại sân chính mang tên Hoàng đế Napoleon của bảo tàng, ngước nhìn xung quanh là ba tòa nhà dài tráng lệ với nhiều tượng và phù điêu được trạm trổ tinh xảo. Không may cho chúng tôi, lúc này trời bắt đầu mưa nặng hạt, nhưng cùng với dòng người kiên nhẫn xếp thành 4 hàng dài cả trăm mét, để vào bảo tàng qua 2 cửa của mô hình Kim tự tháp bằng kính.

Qua tìm hiểu được biết: Louvre đầu tiên được xây dựng như một pháo đài để bảo vệ thành phố khỏi những cuộc tấn công theo mệnh lệnh của hoàng đế Phillipe-Auguste. Trải qua nhiều biến cố của lịch sử xã hội Pháp, đến thế kỉ thứ 16, Louvre được trùng tu làm cung điện hoàng gia và sau đó vào năm 1793, nó được điều chỉnh và chính thức trở thành một bảo tàng nghệ thuật hàng đầu ở Paris. Louvre còn trải qua một cuộc đại trùng tu nữa ở giữa thế kỷ 19, để nó có diện mạo đẹp như ngày nay.

Louvre đúng như một cung điện đồ sộ với tổng diện tích là 210.000 m2, trong đó diện tích trưng bày là 60.600 m2. Cấu trúc độc đáo bao gồm 3 tổ hợp kiến trúc tinh xảo.

Louvre không chỉ độc đáo bởi các sưu tập hiện vật trưng bày mà còn độc đáo ở kiến trúc, điêu khắc, đặc biệt sự góp mặt của mô hình Kim Tự Tháp bằng kính (Pyramid) nằm ở chính giữa sân Napoléon của bảo tàng. Kim Tự Tháp bằng kính này do Kiến trúc sư nổi tiếng người Mỹ gốc Hoa Leoh Ming Pei thiết kế, bắt đầu xây dựng năm 1983 và hoàn thành vào năm 1989 (dưới thời Tổng Thống Francois Mitterand). Bao bọc xung quanh Kim tự tháp chính là bảy đài phun nước hình tam giác hướng lối vào cho khách tham quan xuống tiền sảnh dưới tầng hầm.

Qua Kim tự tháp bằng kính, ánh sáng chiếu xuống sáng rõ những phòng trưng bày phía dưới và ở mỗi cánh Kim tự tháp đều có cửa riêng dẫn khách.

Không gian nghệ thuật bên trong

Dù dưới thời đệ nhất đế chế Pháp, nhờ những cuộc chinh phạt của Napoleon, nhiều tác phẩm nghệ thuật và hiện vật khảo cổ có giá trị được chuyển về Louvre. Tuy nhiên sau thất bại của Napoleon trong trận Waterloo, nhiều cổ vật được trở về với những quốc gia chủ nhân của nó.

Bảo tàng Louvre hiện đang lưu giữ khoảng 380.000 hiện vật, trong đó tại hệ thống trưng bày chỉ trưng bày, giới thiệu khoảng 35000 tác phẩm chia thành 8 bộ sưu tập tương ứng với 8 phần trưng bày. Là những bộ sưu tập khổng lồ về hiện vật từ cổ xưa nhất của Ai Cập cổ đại đến thế giới hiện đại, nghệ thuật Hy Lạp, La Mã, nghệ thuật Hồi giáo, hội họa, điêu khắc tạo hình và trang trí… Ngoài 8 bộ sưu tập chính, Louvre còn một khu trưng bày lịch sử của chính cung điện và một bộ sưu tập nghệ thuật Châu Á, Phi, Mỹ và Châu Đại dương.

Khu vực phương Đông cổ đại; gồm 100.000 hiện vật của nền văn minh cổ thuộc các nước Trung Cận Đông từ 8000 năm trước Công nguyên cho đến thời kỳ Hồi giáo.

Khu vực Ai Cập cổ đại; gồm 50.000 hiện vật giới thiệu chứng tích về các nền văn minh nối tiếp hai bờ sông Nin, từ thời Tiền sử tới thời Cơ đốc giáo.

Khu vực Hy Lạp, La Mã và Etruria cổ đại; với 45.000 hiện vật, dành cho các tác phẩm của ba nền văn minh Hy Lạp, La Mã và Etruria.

Khu nghệ thuật Hồi giáo; với 10.000 hiện vật, bao gồm các hiện vật được lấy cảm hứng từ Hồi giáo, trải dài suốt 1300 năm lịch sử của ba châu lục.

Khu vực hội họa; gồm 11.900 hiện vật, giới thiệu tất cả các trường phái phương tây từ thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 19.

Khu vực điêu khắc; gồm 6.500 hiện vật là những tác phẩm thời Trung cổ, thời Phục hưng và hiện đại.

Khu vực nghệ thuật họa hình; gồm 137.479 hiện vật là những tác phẩm vẽ trên giấy, tranh phấn màu, tiểu họa, bản in, bản khắc, in thạch bản… và các chất liệu gỗ, da…

Khu vực nghệ thuật trang trí; gồm 20.704 hiện vật gồm các đồ vật của thời Trung cổ đến nửa đầu thế kỷ 19, hiện vật đa dạng, đồ trang sức, thảm đồng hồ, với nhiều chất liệu đồng, kim loại quý, ngà voi…

10 kiệt tác nghệ thuật nổi tiếng của bảo tàng

Louvre có hàng ngàn kiệt tác nghệ thuật vô giá nhưng hãy tạm chọn ra 10 tác phẩm tiêu biểu nổi tiếng nhất và có lẽ xếp theo thứ tự như sau:

1. Bức tranh “Mona Lisa” (hay còn gọi là La Giocondo) của đại Danh họa Leonardo da Vinci. Đây là một trong những bức chân dung nổi tiếng nhất thế giới, được vẽ bằng sơn dầu trên một tấm gỗ dương tại Florence vào thế kỷ 16, trong thời kì Phục hưng Italy.

Lịch sử bức tranh Mona Lisa được vẽ từ năm 1503 đến 1506 (thế kỷ 16), khi Leonardo da Vinci đang đi tìm người bảo trợ cho bức tranh. Tuy nhiên, Ông đã không vẽ xong bức tranh này nên không được trả tiền, và cuối cùng ông mang theo nó khi đến Pháp 10 năm sau đó. Bức tranh này được đưa vào bộ sưu tập của vua Francis I, người bảo trợ cuối cùng của Da Vinci và là một trong những tác phẩm nguyên bản được trưng bày ở bảo tàng Louve từ năm 1797 theo thông kê của bảo tàng, mỗi năm có hàng chục triệu du khách đến đây để chiêm ngưỡng bức tranh thần bí này.

Mấy chúng tôi đã mất khá nhiều thời gian, thậm chí còn bị lạc nhau khi mải mê xem những tác phẩm nguyên bản trưng bày trong bảo tàng. Đặc biệt là mãi mới tìm đến được nơi lưu giữ bức tranh này ở tầng 2 khu trưng bày. Cũng như mọi du khách chúng tôi cố gắng để có bức ảnh kỉ niệm trước bức tranh nổi tiếng này, mặc dù tất cả đều phải đứng cách bức tranh tầm trên 3m bởi một hàng rào đặc biệt.

2. Tượng thần chiến thắng "Nike of Samothrace" hay "Winged Victory". Đây là một tác phẩm điêu khắc Hy Lạp cổ bằng đá cẩm thạch, mô tả nữ thần Nike, vị thần tượng trưng cho chiến thắng. Bức tượng được nhà ngoại giao người Pháp Charles Champoiseau phát hiện năm 1863, tại đảo Samothrace, phía Đông Hy Lạp, trong tình trạng bị vỡ thành nhiều mảnh. Các mảnh vỡ được gửi về Paris, ghép lại và trưng bày ở bảo tàng Louvre. Mặc dù không còn nguyên vẹn nhưng Tượng thần chiến thắng Samothrace vẫn được xem như một trong những tác phẩm điêu khắc nổi tiếng bậc nhất.

3. Bức họa "Chiếc bè của chiến thuyền Méduse" (Le Radeau de la Méduse/ The Raft of the Medusa) của danh họa Théodore Géricault- một trong những người khai sáng ra chủ nghĩa lãng mạn trong hội hoạ. Đây là bức tranh làm bùng nổ một vụ scandal chấn động nước Pháp và cả thế giới những năm đầu thế kỷ 19. Bức tranh mô tả một nhóm người tuyệt vọng cùng cực trên một chiếc bè đang trôi nổi lênh đênh giữa biển khơi, đang vẫy gọi cầu cứu một con tàu xuất hiện nhỏ xíu ở tít đằng xa phía chân trời trong sự tuyệt vọng. Théodore Géricault vẽ bức họa này năm ông 27 tuổi. Phần máu trong tranh là kết quả tìm tòi không ngừng nghỉ của Géricault trong nhiều nhà xác.

4. Bức cẩm thạch "Psyche Revived by Cupid’s Kiss" (Psyche hồi sinh sau nụ hôn của Thần Ái tình). Tuyệt tác về tình yêu đích thực này được tạo ra vào năm 1787 bởi nhà điêu khắc tài hoa người Ý Antonio Canova theo trường phái Tân cổ điển. Trên một nền đá cẩm thạch, Canova dựng lại câu chuyện tình thần thoại của Thần Ái tình (kích thước xấp xỉ người thật) và nàng Psyche. Nữ thần Venus khiến Psyche bất tỉnh và ngủ vùi cho tới khi thần Cupid tới hôn lên môi Psyche. Sau đó nàng công chúa trần gian này uống một ly nước tiên và có thể sống bất tử với Cupid như những vị thần khác.

5. Bức họa "Death of Sardanapalus" (Cái chết của Sardanapalus) của Eugène Delacroix. Bức họa vẽ năm 1827 lấy đề tài từ vở kịch thơ “Sarnadapalus” của Byron. Vở kịch này lấy bối cảnh Assyria thời cổ với nhà vua anh hùng do đắm chìm trong một cuộc sống kiêu sa dâm dật, lại chuyên quyền tàn bạo. Sau đó vị vua này ra lệnh tiêu hủy toàn bộ tài sản của ông khi ông biết quân đội dưới quyền thất bại. Danh họa Delacroix chọn phần hay nhất của câu chuyện để vẽ - khi tất cả các thê thiếp và nàng hầu bị đem đi giết. Bức họa có đủ tính bạo lực, xa hoa quyền thế và gợi dục, núp dưới lớp vỏ "tranh lịch sử". Hiện bức tranh này được xem là tác phẩm đẹp nhất của viện bảo tàng mỹ thuật Louvre, hàng ngày nó hấp dẫn vô số người đến xem.

 

6. Tranh sơn dầu "Liberty Leading the People" của danh họa Eugène Delacroix, vẽ năm 1830. Cuộc cách mạng tháng 7 của dân chúng Paris đánh đuổi vua Charles X chính là điều thôi thúc Delacroix vẽ bức họa này. Ông đặt cô gái nửa lõa thể xinh đẹp vào vị trí nổi bật nhất của bức tranh, để cho nàng một tay đưa cao lá cờ tam sắc tượng trưng cho tự do, còn tay kia thì siết chặt khẩu súng có lưỡi lê tượng trưng cho cách mạng. Goethe từng ca ngợi Delacroix là người đã thực hiện “Sự hòa hợp một cách kỳ lạ giữa thiên đường và nhân gian”. Hình tượng của vị Nữ thần Tự do này làm say mê nhiều người nhất trong hội họa của nước Pháp. Nó đã cùng với Khải hoàn môn và tháp Eiffel trở thành tượng trưng cho nước Pháp và nền văn hóa Pháp.

7. Tranh "The Moneylender and His Wife" của danh họa Quentin Metsys, vẽ năm 1514. Quentin mô tả chính xác tới từng chi tiết mọi nét tính toán của người chồng tham lam làm nghề cho vay tiền và người vợ "cùng hội cùng thuyền". Người ta có thể thấy hai con ngươi mắt họ đếm từng đồng xu và cẩn thận ghi chú trọng lượng của chỗ vàng trên bàn.

8. Tượng thần Vệ Nữ, ra đời khoảng 130-100 trước Công Nguyên. Từ tượng điêu khắc Venus de Milo này mà người ta được biết những tượng điêu khắc bên trời Tây Âu đã dùng làm tiêu chuẩn để tạc đàn bà khỏa thân. Khuôn mặt thụ động trung dung, khác hẳn với đường cong mềm mại uyển chuyển của thân hình, điển hình khuôn mặt Hy lạp.

9. Bức họa nổi tiếng "The Coronation of Napoleon I and Coronation” của Josephine in the Cathedral of Notre-Dame de Paris on 2 December 1804" của Jacques-Louis David, vẽ năm 1806- 1807. Bức tranh vẽ về lễ Đăng quang của Napoleon, rộng 10m và cao 6m- là một trong những kỉ lục tuyệt vời trong lịch sử hội họa nước Pháp.

10. Tranh sơn dầu "La Grande Odalisque" của Jean Auguste Dominique Ingres, vẽ năm 1814. Bức tranh vẽ một vị cung phi với những chi tiết thon dài có chủ ý của họa sĩ. Nhiều người đương thời cho rằng họa sĩ Ingres đã miêu tả một nàng cung phi có hình thể thiếu tính hiện thực trong giải phẫu. Bức tranh đã gặp phải nhiều chỉ trích trong lần ra mắt đầu tiên.

Bảo tàng Louvre đã đi vào lịch sử như là một công trình kiến trúc độc đáo, một biểu tượng của nước Pháp. Và đã được du khách thế giới đánh giá là một trong những công trình kiến trúc có nhiều cái nhất:

- Là bảo tàng lớn nhất thế giới.

- Là cung điện của nhiều triều đại nhất.

- Là biểu tượng của sức mạnh và sự giàu có nhất.

- Là bảo tàng sở hữu nhiều bộ sưu tập khổng lồ, những kiệt tác vô giá nhất.

- Là bảo tàng được truy cập nhiều nhất thế giới (qua website).

- Là bảo tàng đón nhiều khách tham quan nhất thế giới.

- Là bảo tàng có kiến trúc độc đáo nhất.

- Là bảo tàng có kim tự tháp bằng kính độc đáo nhất.

- Là bảo tàng phát sáng nhất (nhờ sử dụng 3200 bóng đèn led kết hợp với sự phản chiếu từ 673 tấm kính của kim tự tháp kính).

Hàng năm Bảo tàng Louvre đón hàng chục triệu lượt khách du lịch từ khắp mọi nơi trên thế giới đến thưởng ngoạn.

Đ.N.D

 

16-20 of 68<  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  >

Văn nghệ Yên Bái

Văn nghệ Yên Bái vùng cao

Thư viện Video

cuộc thi Văn học nghệ thuật

YÊN BÁI CHUNG TAY PHONG CHỐNG DỊCH COVID-19

Giá sách văn nghệ

Lượt view

Visitor Counter