• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Đinh Hội và hương thơ đời thường
Ngày xuất bản: 12/05/2016 7:09:34 SA

            Hoàng Việt Quân

Tôi biết Đinh Hội hồi còn ở Nghĩa Lộ, nhưng hai bên chưa từng có dịp làm quen, vì tôi dạy ở trường sư phạm, ông lại là sếp: Trưởng phòng giáo dục huyện Văn Chấn. Rồi tôi ra Yên Bái trước, ông ra sau, đều về công tác ở trường cấp 3B  (nay là trường PTTH Lý Thường Kiệt, thành phố Yên Bái). Tôi vẫn chỉ là anh giáo dạy học thuần túy, còn ông lần này là sếp trực tiếp của tôi: Hiệu trưởng nhà trường, tiếp quản công việc quản lý trong lúc ông Phan Đài đau ốm, nghỉ dưỡng bệnh.

Tên khai sinh của ông là Đinh Văn Hội (tên gốc cũ là Hợi), có các bút danh:  Đinh Hội, Kim Phong. Sinh ngày 18/9/1935 ở làng Nam Dương, xã Hòa Nam, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Từ nhỏ ông học hành tại quê, năm 1956 đi học trường Trung cấp Sư phạm Trung ương.  Năm 1959 tình nguyện lên Tây Bắc, được gặp Bác Hồ với lời căn dặn: "Đã xung phong thì phải xung phong đến nơi đến chốn". Ông dạy học ở Thuận Châu, Phù Yên, tỉnh Sơn La (1959 – 1965), năm 1962 đưa hẳn vợ  và 3 con nhỏ dại lên ở, xác định lấy Tây Bắc là quê hương mới của gia đình. Rồi làm Trưởng phòng Bổ túc văn hóa Ty Giáo dục Nghĩa Lộ (1965 – 1972), Trưởng phòng Giáo dục huyện Văn Chấn (1972 – 1979), Hiệu trưởng trường cấp 3B thị xã Yên Bái (1980 – 1981), Hiệu phó trường Sư phạm bồi dường ở Âu  Lâu  (1981 – 1984). Ngày 1/ 7/ 1984 ông nghỉ hưu, cư trú tại tổ 29 khu dân cư phố Phúc Xuân, phường Nguyễn Phúc, Thành phố Yên Bái, gần bến Âu Lâu lịch sử. Ông từ trần lúc 20 giờ ngày 24/08/2014 (tức 29/7 âm lịch – Giáp Ngọ) tại nhà riêng, hưởng thọ 80 tuổi.

Đinh Hội (1935- 2014).

 

 Đinh Hội yêu thích thơ và sáng tác thơ từ thời còn học ở trường sư phạm. Ông sớm có bài thơ đầu tay "Bón đòng cho lúa" được đăng trên tuần báo "Văn" của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1958 với bút danh Kim Phong, thỉnh thoảng có viết đôi bài gửi đăng ở Nghĩa Lộ. Mãi sau ngày nghỉ hưu, ông mới hăng hái sáng tác, có thơ in thường xuyên ở Tạp chí "Văn nghệ Yên Bái" và được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Yên Bái (2003), là hội viên Hội thơ Đường luật Việt Nam (2007), Câu lạc bộ thơ Việt Nam. Từ đó ông như bừng tỉnh, nhận ra rằng mình có năng khiếu thơ, rằng một thời trai trẻ mình đã bỏ năng khiếu, bởi vậy ông hăm hở sáng tác như sự bù đắp với một kế hoạch khá rõ ràng: Mỗi năm ra một tập thơ, 5 năm sẽ ra một tuyển tập thơ, sau đó thì dừng bút, nhẩn nha vui sống nốt tuổi già. Cái kế hoạch vạch sẵn ấy thôi thúc ông sáng tác, xuất bản, đem lại kết quả thật đáng nể phục: ông in liền một mạch vượt chỉ tiêu được 9 tập thơ (trong đó có 1 tuyển tập thơ) như: Lâu đài mái cọ (2002) giải khuyến khích VHNT tỉnh Yên Bái năm 2003; Mùa nhãn đợi (2003) giải khuyến khích VHNT tỉnh Yên Bái năm 2004; Tình không cô đơn (2004) giải khuyến khích VHNT tỉnh Yên Bái năm 2005; Nhẹ như tiếng khèn (2005) giải khuyến khích VHNT tỉnh Yên Bái  năm 2006; Thao thức một vầng trăng (2006); Đường tím băng lăng (2007); Lao xao bến cũ (tuyển tập thơ, 2008) giải C của VHNT tỉnh Yên Bái năm 2008; Tiếng lặng (2011); Tiếng thời gian (2012).

Ông có bài thơ "Lời Bác khuyên năm ấy" được giải 3 cuộc thi thơ " Trăm năm trồng người" do Hội Cựu giáo chức Việt Nam tổ chức năm 2008.

 Mở đầu tập thơ đầu tay "Lâu đài mái cọ" (2003) và mở đầu tuyển tập thơ "Lao xao bến cũ" (2008) của ông, ta thấy ông đều in bài thơ "Sắc hương" như lời đề tựa, như tuyên ngôn và quan điểm về thơ, làm thơ của mình:

Hoa nở vườn nào cũng sắc hương

Bởi Người chăm chút, bởi Người thương

Bởi Hoa muốn mãi cho Đời đẹp

Bởi Đất màu tươi … một lẽ thường

Điều này được ông giải thích trong lời "Tự bạch"cuối tuyển tập thơ rằng:"Cuộc sống là mảnh đất màu mỡ cho hoa đua nở, cuộc sống phong phú của hôm nay và của cả ngày mai… Thơ là hoa của cuộc sống nhưng là thứ hoa hương. Cuộc sống nào đẹp đều có thể nở những đóa hoa thơm. Nhân dân là người chăm sóc cho hoa, nhưng bản thân hoa phải tự vươn lên thả sợi rễ non tơ vào cuộc sống, mở lòng những tấm lá uống nước mát của sương đêm… ". Thế là rõ ! Ông ví thơ giống như hoa mà đã là hoa thì không phân biệt đẳng cấp, sang hèn, hoa nở trên đất nào, "vườn nào cũng sắc hương". Hoa cần đất sống và Người chăm sóc, nhưng hoa cũng phải tự thân bám rễ trong đất, tích tụ tinh khí của đất trời để vươn lên nở hoa, dâng hương "cho Đời đẹp". Thơ cũng vậy, thơ luôn bắt rễ trong hiện thực đời sống nhân dân, là sự kết hợp hài hòa giữa Người chăm sóc và sự tự thân vươn lên để nở hoa, dâng hương, dâng mật ngọt cho đời.

Đọc cả 9 tập thơ của ông thấy rõ hương đời nhiều vẻ, bắt rễ từ nhiều nguồn trong cuộc sống đời thường, từ những con người đời thường của xã hội. Mới thoạt nhìn ông với nước da sạm nâu, vẻ ngoài hiền lành, khắc khổ, lù đù, nghễnh ngãng (ông hơi bị điếc), người ta dễ dàng cho rằng thơ ông chắc cũng hiền lành, dễ dãi, ngu ngơ như vậy, kiểu thơ "điếc không sợ súng". Đúng là thơ ông có hiền lành, không ác độc, không kiêu sa, cầu kỳ, không một chút tỏ ra thông minh sắc sảo, nhưng thơ ông đâu có "điếc", càng đọc càng thấy thơ ông giàu lòng nhân ái, thương người, thương thân, ẩn sâu trong đó là một trí tuệ thông minh, mẫn cảm, đánh động lương tri, bản ngã con người. Ông có kể: "Bạn bè tôi cho rằng tôi thiên về viết thơ tình. Điều đó đúng cả hai góc độ. Thơ tình và tình trong thơ " (Tự bạch). Lời thú  nhận đó có phần đúng xét trên góc độ số lượng các bài thơ tình và tình người trong thơ. Theo tôi thì thơ ông còn thuộc tạng thơ đa cảm, đa tình, đa sự, xét trên hầu hết các tập thơ, cả về số lượng và nội dung, đề tài. Tôi đã có bài phân tích, minh chứng vấn đề này trong thơ ông , nhưng do khuôn khổ Tạp chí có hạn nên không thể trình bày ở đây. Mong độc giả tìm đọc xem có thấy đúng như thế không? Từ đó mà ta thấy thơ ông  lan tỏa hương tình, hương đời dễ chịu, dịu ngọt.

Tôi rất tâm đắc với Nguyễn Đình Chiến khi gọi Đinh Hội là Ông già bến Âu Lâu – một bến sông thơ mộng ghi dấu bao lớp trầm tích lịch sử ở cửa ngõ đi vào Tây Bắc. Ông già bến Âu Lâu ấy đã đem cả tuổi trẻ của mình hiến dâng cho Tây Bắc, đem chữ, đem ánh sáng văn hóa góp phần thắp sáng cho vùng cao Tây Bắc rồi trở về neo đậu bên bến Âu Lâu, làm thơ. Ông ngồi đó, như tạc tuổi già vào tĩnh lặng vô biên vừa ngâm ngợi lẽ đời, tình người, vừa âm thầm "nhả hết tơ lòng để hóa thân " về với đất trời, cỏ cây…

                                                                                                                                Yên Bái, ngày Lễ tang và đưa tiễn Đinh Hội

                                                                                                                                                                25/8/2014

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter