• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Thế Sinh- Ngọn lửa xứ mưa
Ngày xuất bản: 12/05/2016 7:15:45 SA

 

Hoàng Thế Sinh hẳn đã ấp ủ một nghiệp văn từ sớm, có thể từ hồi còn lũn cũn theo mẹ ra đồng cạn, đồng sâu ở xứ Bích Tràng- Hưng Yên. Những cái viết đầu lòng có lẽ cũng đã manh nha từ hồi còn cầm súng chiến đấu ở chiến trường quốc tế Cánh Đồng Chum- Xiêng Khoảng (Lào), hoặc hồi còn cầm phấn trên bục giảng Sư phạm 10 3 Hoàng Liên Sơn… Nhưng tôi ngờ rằng những ký tự đầu tiên của cái tên Thế Sinh chỉ bắt đầu được gõ vào bộ nhớ làng văn hồi anh đi học Cao học văn Sư phạm, những năm 86- 88 của thế kỷ trước.

 

 

 

Hồi ấy, châu tuần quanh chiếu văn cao học có nhiều cây bút đã thành danh, những Trần Hoà Bình, Phạm Công Trứ, Văn Giá, Chu Văn Sơn, Châu Hồng Thuỷ, Hoàng Dân, Nguyễn Anh Tuấn, Triệu Hồng, Võ Sa Hà, Bùi Kim Anh, Nguyễn Hiền Lương, Nguyễn Ngọc Trìu, Nguyễn Phượng, Lê Tuấn Anh, Ngân Hoa… Kẻ làm thơ, kẻ viết văn, kẻ viết lý luận phê bình. Đó cũng là những ngày sôi sục đổi mới. Báo văn nghệ của Hội nhà văn đang là một ngọn cờ hấp dẫn. Vừa học, vừa đói, vừa viết với cơn phấn hứng ngây ngất của đổi mới, đám thạc sĩ kiêm văn sĩ như lên đồng khắp lượt. Suốt ngày hễ gặp nhau là thông tin, là chia sẻ, là bàn bạc về những dự định, đánh giá, những nhận xét về cây bút này, tác giả nọ, bài ký này truyện ngắn khác, tiểu luận ấy, phát ngôn kia… trên các báo, nhất là Văn Nghệ. Cứ sôi lên, tít mù cả lên. Không khí như trong nồi rang ngô cát vậy. Rất nhiều hạt ngô đã nổ xoè thành những hạt bỏng trắng xoá thơm lừng từ cái nồi rang hừng hực ấy.

Đầu đội mũ nồi kiểu Mông, mình vận bộ complet kiểu Pháp, chân dận giầy Côsưghin kiểu Nga, vai khoác túi thổ cẩm Tày- Thái mà bên trong lúc nào cũng có cuốn sổ tay hằn vệt mồ hôi ghi trăm thứ bà rằn và một con dao găm sắc lẻm kỷ niệm thời trận mạc giờ chủ yếu dùng để thái hành bóc tỏi, Thế Sinh nổi lên giữa đám văn bút ấy như một… hợp chủng quốc tự thân. Anh thường cưỡi con nghẽo còm là chiếc xe đạp tòng tọc thuộc dạng xe tải lương thời Điện Biên tái chế, đi đi về về giữa cư xá sư phạm với các toà soạn báo, thân nhất là với báo Văn Nghệ. Trong số những tay bút hăng hái chúng tôi hồi đó, Sinh hẳn phải là người hăm hở nhất. Có phải không khí sôi động của đổi mới đã cuốn Sinh vào cuộc? Không, chính Sinh đã dấn thân, đã ném mình vào vòng xao đảo nung rang ấy bằng cả con người chiến sỹ thuở nào và cả con người văn sỹ sâu xa. Nhọc nhằn, cơ cực và cay cực chỉ càng khiến Sinh quyết liệt hơn thôi. Hiếm có ai nhiệt thành với văn, với đời kiểu như Sinh. Rất nhiều truyện ngắn, thơ và cả những tiểu thuyết của anh đã được viết hoặc nảy nở trong “cái thuở ban đầu cao học ấy”. Và Rét lộc, cái truyện ngắn khiến Hoàng Thế Sinh thành Hoàng Thế Sinh, đã đĩnh đạc trình làng chính vào dịp ấy. Truyện được in trên Văn Nghệ. Thời ấy, cái gì được in trên tờ báo lớn của Hội nhà văn thì y như được cấp một chứng chỉ cho đường văn của tác giả vậy. Anh em ai nấy đều mừng cho Sinh. Mà quái, cái nóng bỏng của thời ấy sao lại sinh ra cái Rét lộc của văn chứ! Từ thành công ấy, ngòi bút truyện ngắn của Sinh đâm mắn ra, anh kịp khai sinh ra thêm một loạt cái khác nữa, cái ra sau cứ nóng hơn, dữ hơn cái trước: Người nuôi cá sấu, Người gác rừng tu bổ… và Người nông dân nhỏ bé được viết sau này dường như cũng nằm trong cái văn mạch được khai thông từ hồi ấy.

Với Thế Sinh, cái câu “Văn là người” thực cấm có sai. Con người Sinh vừa thâm trầm vừa hoạt náo, vừa lãng tử vừa thực tế, vừa ngay ngắn vừa bông phèng. Những đối cực ấy chung sống trong anh thường khi là hoà bình đôi khi có chiến tranh. Sinh có thể ghi chép rất nắn nót từng số liệu nhỏ, từng địa danh xa xôi, có gạch chân tỷ mỉ từ này chữ khác. Sinh có thể gìn giữ những thứ anh coi là kỷ vật còn hơn cả nhân viên bảo tàng. Lại cũng có thể cao hứng lãng du bất cứ lúc nào. Có thể làm tròn vai trò một tay quản lý nghiêm cẩn. Lại cũng có thể rời công vụ để leo tận đỉnh Phanxipăng. Có thể nhét một cái chén con vớ vẩn vào trong túi áo vét sang trọng, chốc chốc lại lôi ra cụng hết bàn nọ bàn kia. Có thể đau đớn đến nhăn nhó khi nói đến chuyện bất công, buồn rũ rượi khi nghĩ đến những nỗi đời, những phận người bất hạnh, lại có thể ứng khẩu hát Then, vừa hát vừa bịa lời mà cũng ăn điệu đáo để, có thể nhái theo điệu khèn Mông “tí tí tò tò”, rồi cười phớ lớ. Có thể đang say sưa kể chuyện tiếu lâm rôm rả bỗng xoay sang đọc thơ trữ tình lâm ly. Đang trang trọng trong vai trò MC trong một đêm thơ, có thể bất ngờ ôm hôn một nàng thơ xinh tươi nào đó. Có thể thuỷ chung với bạn, sống chết vì bạn. Cũng có thể dằn dỗi bạn vì những lý do đến trời cũng không biết. Gam nọ chuyển qua gam kia rất chi là tài… Vậy là, từ trong ra ngoài, Sinh vẫn là một… hợp chủng quốc tự thân. Nhưng tất cả đã hoà vào nhau để làm nên một điệu sống Thế Sinh. Văn của anh là sự cất tiếng của con người ấy, từ điệu sống ấy.

Duyên đời, duyên văn kể cũng lắm cái lạ. Sinh người dưới xứ nhãn lồng, nhưng rồi đời đưa đẩy thế nào lại dạt lên xứ mưa. Sinh viết về đủ nơi chốn, nào chiến trường, nào đồng bằng, nào đô thị, nhưng rồi cuối cùng ngòi bút của Sinh lại cắm vào cái bình mực xứ núi, lại tuôn dòng trên những trang giấy xứ rừng. Phải chăng kiếp trước Sinh vốn là con đẻ của cái thành phố bên bến Âu Lâu này? Vì thế mà kiếp này bàn chân từng dong duổi thập phương của anh đã chọn điểm dừng là Yên Bái? Hay con Rồng trong mạng số của anh đã kiên quyết giữ anh lại xứ mưa? Chả biết cơ duyên là thế nào, chỉ biết rằng Sinh đã best online casino đi lính từ đây, rồi từ chối những mời gọi phương xa để quay về đây dạy học, rồi ra làm Hội Văn nghệ tỉnh, ra làm báo, nhất nhất đều bám đất này như một con dân Yên Bái. Chỉ có thể là bởi tình yêu. Sinh đã quá yêu xứ này. Nếu không thế thì khi vừa xong Cao học, Hà Nội đã giữ được chân Sinh lại làng văn, làng báo Thủ đô rồi. Cuối cùng thì tình yêu ấy đã dành lại Sinh cho xứ mưa. Sinh đã mang ngọn lửa tình yêu của mình về thắp lên giữa cái xứ sở mà lượng mưa lớn vào bậc nhất nước này. Và thế là các vùng đất, miền quê với dày đặc những địa danh xứ này được cảm hứng của anh dành nhiều thiên vị. Thế là cuộc sống đa văn hoá, đa sắc tộc của dân xứ này đã xuất hiện la liệt trên các trang văn của anh. Thế là những cánh rừng, những mặt hồ, những con dốc, những lễ hội, những thân phận, những mảnh đời vẫn khuất lấp mường gần bản xa của xứ mưa đã rủ nhau về trong thơ, ký, tiểu thuyết và truyện ngắn của anh. Thế là anh quyết dành cho đất này những cuốn sách tâm huyết của đời mình mà riêng cái tên từng cuốn không thôi đã gọi ngay ra cái thuỷ thổ của nó như Xứ mưa, Bụi hồ, Rừng thiêng, Hoang thuỷ, Sao tổn khuống…Sinh đã hiến mình cho xứ mưa. Và xứ mưa đã “lại quả” cho anh cả một nguồn văn dồi dào.

Hồi viết bạt cho tập thơ “Như xửa xưa” của Thế Sinh, tôi đã thấy thơ Sinh thuộc dạng “Thi trung hữu hoả”. Một thứ thơ vượng hoả. Lửa là tấm tình, là cảm xúc thơ anh. Giờ ngẫm ra, thấy lửa đâu chỉ riêng trong thơ. Nếu ví nghiệp văn của Sinh gồm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết và ký như ngọn đèn chùm bốn ngọn, thì cả bốn ngọn đều thắp cùng một thứ lửa. Và, nếu mỗi ngọn lửa được nuôi dưỡng từ những nguồn năng lượng riêng, thì ngọn lửa này bùng cháy lên bởi hai nguồn năng lượng chính: ấy là say mê vẻ đẹp nồng nàn và căm ghét áp bức bất công. Người này yêu vẻ đẹp mơ hồ, người kia dành vẻ đẹp mảnh mai, kẻ khác say vẻ đẹp trầm tĩnh…, thì Sinh mê vẻ đẹp nồng nàn. Vẻ nồng nàn của thiên nhiên, của cuộc đời, và tất nhiên, đậm nhất phải là của tình yêu, của người yêu. Còn áp bức bất công thì không chỉ riêng trong thời xưa cũ, mà áp bức bất công có ngay trong cuộc sống thường ngày, nó tồn tại cả ngang nhiên lẫn tinh vi đây đó trong đời. Hễ cứ đụng đến hai chuyện ấy là lửa trong ngòi bút Sinh bùng lên, dù làm thơ, viết ký, hay viết tiểu thuyết, truyện ngắn. Khi ấy, ai hiểu Sinh có thể thấy rõ Sinh sẽ viết mà như đang vít cần rượu chếnh choáng ngắm cái đẹp chưa tằng cẩu đương rạo rực cả một miền gái xinh, như lảo đảo múa khèn nhảy quanh cái đẹp đương xoè ô lúng liếng, hoặc Sinh sẽ cầm bút như ghì súng, bấm phím như bắn liên thanh vào kẻ nham hiểm, tàn độc vô hình. Lửa ấy làm nên chất nồng nàn bạo liệt, chất gay gắt quyết liệt trong các trang viết của Sinh dù đó là thơ tình yêu hay truyện thế sự. Lửa ấy cũng làm nên cả một đặc điểm thú vị của các nhân vật Thế Sinh mà nhà phê bình Văn Giá đã gọi ra là: Cả lúc vui lẫn lúc buồn, khi khổ tận cùng lúc sướng tận độ, bao giờ họ cũng hú lên. Tiếng hú làm động cả núi rừng, động cả xứ mưa. Tiếng hú của tình yêu. Tiếng hú của phẫn nộ. Tiếng hú của lửa. Văn Thế Sinh chính là tiếng hú ấy. Văn Thế Sinh chính là ngọn lửa bập bùng kiên nhẫn giữa xứ mưa. Mong sao ngọn lửa trong Sinh đừng bao giờ bị mưa làm cho lụi tắt để tiếng hú vẫn cứ cất lên trong đời này.

Đọc Thế Sinh, tôi thấy cái phần nắm quyền thao túng trong bút lực của anh vẫn là thơ. Dù Sinh viết cả thứ văn xuôi có cốt truyện ly kỳ, có kịch tính gay cấn, có nhân vật góc cạnh, ngồn ngộn vốn sống, và thông tin cuộc đời, thì vẫn cứ ẩn náu đây đó những tiếng thơ riêng của Thế Sinh. Có thể ở cái nhìn, lối kể, cách tả, cách dựng cảnh, vẽ người… mà đậm nhất là ở lời văn. Văn xuôi của Sinh lúc nào cũng nhấp nhổm thành thơ, cứ toan tính vẫy lên đôi cánh thơ. Và không hiếm khi, người đọc “bắt quả tang” nhà văn xuôi đang cố tình “chèn” cả những bài thơ dài vào mạch văn. Lại có khi nhà thơ “chơi gian” đã trà trộn vào giữa mạch truyện những đoạn văn vần xịn, khiến cho lời văn xuôi đang xuôi bỗng dưng lại nảy nhịp gieo vần, mượt mà bay bướm một cách… sững sờ.

Sinh là thế, truyện ngắn Hoàng Thế Sinh càng thế.

Giờ đây, làm sao có thể hình dung trong màn mưa xứ ấy lại thiếu vắng ngọn lửa Thế Sinh!

                                                                                                                                                                                           C.V.S

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter