• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Thơ thầy Nguyễn Hữu Kách
Ngày xuất bản: 12/05/2016 7:12:01 SA

                             Hoàng Việt Quân

 

Thầy giáo Nguyễn Hữu Cách (bút danh Nguyễn Hữu Kách) sinh ngày 2/1/1940. Nguyên quán: thôn Văn Phú, xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là phường Phú La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội). Thầy tốt nghiệp trung cấp sư phạm, về dạy học ở Hà Đông (1960-1961), rồi lên dạy học ở Sơn La thuộc khu Tây Bắc (1961-1966), sau về dạy học ở tỉnh Yên Bái (1966 - 1979). Được kết nạp Đảng năm 1969. Năm 1979 thầy được điều về làm cán bộ văn phòng Sở giáo dục tỉnh Hoàng Liên Sơn, đến năm 1992 nghỉ hưu, cư trú tại tổ 19, phố Thống Nhất, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái.

Thầy Nguyễn Hữu Kách là người yêu thơ, thầm lặng làm thơ, hầu như không gửi đi đâu in cả. Bất chợt thấy thơ thầy trong các hoạt động của Câu lạc bộ thơ nhà giáo hưu trí Yên Bái, đọc được. Bởi tò mò, năm 2003 tôi tìm đến nhà thầy thăm hỏi, chuyện trò. Lại càng ngạc nhiên hơn khi thầy tặng tôi tập thơ "Hương rừng" gồm 40 bài của thầy do Nhà xuất bản văn hoá dân tộc cấp giấy phép in năm 2001. Chuyện trò và đọc thơ, thấy thơ thầy có chất hơn nhiều người cao tuổi khác, tôi động viên thầy gửi thơ về Tạp chí "Văn nghệ Yên Bái". Cũng từ đó tôi phát hiện ra tính cách của thầy: bề ngoài thầy có vẻ rụt rè, thận trọng, nhưng thực chất thầy khá khái tính, có lòng tự trọng. Tuy vậy, thầy cũng thử gửi thơ đi in. Lập tức thơ thầy được đăng ngay. Thầy cẩn trọng viết thư cho tôi vào ngày 8/10/2003 với lời thông báo, cảm ơn: "Nghe anh, tôi gửi bài về Tạp chí Văn nghệ Yên Bái. Số tháng 9 vừa rồi có in một bài. Cám ơn anh đã động viên". Từ đó thơ thầy được đăng thường xuyên hơn, thầy còn viết cả đoản văn, truyện ngắn, có 7 bài thơ in chung trong tập thơ "Ngôi trường nỗi nhớ " (N.X.B Văn hoá Thông tin, 2003), 6 bài thơ in chung trong tập "Ngôi trường nỗi nhớ " do Câu lạc bộ nhà giáo về hưu thành phố Yên Bái và Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc in năm 2005. Thầy được kết nạp vào Hội văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái ngày 2/7/2007.

Đọc tập thơ "Hương rừng" (2001), thấy thầy khá thuần thục với thể thơ 7, 8 chữ với giọng thơ mượt mà, êm ái. Hồn ta như lâng lâng lan toả trong cảm giác trào dâng theo hương rừng em đưa về phố núi:

Em mang theo hương rừng về phố

Thuở nguyên sơ chưa có cúc hồng

Bướm ngày ấy cũng còn lơ đãng

Cánh chưa vàng và dại cùng hoa…

                          (Hương rừng)

Cứ vậy, thơ thầy nhẹ nhàng, nhẹ nhàng mà dâng trào mơ màng, xao xuyến, có một chút lay động của đất trời, cỏ cây, hoa lá, lòng người ánh lên vẻ đẹp thuần khiết, huyền diệu của thiên nhiên. Động nhất là hình ảnh em đẹp đến nỗi "Hồn tôi bỗng nay cất cánh/ Phố xá thành quách liêu xiêu" nghe như vẻ đẹp mỹ nữ thời xưa: "nghiêng nước nghiêng thành". Thầy "Gửi thu" mà viết những câu thơ về mùa thu thật đẹp với nắng thu, trời thu, mưa thu, sắc lá thu, mây thu như có hồn, có tình gửi vào vạn vật và con người bao niềm xao xuyến, bâng khuâng:

Nắng thu mơ màng vàng áo trắng

Trời thu xanh, xanh đôi mắt long lanh

Hạt mưa thu nửa chiều đủ lạnh

Gửi nhớ vào bông cúc rưng rưng.

Mùa thu của thương nhớ, của tình yêu nên vợ nên chồng, thầy cất lời "gửi ít tơ vào trong áo" cưới của em "để ngẩn ngơ hoài khi xe qua" rồi cùng mặt trời, em và anh đều "gửi vào thu" sắc đẹp và nỗi lòng mình:

Mặt trời gửi vào thu muôn ngàn sắc nắng

Em gửi vào thu vầng trăng vành vạnh

Anh gửi vào thu lòng hồ xa vắng

Soi trọn trời thu long lanh.

Quả là thu đẹp, thu hữu tình, thu của tình yêu, của nỗi buồn man mác mà vẫn ấm tình trời, tình đất, tình người.

Nhớ "Hạt mưa trung du" cũng vậy, cứ da diết cồn cào mà âm thầm với những kỷ niệm xa xôi:

Đâu hai mái đầu chụm dưới mưa rơi

Ngày tháng ơi! Xa xôi vời vợi

Lòng cồn cào nhớ mãi giọt mưa rơi

Mưa ngày nào, trở lại một mình tôi

Cảnh vật như nói hộ lòng người vậy:

Đám cưới đi qua, ngày xưa không trở lại

Tán cọ xanh hờ hững lưng trời.

Mùa xuân đến trên núi cao "không có nắng", nhịp sống, cảnh sinh hoạt của người Mông được miêu tả bằng những hình ảnh, âm thanh nhẹ nhàng, trầm ấm:

Than củi thông đượm hồng má tuổi đang mơ

Tiếng đàn môi bật nhẹ lúc vẩn vơ

Chiếc cối đá xanh xoay tròn theo nhịp thở

Trên núi cao có mây trôi qua cửa

Mang của em đi ít phấp phỏng đợi chờ

Tiếng khèn ai nối nhịp lúc vẩn vơ

Tiếng búa đập và phì phò bễ thổi.

                                              (Xuân đến)

Người trai Mông xuống chợ là để tìm gặp em trong thấp thoáng "vành ô xoay tròn trong bát rượu/ vòng bạc sóng sánh trên áo xanh", " cánh hoa đào trong xuân xanh", mang nỗi lòng của người "lỡ để mất" em, để "lòng dâng buồn mật đắng gừng cay", để chợ tan rồi, anh nhớ em da diết:

Chợ đã về chiều nhẹ sương bay

Rượu uống tan phiền tỉnh không say

Con đường về bản nghiêng vách núi

Người áo xanh có hay!

                                                          (Xuống chợ)

Cô gái Mông "vẽ hoa trên vải" đến đêm khuya "đĩa đèn vàng nhạt, mỡ dần vơi" mà vẫn "cặm cụi cả ngày không hết mỏi/ Cố làm kẻo xuân sắp đến nơi" với niềm vui thầm lặng chào đón xuân chan chứa hy vọng:

Nghĩ đến ngày xuân ửng má hồng

Cố cho đường nét đẹp nhất vùng

Xoay tròn, khéo léo theo nhịp bước

Chăm chỉ, tay em chẳng muốn dừng

                              (Vẽ hoa trên vải)

Đâu đó tiếng sáo gọi bạn tình trong đêm của chàng trai H'Mông trên non cao lại véo von, quyến rũ, rơi "lửng lơ, lơ lửng ở lưng đồi" đầy chủ ý, có địa chỉ cụ thể, chứ không réo rắt mơ hồ, vu vơ, gấp ghểnh gập ghềnh hoang lạc trong đường sông thế núi như thơ ai đã từng viết, đánh thức cô gái H'Mông tỉnh dậy, nôn nao, thổn thức mong đợi:

Ơi hỡi chàng trai người bản nọ

Vội vã… vô tình… sáo cứ rơi

Để em thổn thức bao mong đợi

Ôm chăn, tựa vách lòng chơi vơi.

Tiếng sáo ấy như tín hiệu hẹn hò của chàng trai "đến mùa lúa chín sẽ sang chơi" để thực hiện phong tục "bắt vợ", chính thức cưới em:

Tính ngày em đợi chàng sang bắt

Rồi xin mẹ cha thành lứa đôi

                      (Tiếng sáo trên non)

Thơ thầy viết nhiều về cảnh sắc vùng cao và cuộc sống người Mông bằng cảm nhận của riêng mình, cảm nhận của một người Kinh mơ mộng và lãng mạn, gần gũi thân thương, dù dưới dạng thể thơ nào: 7 chữ, 8 chữ hay thơ ngũ ngôn, thơ tự do. Hình ảnh cô gái Mông với chiếc ô hoa được nhắc đi nhắc lại ở nhiều bài thơ, câu thơ: Nhiều cảnh sắc bốn mùa, nhất là mùa thu, mùa xuân trên núi cao, các phong tục tập quán, nghề thủ công truyền thống, hàng hoá, sinh hoạt văn hoá vùng cao như thức dậy trong thơ thầy với bao tình trìu mến. Những cảnh và người các dân tộc Mông, Thái… ở Châu Yên, Sơn La, Nghĩa Lộ, Mù Cang Chải, Phố Ràng, SaPa, Mường Khương, Lào Cai sống dậy trong nhung nhớ của thầy (Đêm Yên Châu, Chiều sơn quê, Trên đèo, Xuống chợ, Tiếng sáo trên non, Sao của núi, Trở lại Phố Ràng, Vẽ hoa trên vải, Bên núi Hoàng Liên, Bản nhỏ, Xuân đến, Nhớ chăng, Câu hát người tình…). Đọc thơ thầy, thấy thầy có mặt ở khắp các miền quê Tây Bắc, mang cảm nhận của người trong cuộc. Có những hình ảnh thật đặc hữu Tây Bắc như khắc sâu trong tâm khảm:

- Núi đá thở trắng cả trời

Con ngòi uốn quanh thỏ thẻ

- Ống nước trên vai chạy về

Leo lên thang nhà thoăn thoắt

Ngựa vàng từng con khoan nhặt

Mấy đứa trẻ con trên lưng

- Ngày vui chiêng trống tưng bừng

Vòng xoè thắm như hoa nở

Quanh chum rượu, vít cong cần

- Chiều chiều quanh bên mó nước

Thậm thình chày khua gạo thơm

Rực rỡ khăn piêu hoa nở

                                    (Bản nhỏ)

- Bụi tung, rời vó ngựa

Khách qua đường lạ quen

Má đào em lơ lửng

- Cùng em qua Khau Phạ

Khi qua dốc ba tầng

Lộng gió ngàn, bâng khuâng

                       (Bên núi đá Hoàng Liên)

- Vòng bạc anh trao

Tròn tựa trăng rằm

Sáng trắng cổ tay

Theo em lên rừng, ra ruộng

                      (Câu hát người tình)

- Đêm Châu Yên mềm tay mà vít

Cổ bình nghiêng ngả, ngả nghiêng sàn

                     (Đêm Châu Yên )

Đúng là tình thơ xứ núi. Trong cái duyên thơ mượt mà, đằm thắm dịu nhẹ của thầy có cả tình người xứ núi với cảnh vật và con người rất động, tạo nên sự hài hoà của hương thơ, nhịp thơ, giọng thơ. Một giọng thơ, một hồn thơ như thế không nhiều ở xứ núi khiến cho ta xao động, cảm thấy ấm áp. Có lẽ do những năm dạy học trên các vùng quê Tây Bắc thầy gắn bó với cảnh, với người Tây Bắc nên mới có những cảm xúc thân thương trìu mến như vậy. Ta hãy xem hình ảnh của cô học trò nhỏ trên núi cao mà thầy ví như một "vì sao nhỏ", "sao của núi" đi học trong cảnh chiều hoàng hôn đỏ ở Sơn La với ngựa, với chiếc lù cở đi nương thì biết:

Ngựa và em- một chấm đen trên nền đỏ

Buổi tối trăng lên, em là vì sao nhỏ

Có cả chiếc cở đeo đầy bí, dưa…

Như khi đi nương.

                       (Sao của núi)

Gắn bó với núi cao, nhưng thầy cũng mang trong lòng nhiều kỷ niệm về quê hương cội nguồn và các vùng quê khác. Thầy có hẳn một bài "Kỷ niệm ơi" với lời cầu xin tha thiết:

Xin trả lại cơn gió đồng thơm hương lúa

Nhốt lại trong tim cho lốc xoáy đến vô cùng

Về làng, thăm lại quê hương, thấy làng quê có nhiều thay đổi, "lòng bảo lòng rất quen và rất lạ", thầy xốn xang trước "cổng làng uốn cong, ao chùa, bến đá..", nơi thầy đã mang theo bao kỷ niệm đi xa:

Nửa đời người dấu chân in nẻo đường xa

Mang cả cỏ gà, cần câu, mồi cá

Mang cả sao khuya trên bến đá

Và vòng sóng tròn khi khoả chân son

Nỗi nhớ như dồn tụ, "trời xa tím thắt lại", thầy "lặng lẽ nhìn, lặng lẽ cô đơn". Nhưng cái còn cái mất là lẽ đương nhiên, lòng thầy lại mở rộng trước sự đổi thay của quê hương ngày mới:

Ngõ đường làng chẳng còn cát, dây tơ

Nhà tầng nhân lên, áo nâu không còn nữa

Nhưng sao vẫn xanh, cửa chùa làng còn mở

                                              (Về làng)

Thầy nhớ một "Hàng sòi quê hương", một đêm "Trăng suông" ở làng Văn Phú mang theo kỷ niệm tình yêu, nhớ "Một ngày" mẹ đi, nhớ "Ngày anh đi" trong chan hoà nước mắt. Thầy muốn uống rượu đến say "để lòng tràn gió xoáy" và "để lòng tôi xốn xang/ bốc cao xanh ngọn lửa" (Say). Thầy thao thức với trăng gió, sương giăng ở "Yên Bình phố" để "lặng thầm với phố núi ơi". Một lần đến sông Hương, thầy chuyện trò với "người trong gió là Uyên" để rồi cất tiếng gọi thầm thương nhớ "Uyên ơi! Như gió như là nước mây" (Nước mây). Thầy về thăm lại một xóm núi xưa, bỗng thấy mình là khách quý của xóm núi (Khách của hôm xưa) v.v…

Những em gái ở các miền quê thật đáng yêu, đáng nhớ. Thầy mượn "em" để bộc lộ tình yêu với quê hương đất nước. Một đôi bài về tình yêu thời xa vắng. Nhưng chỉ có "em" riêng của thầy là cô giáo, là người vợ hiền thảo mới được thầy viết bằng một tình yêu thật rõ ràng, đằm thắm. Hình ảnh "em yêu" ấy được miêu tả cụ thể qua dáng ngồi, dáng viết, qua chiếc áo hoa to cánh, chiếc quần sa tanh bóng đến "mái tóc chải bồng toả mùi thơm", khiến cho anh:

Nhanh chân anh bước ra mở cổng

Thấy cả mùa xuân tươi rộn ràng.

                                         (Em đi hội)

Thầy làm thơ tặng vợ trong bao nỗi băn khoăn "Tặng em gì đây nhân ngày lễ" (chắc là ngày nhà giáo Việt Nam) cũng là dịp kiểm điểm lòng mình, thấy mình nghèo quá, bởi suốt cuộc dời dạy học thầy chỉ biết cống hiến:

Một cuộc đời tuổi xanh không hề tiếc

Một chiếc túi vải mép xơ

Biền biệt đến một ngày bất ngờ thấy mình tóc bạc.

Tặng em "giọt mật đắng" của cuộc đời hay "Tặng em một bài thơ/ của một người bạn tặng sau giờ đứng lớp"? Đều khó xử và đau lòng cả. Thầy cảm thấy mình có lỗi, là kẻ ích kỷ và đành lòng vậy rồi chợt nhớ ra "vật quý tặng em":

Với em và con

Đến một ngày bất ngờ thấy mình chỉ bàn tay trắng

Như hồ nước sau cơn mưa đã lắng

Anh đã tìm ra vật quý để tặng em

Đó là chiếc túi mép sơ và lá thư học trò còn lại.

                                                      (Quà tặng)

Đây là bài thơ duy nhất thầy viết về tâm trạng và cuộc sống của mình- cuộc sống của một gia đình nhà giáo suốt đời cống hiến cho sự nghiệp giáo dục miền núi trong thời chiến tranh và bao cấp, đến lúc về hưu năm 1992 ngoài lương hưu thì chẳng có gì đáng kể, thầy giật mình đau xót "thấy mình chỉ bàn tay trắng". May thay còn có "chiếc túi mép sơ và lá thư học trò còn lại" là những kỷ vật quý giá và có ý nghĩa của cuộc đời dạy học thầy đem tặng vợ. Chẳng biết món quà này là nỗi buồn hay niềm vui nữa. Đứng ở góc độ đời sống thị trường hôm nay thì món quà tặng đó sẽ chẳng có giá trị gì với người thực dụng, nhưng với người vợ hiền thảo của thầy thì đó là món quà vô giá, bởi đó là tấm lòng, tình cảm của cả cuộc đời nhà giáo thanh liêm, đức độ, quên mình vì sự nghiệp giáo dục miền núi và được học sinh yêu quý, nhớ ơn. Nhìn toàn cục, bài thơ này còn tản mạn, chưa hay nhưng nó cho ta thấy hiện thực đời sống và tâm trạng con người rõ ràng hơn, không còn cảm xúc mộng mơ gió núi trăng ngàn như trước nữa.

Cũng may mà tập thơ có đan xen các thể thơ khác nhau với các cảm nhận cuộc sống khác nhau, chứ toàn tập cứ đều đều một cảm xúc đèm đẹp, mộng mơ non ngàn thì người đọc lại thấy nhàm. Gần đây, những bài thơ mới viết của thầy về nhà trường, về vùng cao, quê hương và các vùng quê đất nước đã có sự chuyển động, hiện thực và thực tế hơn nhưng vẫn giữ được nét dịu dàng, tinh tế vốn có. Đọc những bài thơ thầy in chung với nhiều tác giả trong các tập "Mái trường nỗi nhớ" (2003), "Mái trường nỗi nhớ" (2005) và những bài đăng trong Tạp chí "Văn nghệ Yên Bái " gần đây thì rõ.           

TÁI BÚT:

Thế mà thầy lâm bệnh nặng. Trong cơn đau ốm, thầy vẫn âm thầm làm thơ. Thỉnh thoảng thấy thơ thầy đăng trên Tạp chí "Văn nghệ Yên Bái", lại có thơ in chung trong các tập sách: Quê hương (2005), Truyện - ký và thơ Yên Bái (2006), Cội nguồn (2007), Ráng đỏ miền Tây (2007), Nơi người lính đã đi qua (2010), Đây miền ban trắng (2011), Thơ Yên Bái 2010- 2015 (2014), Miền đất nhớ, tập 4 (2015). Điều ngạc nhiên hơn là thầy xuất bản thêm được 2 tập thơ mới: Rượu miền Tây (NXB Hội Nhà văn, 2013) gồm 69 bài thơ, Hồn đá (NXB Hội Nhà văn, quý 3/2015) gồm 65 bài thơ. Thơ thầy vẫn sâu nặng với các miền quê Yên Bái và Tây Bắc, mặc dù có hướng về cội nguồn và các vùng quê khác của đất nước. Vẫn mượt mà, tinh tế, nhưng thơ thầy lúc này đã bớt mộng mơ, thêm phần sâu sắc, trải nghiệm, có đổi mới trong thơ. Tập thơ cuối cùng "Hồn đá" vừa mới in xong, thầy mới tặng được một vài người, chưa kịp đến tay bạn đọc đông đảo thì thầy đã đi xa .

Than ôi! Mới gặp thầy ngày nào mà nay đã không còn. Ngày mai, gia đình đã đưa hài cốt thầy về an táng ở dưới miền quê cội nguồn rồi. Xin viết mấy lời chia tay bày tỏ lòng thương nhớ thầy- một người thầy có hồn thơ mộng mơ trong sáng và luôn ấp ủ, khát khao làm mới thơ mình.

 

                                                                                                                                                                                                                    H.V.Q                       

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter