• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Cảm hứng lịch sử- dân tộc trong thơ Ngọc Bái
Ngày xuất bản: 24/10/2016 2:28:59 CH

(Trích Luận văn thạc sĩ văn học “Đặc điểm thơ Ngọc Bái” của tác giả Lương Việt Hoa tại trường Đại học khoa học Thái Nguyên) 

“Cảm hứng lịch sử- dân tộc chính là những cảm xúc, sự quan tâm của tác giả trước những vấn đề lớn lao có liên quan đến vận mệnh của cả một cộng đồng, dân tộc trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Qua đó, thể hiện được tình cảm, cách nhìn của tác giả trước những vấn đề lớn lao của đất nước và đặt ra cách giải quyết vấn đề tìm ra con đường đi đúng đắn cho bản thân và cả dân tộc. Đó là những vấn đề được tất cả mọi người quan tâm”.

  Là người con gắn bó với vùng cao Yên Bái, cửa ngõ miền Tây Bắc, nên dù đi đâu, về đâu, nhà thơ vẫn luôn hướng về quê hương, hướng về cội nguồn với một tình cảm gắn bó, máu thịt. Vì vậy, tác giả thể hiện cảm hứng lịch sử- dân tộc trong các tác phẩm của mình qua việc tập trung khai thác về thiên nhiên, con người, truyền thống lịch sử, văn hóa, đời sống xã hội trên quê hương.

Thiên nhiên và con người miền núi là mạch nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn trong sáng tác của Ngọc Bái. Ông biểu hiện bản sắc văn hóa miền núi không chỉ ở ngôn ngữ mang phong cách diễn đạt mà nhiều lần ông nhắc đến quê hương mình. Phải xúc cảm đầy sâu nặng về nơi đã sinh ra và gắn bó, Ngọc Bái mới có thể viết những câu thơ đau đáu hồn quê: Không có tên trên bản đồ thế giới/ Âu Lâu như bao làng quê dầu dãi mưa nắng/ Bao kiếp lái đò không mấy ai biết tên/ Bao con đò đã vùi mình trong lòng cát/ Người qua sông mang máng nhớ mang máng quên/ Bến sông lặng lẽ tiễn đưa con thuyền. (Đò làng Âu Lâu). Dòng sông, bến Âu Lâu là sự gắn kết giữa đất, người và sông nước quê hương. Âu Lâu, một mảnh đất anh hùng đã chứng kiến cảnh đau thương của dân tộc trong đó có gia đình ông: người mẹ thảo hiền ra đi mãi mãi mà sau này ông đã lấy năm đau thương thành năm sinh của mình. Đây cũng là nơi đã nuôi ông khôn lớn và ghi dấu bao bước chân của những người anh hùng trên con đường giành lại tự do cho đất nước, chính vì vậy, cảm hứng lịch sử- dân tộc trong thơ ông bắt nguồn từ nơi sông nước quen thuộc.

Bằng cảm hứng lịch sử- dân tộc, Ngọc Bái sáng tác nhiều về những địa danh lịch sử giàu chất thơ. Ông không chỉ tái hiện vùng đất Yên Bái nói riêng, Tây Bắc nói chung mà lồng vào đó đặc điểm tiêu biểu, đẹp nhất của “tâm hồn miền núi”. Về với “Lục Yên Châu”, tên một địa danh hành chính cũ của huyện Lục Yên ngày nay, trước mắt Ngọc Bái hiện ra: Non nước Lục Yên Châu/ Trăng thả thuyền trên đỉnh núi/ Những dải mây cổ tích hiển linh...

Ông tự hào về vùng đất này: Nơi hùm thiêng một thuở vẫy vùng/ Thềm hoang hang động/ Giáo gươm lũy thành lấp lóa/ Đá dựng sương giăng/ Thời gian mờ tỏ/ Mạch huyết hồng/ Trầm tích Lục Yên Châu.

Chúng tôi còn tìm thấy trong nhiều bài thơ Ngọc Bái viết về sự trải nghiệm với những vùng đất, địa danh quê hương. Khi viết về các vùng đất, ông đã lồng vào đó những đặc điểm tiêu biểu, đẹp đẽ của tâm hồn con người miền núi, văn hóa quê hương các dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái với cả tấm lòng tự hào. Bài thơ “Lên Túc Đán” là một ví dụ. Nền tự sự chỉ là cái cớ để nhà thơ tái hiện cảnh vật và cuộc sống tinh thần của người Mông trong ngày cuối năm mọi người đang chuẩn bị cho Tết đến, xuân về: Chọn ngày cuối năm lên Túc Đán/ Thử xem tết nhất của người Mông/ Dốc cao thăm thẳm vẫn còn dốc/ Mưa nhẹ trời buông lạnh như không.

 Hình ảnh con người và cảnh vật núi rừng mang đặc trưng đậm đặc của vùng cao với địa hình “dốc cao thăm thẳm”. Hình ảnh “mưa nhẹ trời buông” góp phần tạo nên không khí mùa xuân, đặc sắc trong phong tục đón tết độc đáo của người Mông. Mặc dù ngày nay người Mông không ăn tết riêng mà vui tết Nguyên Đán chung với các dân tộc anh em khác, nhưng bản sắc văn hóa độc đáo đó vẫn cần được bảo tồn, lưu giữ.

Yêu quý các tộc người trên núi rừng Tây Bắc, thấu hiểu tình cảm, văn hóa của họ, Ngọc Bái đã viết hàng loạt bài thơ về cuộc sống lao động, bản sắc văn hóa của người dân trong khung cảnh thiên nhiên ngoạn mục và trữ tình. Đó là các bài thơ: “Với Tuần Giáo”, “Hoa ban trong mưa đêm”, “Sơn tra”, “Tú Lệ trong mây”, “chợ Bắc Hà”, “Chạnh lòng Sa Pa”, “Đêm xòe Mường Lò”.... Mỗi lần đi qua những vùng đất khác nhau, nhà thơ đều thể hiện sự gắn bó, đồng cảm với sự vất vả, gian lao của đồng bào trên những đỉnh núi cao hay dưới thung lũng rét mướt, mù sương: Tôi đến sưởi bếp lửa người Pa Dí/ Lửa đã xua bớt lạnh chân đèo/ Tiếng nhạc ngựa vẳng trong bản núi/ Rừng đại ngàn chim lạc có còn kêu. (Ấn tượng Mường Khương) 

 Hay những câu thơ được tác giả viết ở Đồng Văn: Bản Mông chất ngất lưng chừng núi/ Sương khói le te mấy tiếng gà/ Chó sủa râm ran sau rặng chuối/ Mèn mén đem mời khách đường xa. (Ngược Quản Bạ Đồng Văn).

Ta biết rằng, khuynh hướng sử thi là khuynh hướng chủ đạo cho văn học nói chung và thơ ca nói riêng về đề tài chiến tranh cách mạng. Trong hành trình sáng tác thơ ca của Ngọc Bái đã đồng hành với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc để bảo vệ Tổ quốc vô cùng ác liệt, đau thương mà hào hùng. Đó là những mảng hiện thực đời sống trong kháng chiến đầy ắp chất liệu quý giá, tạo nguồn cảm hứng sáng tạo trong thơ Ngọc Bái. Chính vì vậy, Ngọc Bái thể hiện rất rõ trong những bài thơ với âm hưởng hào hùng mang đậm chất sử thi khi viết về chiến tranh và những người đồng đội mà ông gắn bó: Trời Điện Biên hôm ấy ra sao/ Những ai ngã trước giờ chiến thắng/ Những câu ca nén lặng/ Những mặt người chết lặng/ Trời đất tự do/ Loang khói súng/ Tiếng hát bừng lên/  Sương lóng lánh gieo mầm. (Âm điệu Điện Biên).

Trận chiến hào hùng của cả dân tộc với những người con sẵn sàng hy sinh cả máu xương để làm nên bài ca hào hùng của đất nước, trước những giờ khắc lịch sử đã được Ngọc Bái khắc họa trong thơ.

Nói chuyện với Ngọc Bái, để giải thích việc ông viết nhiều về chiến tranh, nhà thơ đọc những câu thơ mình tâm đắc: Có thể nào không nói tới gian truân/ Đá thì cứng, chúng tôi trai trẻ/ Con đường từ nhà tới nơi trận địa/ Chúng tôi đi suốt cả đời mình. (Đồng đội tôi trên chốt)

Trưởng thành trong môi trường quân đội, Nhà thơ Ngọc Bái đã chạm khắc khá rõ nét cảm xúc của mình qua hiện thực chiến đấu và cuộc sống của những “người cầm súng” trong thơ. Một đặc điểm riêng của người chiến sĩ mà ông tái hiện, đó là “người lính tâm trạng”: Anh đang thao thức dọc canh khuya/ Thăm thẳm sương giăng tóc ướt nhòe/ Mơ hồ lá rụng quờ ngang súng/ Xao xác trên không gió bấc về. (Một phía yên tĩnh)

       Trong cảm hứng bao trùm của thời đại, viết về chiến tranh, Ngọc Bái viết về hình ảnh người lính “sục sôi bom lửa” ở chiến trường nhưng hầu như không mô tả tiếng ùng oàng của súng đạn hay thi vị hóa chiến tranh. Ông luôn chủ tâm khắc họa hình ảnh rất đời thường lúc các anh còn nhiều bỡ ngỡ: Lính mới thổi nấu chưa quen/ Trống trơ mấy phiến đá đen thay kiềng/ Nơi giọt nước cũng thiêng liêng/ Những người đang khát còn truyền tay nhau/ Mong sao đừng có ốm đau/ Phía trước vẫn núi đằng sau vẫn đèo/ Nhà lính lúp xúp hầm kèo/ Áo quần chỉ một mắc treo cũng vừa (Làng lính). Hình ảnh của các anh còn được Ngọc Bái viết về thân phận với tâm trạng xót thương khi nhiều chiến sĩ mãi mãi không trở về: Thắp mấy nén nhang giữa trời, giữa đất/ Thương người ở quê, nhớ người xa khuất/ Tưới lên chiến hào ly rượu nhạt/ Phóng khoáng cỏ cây. Mây núi giao thừa. (Giao thừa ở Vị Xuyên).  

 Cảm hứng lịch sử- dân tộc còn được nhà thơ thể hiện qua bức chân dung tinh thần của anh bộ đội cụ Hồ. Người lính được tái hiện ở những chi tiết, sự việc cụ thể, về gian lao, hy sinh vì đất nước, nhân dân. Bức chân dung tinh thần thể hiện trong những suy tư trải nghiệm trong thế giới nội tâm của họ: Tôi làm lính không có gì đặc biệt/ Đi suốt thời đất nước có chiến tranh/ Không ồn ã bước qua bao miền chết/ Chợt giật mình tóc rụng lúc còn xanh. (Một thời làm lính) hoặc đó là những ghi tạc những cảm xúc thiêng liêng của tình quân dân một thời lửa đạn: Cái bản Vân Kiều tôi từng sống/ Dân lành sơ tán tận rừng sâu/ Áo quần bộ đội giày bộ đội/ Cùng với cây xanh thẫm một màu. (Thuở Trường Sơn). Trên bước đường hành quân, người lính vui với thiên nhiên, xem thiên nhiên như người bạn đường thân thiết. Một chùm hoa phong lan cũng làm cho người chiến sĩ lưu luyến trong bài “Đồng đội tôi trên chốt”: Chùm phong lan nghiêng xuống cửa hầm/ Không hiểu sao chợt như lấp lánh/ Chợt như thể nụ cười duyên dáng/ Hoa như là đôi mắt ngó hoài thôi... hoặc lúc các anh cảm nhận không gian yên tĩnh không tiếng súng, vui vẻ với lời ca tiếng hát: Giá mang được cây đàn ghi ta/ Buổi chiều ấy hẳn vô cùng tuyệt diệu/ Sau câu hát một trời xanh trong trẻo/ Trắng bông lau phơ phất quét lên trời/ Tiểu đội chúng tôi đông đủ chín người/ Năm người hát, bốn người khán giả/ Hát như thế chỗ nào cao quá/ Không ai bảo ai đều xuống bè trầm. Trong chiến tranh, sau sự gầm rú của bom đạn, người lính trong thơ Ngọc Bái vừa anh hùng, vừa nhân văn. Các anh có những giây phút bình thản, tự tin khi bước vào trận chiến đấu, giữa sự sống và cái chết để suy ngẫm cái giá phải trả cho vinh quang. Sự thực đó đã thôi thúc tác giả viết những câu thơ mang đậm cảm hứng lịch sử- dân tộc với những người con anh hùng nhưng vô cùng giản dị: Anh đã bắn đến viên đạn cuối cùng/ Để diệt tên địch cuối cùng trong trận đánh/ Tiếng súng im, đất trở về yên tĩnh/ Anh trống lặng trong vinh quang. (Người lính)

Ngoài ra, khi tìm hiểu các tác phẩm của Ngọc Bái, chúng tôi thấy cảm hứng lịch sử- dân tộc được thể hiện ở những người phụ nữ hậu phương (những người mẹ và người vợ của các chiến sĩ). Hình ảnh đó chính là cụ thể của nhân dân, vừa mang tính khái quát, biểu tượng, vừa là những chân dung mang tính điển hình của nhiều con người: Một khối đá mơ màng/ Một khoảng trời chết lặng/ Tô Thị bồng con/ Che chắn màu tang. (Tô Thị). Thôi cái thời chiến trận cũng đã qua/ Thôi thiếu phụ đừng bao giờ khóc nữa/ Khó lòng chết những câu thơ dang dở/ Trước cửa thiền gương mặt bỗng trầm tư. (Một thời làm lính). Dường như trong không khí chiến tranh, mất mát tận cùng, những người mẹ và người vợ đã trở thành những hình ảnh rất thân thương, gần gũi, vừa phi thường bởi sự hi sinh của họ không mấy ai đong đếm nổi. Hình ảnh đó đã hiện hữu từ bao đời nay để đi vào thơ của Ngọc Bái thật cao đẹp: Chiều đã lặn sao em còn ngoái lại/ Một giọt sao sáng lẻ cuối trời/ Đêm xa hút bỗng đâu tiếng vạc/ Tận bên sông le lói lửa chài. (Hoài cảm)

Tóm lại, ngoài những bài thơ về đề tài thế sự và một số đề tài khác, trong thế giới nghệ thuật nhà thơ Ngọc Bái, cảm hứng lịch sử- dân tộc trở thành cảm hứng lớn trong sự nghiệp sáng tác thơ ca của ông. Tác giả sáng tác những trang thơ đậm đà cảm xúc tự hào, ngợi ca về quê hương, đất nước. Hình ảnh người lính cầm súng bảo vệ tổ quốc với vẻ đẹp mộc mạc mà tinh tế trong tâm hồn. Những hình ảnh đẹp đẽ của người vợ, người mẹ nơi hậu phương trong thơ của Ngọc Bái đã làm giàu có hơn cho thơ ca Việt Nam hiện đại thời chống Mĩ. Vẻ đẹp truyền thống đã kết tinh rực rỡ, làm nên hình ảnh dân tộc Việt Nam. Thật tự hào khi ta được sống lại không khí của Tổ quốc trong những giai đoạn lịch sử vẻ vang của cha ông qua ngòi bút nhiệt thành của nhà thơ. Với cảm hứng lịch sử- dân tộc, Ngọc Bái đã góp cho vườn hoa văn học Tây Bắc những bông hoa tươi thắm và ngát hương.

L .V. H

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter