• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Cái nhìn mang xu hướng nữ hóa trong thế giới thơ “Bóng chữ” của Lê Đạt
Ngày xuất bản: 16/03/2018 3:08:49 SA

Lưu Khánh Linh

 Lê Đạt sinh ra ở Yên Bái, được mệnh danh là "phu chữ" bởi những nỗ lực to lớn trong cuộc cách tân ngôn ngữ, hình thức thơ ca. Năm 2008, "Bóng chữ" là một trong ba tác phẩm của ông được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

    Bài viết này là sự tri ân nhà thơ- người con của quê hương Yên Bái.

Nói tới cái nhìn nghệ thuật là người ta nói đến quan niệm chủ thể sáng tạo đối với hiện thực mà người nghệ sĩ phản ánh. Nó quyết định cách thức thể hiện của tác phẩm từ hình ảnh, ngôn ngữ, đến thủ pháp nghệ thuật. Cái nhìn là cái thuộc về chủ thể sáng tạo, mang đậm dấu ấn cá nhân độc đáo của người sáng tác. Cùng một đối tượng thẩm mỹ nhưng mỗi người với cái nhìn riêng sẽ tạo nên hình tượng nghệ thuật mang quan niệm, giá trị thẩm mỹ riêng trong "vân chữ" của mình. Thiên nhiên trong thơ Lê Đạt thường biểu hiện nét duyên dáng, gợi cảm, tinh khôi, thánh thiện của người thiếu nữ. Đồng thời, cũng qua cái nhìn có xu hướng nữ hóa, các hình ảnh hiện lên lại có cả sự bỏng rát, rạo rực qua cái đẹp trinh nguyên mà thế giới thơ Lê Đạt đem lại.

   Thưởng thức "Bóng chữ" của Lê Đạt, chúng tôi nhận thấy có ít nhất 42 trên tổng số 108 bài của tập thơ bộc lộ rõ cái nhìn theo xu hướng trên. Có những bài xu hướng nữ hóa lộ ngay từ nhan đề: Thu nhà em, Tóc phố, Tuổi chín, Mắt bão, Tình hoa, Phố xuân, Nai phố, Mắt Maria… Có những thi phẩm, cách đặt nhan đề ngỡ rằng không thể có bóng dáng của người con gái xuất hiện như "Ông cụ chăn dê", "Ông cụ nguồn", "Tuổi Việt Minh", "Đào Uyên Minh"… vậy mà những hình ảnh nữ hóa vẫn đậm đặc.

   Toàn tập "Bóng chữ", hình tượng em hoặc bóng dáng em xuất hiện ở hầu khắp mọi sự vật, sự việc, hiện tượng với các hình ảnh mắt, mi, mày, môi, má, đùi, tóc, áo, thân trắng, đường nét thon cong… Những kết hợp từ trên cũng nằm trong quan niệm F.De.Saussure giữa hình thức, nội dung của cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Nhưng, hầu hết nhiều hình ảnh, nhiều kết hợp từ chỉ đến từ cái biểu đạt; người đọc phải ngụp lặn sau để tìm nghĩa bên trong cái bóng hất loang loáng ra bên ngoài. Ai cũng lí giải được theo cơ chế tư duy lô gic "Em đùi thắng cảnh mắt danh lam" là một cách so sánh vẻ đẹp của cô gái với vẻ đẹp của danh lam thắng cảnh dù từ dùng để so sánh đã bị lược bỏ. Thế nhưng, "mắt lá tre đằng ngâm mộng ba giăng" là ngụ ý gì quả không phải hời hợt để thoáng đọc hiểu. Có lẽ, từ sự liên tưởng đến lá tre đằng ngà, vẻ thon dài óng chuốt đặc trưng của vật thể tự nhiên. Nhưng, lá tre ngâm mộng ba giăng thì đã ảo hóa mắt cô gái. Tương tự, "mắt hải đăng" chỉ con mắt sáng, con mắt soi đường, dẫn đường tình nhưng "mắt ảo đăng" thì lại thành trừu tượng. Những kết hợp từ miêu tả má, ngực người con gái đều rất gợi hình, gợi cảm khiến người đọc cảm nhận được sự trẻ trung về vóc dáng, căng tràn sức sống của tuổi trẻ. Có thể nói, qua con mắt thơ của mình, Lê Đạt đã đem hình ảnh mới cho vỏ bọc đã cũ để tạo hiệu ứng mỹ cảm mới cho người yêu thơ.

   Hơn nữa, ở chính cái nhìn mang xu hướng nữ hóa, thi sĩ đã khoác lên vạn vật thiên nhiên vô tri một sức sống mãnh liệt, dồi dào, mơn man giàu cảm giác xác thịt. Dù là người vô cảm, đời sống tinh thần nghèo nàn nhưng nhắc đến hoa mười giờ- loài hoa phổ dụng ấy thì có lẽ  hầu như ai cũng biết. Thế nhưng, để tinh tường quan sát, ngắm nhìn dáng hoa tròn vành để đặt tuổi cho nó thành "em mười bảy", có từng tia cánh nhỏ với các sắc màu rạng rỡ: vàng, đỏ, cam đều kết ở độ rực màu, hóa thành:

"Mắt đuôi chớp xuân về

Hoa chạy hường lên má

 

Hoa em đền hoa má

Thơm má hoa mười giờ"

thì chắc chỉ có Lê Đạt với con mắt xanh của mình chiêm ngắm mà thôi. Lê Đạt "trông thấy" hồn nhiên qua cử chỉ "Mắt đuôi chớp" làm cho màu sáng của xuân như hiện về. Cái nhìn tinh tế dẫn đến sự liên tưởng độc đáo “hoa chạy hường lên má" và trở thành hình ảnh đồng nhất "hoa"- " hoa má"- "hoa mười giờ". Iu Lotman đã nói với chúng ta đại ý rằng: cuộc sống xung quanh ta là vô vàn kí hiệu, người đối diện sẽ "đọc" được thông tin, sẽ giải mã được chủ thể ấy thông qua kí hiệu giản đơn hay phức tạp. Với "Hoa mười giờ" Lê Đạt đến với chúng ta bằng thứ ngôn ngữ thiên nhiên đã được tấu hòa không chỉ về màu sắc, kiểu dáng, hình khối mà còn cả phát xạ hương thơm: "Thơm má hoa mười giờ".

   Hay trong bài "Hái hoa" cũng vậy, lối nói mơ hồ đầy biểu tượng để biểu thị tình yêu của Lê Đạt cũng được tỏ bày thật lãng mạn qua ánh nhìn đa tình, trai trẻ.

"Anh rừng anh hái hoa

Hoa lúm hoa bông thắm

Hoa bông môi thật hồng"

   Lối nghệ thuật cắt dán, đảo cấu trúc chúng ta chưa lạm bàn. Chỉ xét riêng cái nhìn, chúng ta đã nhận thấy sự hòa trộn giữa hoa và người, giữa người với hoa. Rõ ràng, trang thơ mở ra là "rừng hoa" nhưng thoắt chuyển hóa thành "hoa lúm", thành "hoa bông thắm" và thành sự gợi cảm đến nồng nàn "hoa bông môi" với cảm giác "thật hồng". Sự biến ảo kỳ diệu ấy diễn ra thật nhanh bởi cặp mắt của nhân vật trữ tình "anh" ngay ở đầu bài. Sắc thái tình yêu say đắm càng như nhân lên sau sự tếu đùa của cô gái ở giữa bài, cho nên toàn bộ khổ sau, vẫn nói đến hoa nhưng đã trở thành hoa người, hoa em, hoa cô gái trong mong ước "hái", trong động tác "hái" của chàng trai.

"Anh lòng anh hái hoa

Hoa hái hoa bông thắm

Hoa bóng hoa rỏ hồng

Hoa hồng bông hồng bông"

   Đúng là thế giới thơ, theo như cách nói của Bích Khê là một cõi trời xa với một không gian bất tận và vĩnh viễn. Thơ là tinh hoa, là bí ẩn của trời đất, là nhịp điệu của vũ trụ, là chốn tương giao của mọi vẻ đẹp: nhạc điệu, sắc màu, hương thơm và giai nhân. Nhất là với "Quan họ", hình ảnh:

“Cây gạo già

                 lơi tình

                                lên hiệu đỏ

La lả cành

                  cởi thắm

                                để hoa bay”

 

   Chúng ta nhận thấy rõ nhất tín hiệu trao cho cây gạo nét duyên, nét nữ tính có phần khêu gợi, gọi tình bởi chính sự "lơi tình", sự "la lả""cởi thắm" của cây gạo già. Màu sắc như bỗng vỡ òa, được bung ra sau một thời gian dài bị kìm nén, làm cho hiệu đỏ trở nên rực rỡ. Đó cũng chính là sự trẻ trung, đa tình, là trạng thái vận động tràn đầy sức sống của cây gạo già trong mùa xuân, gọi ra bóng dáng người con gái quan họ tình tứ, uyển chuyển trong tà áo mớ ba mớ bảy của ngày hội.

   Bên cạnh đó, cái nhìn mang xu hướng nữ hóa còn là sự thổ lộ thành thật nhất với lòng mình của nhà thơ. Yêu người phụ nữ, yêu cái đẹp- đó là bản chất chung rất đỗi nhân loại mà nhiều lúc vì sự sĩ diện người đàn ông, người ta cứ đeo mặt nạ để chối bỏ cảm xúc thực của mình. Với Lê Đạt thì không, thi nhân cứ nhìn rồi viết, viết để nhìn như kẻ say cảnh, say người, say vật.

“Nụ xuân chớp đông

                              hoa xuân chợp hồng

Chũm cau tứ thì chúm chím

Ú ớ mơ ngần

                    một giấc chim xuân

Chiều bóng mây

                         hay mắt em rợp tím

Hè thon cong thân nắng cựa mình

Gió ngỏ tình

                     xanh nín lộc

                                        giả làm thinh”

                                                                        (Nụ xuân)

   Dựa trên sự tích nhựa của mùa đông để quẫy chồi vào xuân mới của quy luật tự nhiên, thi nhân đã có cách gọi từ thật đẹp "nụ" vào lúc "chớp đông" để vào xuân, viên mãn thành "hoa" với màu sắc bừng dậy như "chợp hồng". Người viết không quan niệm từ "xuân" thứ nhất được nhắc đến là chỉ trạng từ mùa thời gian mà nó là tính từ chỉ bản chất "nụ", sắc thái của "nụ" chứa sức xuân. Đặt hình ảnh trong hệ thống toàn bài, "Chũm cau" chính là biểu trưng của tuổi dậy thì, của cô gái. Nó hô ứng và nhất hợp với cái nhìn "giấc chim xuân" để từ áng mây chiều hóa thành "mắt em rợp tím", để từ cái nắng ấm xôn xao như mùa hè thành dáng "thon cong" khẽ "cựa mình". Bóng người đẹp tinh khôi bước tràn vào thơ một cách tự nhiên và cuốn quyện. Nhất là cách nói "Gió ngỏ tình/ xanh nín lộc/ giả làm thinh" mới đậm chất cô gái Việt Nam làm sao. Sự e ấp, sự ngúng ngại, sự trả lời "có" trong cái biểu hiện "không" làm thinh ấy thật đáng yêu trước lời tỏ tình của người khác giới.

   Có thể nói, chúng ta đã quá quen thuộc với những hình ảnh mang tính công thức ước lệ với kiểu mồ hôi nhễ nhại, mắt lá răm, lông mày lá liễu… những hình ảnh quen thuộc đến nỗi hễ bắt gặp, người đọc liền không cần dùng hình dung tưởng tượng hay suy đoán gì đã có thể hiểu ngay ý nghĩa của chúng. Và chính vì quá quen như vậy nên nhiều khi hình ảnh không còn thực hiện được vai trò là một hình thức trữ tình cơ bản của nghệ thuật thi ca nữa. Do vậy, sự kiếm tìm và tạo diện mạo mới cho những "nguyên liệu" truyền thống, "nguyên liệu" vốn sẵn đã biểu hiện năng khiếu người nghệ sĩ Lê Đạt và khởi phát từ cái nhìn của chính ông- cái nhìn đa tình, lãng tử và mơ mị đã tạo sức hút liêu trai, ma mị.

   Mọi trạng thái xúc cảm qua cái nhìn lồng quyện của cảnh vật- người đẹp nhiều khi làm mờ hóa chính cảm xúc của con người trong sự thăng hoa của cảm giác. Loáng thoáng ta vẫn gặp một vài cách nói cụ thể, trực tiếp nhưng đa phần, trong cái nhìn nữ hóa ấy chúng ta thấy cái được biểu hiện, được biểu đạt thường ẩn đi. Nó chủ yếu đến với người đọc thơ bởi sự khơi gợi, bởi ám thị. Và cách miêu tả thế giới thông qua giai nhân chính là phương thức làm cho sự sống xung quanh hiện lên giàu sức vẫy gọi, giục mời và cũng là lời thổ lộ chân thực của một người si mê, đắm say cái đẹp- mà trung tâm của cái đẹp ấy chính là người, là nàng, là giai nhân.

 

L.K.L

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter