• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Suy ngẫm đầu năm với “Bến đò xuân đầu trại” của Nguyễn Trãi
Ngày xuất bản: 24/01/2019 3:50:04 CH

Lưu Khánh Linh

   "Người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông"- nhận định ấy của nhà triết học Hêraclit từ thời cổ đại vẫn luôn có ý nghĩa trường tồn để nói về sự chảy trôi của thời gian cũng như ghi dấu giá trị xuất hiện của các định đề, phát minh, khái niệm... Với thơ ca- một loại hình văn học xuất hiện sớm nhất cùng với thuở bình minh của xã hội loài người cũng vậy; nó có cả một dặm dài định nghĩa qua các thời kì: cổ, trung, cận, hiện, hậu hiện đại. Tuy nhiên, không thể đồng quy tất cả cách hiểu về thể loại thơ từ cách nhìn của một thời, mà mỗi thời đều có những kiến giải, đề xuất riêng, đều có những phương diện được tiếp thu, bảo tồn và bồi đắp mới qua sóng từ trường thơ của từng thời đại.

   Ngược thời gian, về với thời kì trung đại, chúng ta thấy quan niệm bao trùm là “Thi dĩ ngôn chí”. Song, nội hàm của nó quá rộng và được bàn đến rất nhiều mỗi khi nghiên cứu về văn học thời kì này. Nằm trong "khuôn viên" quan niệm ấy, nhưng là một phát biểu tinh tế và có mạch dò riêng, Lê Quý Đôn đã phát biểu về thơ một cách vừa khái quát lại vừa rất cụ thể như một quy trình sáng tác: “Thơ có ba điểm chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự... Lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra thành tiếng. Như vậy, cảnh không hẹn đến mà tự đến, nói không mong hay mà tự hay, cứ như thế có thể trở thành người làm được thơ tao nhã”. Với bài thơ "Bến đò xuân đầu trại" của Nguyễn Trãi chúng ta sẽ thấy luận điểm ấy được soi chiếu thật rõ ràng:  

  "Độ đầu xuân thảo lục như yên

                                 Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên

                                 Dã kính hoang lương hành khách thiểu

                                 Cô châu trấn nhật các sa miên"

(Cỏ xanh như khói bến xuân tươi

Lại có mưa xuân nước vỗ trời

Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách

Con đò gối bãi suốt ngày ngơi)

Thực chất trong ba điều của Lê Quý Đôn, tình là người, cảnh là tự nhiên, sự là hợp nhất cả trời và đất đều quấn quyện trong 28 đơn âm tiết nhỏ xinh của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt.

   Theo thói quen thông thường, người ta vẫn cắt ngang bài thơ thành nửa đầu "Miêu tả thiên nhiên" và nửa cuối "Miêu tả con người". Có thể không sai nếu ta cứ xắn bài thơ ra và ban nghĩa cho nó, nhưng nếu thế, ta đã đánh đồng Ức Trai với nhiều nhà thơ trước, cùng và sau ông của trục văn học trung đại. Thưởng thức lại câu thơ mở đầu: "Cỏ xanh như khói bến xuân tươi" ; ta thấy một màu xanh mơ màng đầy nhựa sống của từng cuộn sóng khói cứ chồi lên, chồi lên một sức xuân tươi mới. Thi pháp văn học cổ điển quen thuộc với một nét vẽ khoáng đạt, với một điểm nhấn mà ở đây là tính từ chỉ màu. Mà màu là màu "lục"- cái màu quê kiểng, gân guốc nhất trong các gam màu của bảng hiệu chỉ tính chất xanh nhưng lại đem đến sự khỏe khoắn bởi màu xanh nhẹ, êm, khẽ khàng lan tỏa trong sự động cựa chuyển mình của từng mạch nhựa. Ngày xưa, Vương An Trạch đời Tống dùng màu "lục" Xuân phong hữu lục giang nam ngạn để tả gió rồi vẽ màu cỏ xanh non. Còn với nhà thơ của chúng ta, chỉ dùng "thảo lục" mà thổi được gió mát vào tận lòng người- quả là cây bút thần tình và  có góc chớp kì diệu!

   Nhưng, như Lê Quý Đôn đã nói ở trên, cảnh không hẹn mà tự đến, bức tranh xuân vốn đã động lại càng sống động hơn bởi sự hôn phối tự nhiên của trời đất: "Lại có mưa xuân nước vỗ trời". Tần số "lại" chỉ sự kế tiếp tự nhiên của đường biên bức tranh đang được phơi mở dồi dào: cỏ xuân trỗi dậy nhờ gió xuân và mưa xuân cùng đến đồng thời một lúc. Thực ra, trong nguyên tác thủy phách thiên là một hình ảnh tranh lồng tranh, hình lồng hình, ảnh lồng ảnh rất hoa gấm, nhuần nhị. Chúng ta có cảm giác, nước từ trên trời buông xuống, nước ở mặt sông rung lên do tác động của gió xuân nhẹ thổi. Hai nghệ sĩ của tự nhiên ấy như đang ngẫu hứng hòa tấu khúc nhạc xuân, từng phách đàn như hòa vang, dào dạt làm xao động cả không gian. Chỉ chấm phá đôi nét, gợi nhiều hơn tả, Nguyễn Trãi đã tô màu cho vùng quê một nét đẹp riêng của sự sống. Sự sống ấy chính là tình, là sự được gửi gắm qua cảnh. Hay nói cách khác, cảnh vật qua tiếng gõ nhẹ mấy âm vần của thi nhân, nhạc thơ ngân nga, đem sự tình vang xa theo từng con chữ.

   Và sự tình ấy sau những phút ngã lòng với thời khắc thiên nhiên phơi phới bỗng "gặp việc thì nói ra thành tiếng"

                                        "Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách

                                        Con đò gối bãi suốt ngày đêm"

Trời nước đẹp thế, thơ mộng thế, đầy mời gọi nhập thế sao lại "quạnh quẽ" và "thưa vắng" vậy ? Từ sự bao quát, chiêm ngắm của cảnh vật thiên nhiên ở tầm cao xa, tác giả thu gần tầm ngắm về với đường làng, về với xóm đồng, bến sông, bờ bãi. Cự li quan sát thay đổi, tấc lòng đang tạm ngủ bỗng động cựa để bừng thức với thực tại nỗi niềm chăng? Thời điểm làm bài thơ này là lúc mà nhà thơ đã lánh bụi bặm quan trường để lui về sống ẩn dật. Ức Trai không hề bị cầm tù nhưng tâm trạng hệt như sau này Hồ Chí Minh tự họa "Trong ngục người nhàn, nhàn quá đỗi/ Chí cao mà chẳng đáng đồng chinh". Qua cảnh, nhờ cảnh, đậu vịn vào cảnh- tâm sự của Nguyễn Trãi mở ra, tiếng nói của người sau khi bị phụ bạc, hắt hủi đã phải dời kinh đô về Côn Sơn ở ẩn cất lên. Có lẽ vì thế, nên đối nghịch với bức tranh ở trên, đến đây cảnh đã trở thành tâm cảnh. Bởi vậy, không phải trùng ngôn khi nhà thơ hai lần lặp lại trong cùng một câu thất ngôn tính chất "hoang lương", "hành khách thiểu" đem đến cảm giác vắng, lạnh, xa ngái mối tương giao. Nhất là hình ảnh cuối Cô châu trấn nhật các sa miên uốn nỗi niềm trĩu xuống bởi sự cô đơn của nó. Hồn của Ức Trai ẩn trong cô châu, các sa miên (mặc dù bản dịch đã đánh rơi mất ý nghĩa của chữ cô, chữ miên nhưng ta vẫn thấy được thần thái của tứ thơ qua đối chiếu nguyên tác cùng bản dịch). Không chỉ cả bài thơ là kết cấu đối nghịch mà kết cấu đối nghịch còn nằm ngay trong chính một câu thơ: con đò vốn là vật động- thuộc tính là di chuyển, đem đến sự giao kết; thế nhưng ở đây, hiện lên trong thơ ông là con đò của sự bất động, tuyệt giao (Con đò cô đơn gối đầu lên bãi cát, ngủ suốt ngày). Những đối nghịch ấy đến từ đâu nếu không phải từ một tấm lòng u ẩn, đầy trở trăn vừa chán chường, vừa bất lực. Đó là sự bất lực của "Bui một tấc lòng ưu ái cũ/ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông" của một người anh hùng- một nhà thơ suốt đời khát khao được cống hiến và cũng suốt đời day dứt, khổ đau.

   Quay trở lại với quan điểm chia nửa bài thơ như nói ở lúc đầu về "miêu tả con người" ở hai câu thơ cuối, rõ ràng không sai nhưng chưa thật trúng vì thực chất hình ảnh con người chỉ ẩn thấp thoáng trong bức tranh. Đến với "Bến đò xuân đầu trại" của Nguyễn Trãi chúng ta ngắm cảnh từ cỏ xuân, mưa xuân, đồng ruộng, con đò, bãi cát mà tuyệt nhiên không thấy hình ảnh con người cụ thể, con người sinh học nào xuất hiện. Tất cả là nét vẽ khoáng đạt của sự kết hợp hài hòa trong cảnh để sự, tình bộc bạch ra nên đã tạo một bài thơ "không mong hay mà tự hay" của một dáng vẻ tao nhã rất cổ điển mà cũng không thiếu chất lãng mạn, trữ tình của "Bến đò xuân đầu trại".

   Cần có một điểm nhìn và xác định một hệ quy chiếu để soi rọi các quan điểm văn học qua mỗi thời kì lịch sử. Khung tham chiếu cần xuất phát từ trục lịch đại để đánh giá những tác nhân, ảnh hưởng và giá trị của văn học cũng như các định nghĩa, khái niệm liên quan. Với Nguyễn Trãi, giá trị văn học và mảng thơ ca của ông luôn là "bông hoa đầu mùa" không chỉ của thời trung đại mà luôn có sức hấp dẫn ở các thế hệ. Và nhân dịp đầu năm, du xuân vườn văn học của người xưa, xin được tưởng nhớ và tưởng mộ đến thi nhân như biểu hiện thành kính của tấm lòng hậu thế!

                                                 L.K.L                                                          

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter