• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Hát Pụt giải hạn của người Tày vùng sông Chảy (Yên Bái)
Ngày xuất bản: 18/04/2017 2:40:53 SA

 NNƯT Hoàng Tương Lai

 

Đó là một cách chữa bệnh, giải hạn khi con người gặp phải năm xung, tháng hạn. Để giải trừ mọi nỗi ưu phiền, người Tày đã đón ông Bụt (tiếng Tày gọi là Pụt) đến để cầu may, giải hạn. Thầy Bụt thì nhiều, nhưng mỗi vùng có cách diễn xướng khác nhau, nội dung cũng có đôi chút khác nhau. Việc đón thầy Bụt thường vào đầu năm mới, khi: “Hoa mận nở trước nhà, hoa đào tươi trước ngõ”. Ai cũng mong cho một năm mới tốt lành, nhất là những nhà có người già, trẻ nhỏ hay ốm đau. Thế là đón thầy Bụt đến và đêm “diễn xướng” bắt đầu.

 Phần quan trọng của cuộc lễ là đêm xướng của thầy Bụt. Bụt là người chủ lễ. Ông Bụt hay bà Bụt khi hành lễ gọi là nhà Sjay. Phụ lễ có từ một đến ba người, chủ yếu là góp tiếng (pang hinh)

Chiếc quạt trong tay nhà Sjay vừa để quạt, vừa là đạo cụ, gấp lại là thành mái chèo vượt biển, xoè ra là xua mây đuổi gió tuỳ theo lúc diễn xướng. Nhà Sjay dùng bộ xích đồng có gắn những quả chuông nhỏ làm bộ gõ đệm cho lời hát. Tiếng nhạc rung nghe như tiếng chuông, tiếng vó ngựa, tiếng sấm sét, gió mưa làm cho hồn của lời hát thêm bay bổng.

Trong đêm hát, nhà Sjay thống lĩnh mười vạn quân: “Ba vạn đội mũ sắt lên đường/ Bảy vạn đội mũ gang hành lộ. Nhà Sjay hoá phép cho đạo quân đó thu nhỏ lại: “Ba vạn ngồi bẹ chuối không rung/ Bảy vạn ngồi đồng tiền không kín/ Ngồi hạt đỗ không đầy/ phi ngựa qua lỗ chôn kim đi lại”. Trong đoàn quân đó có: Thổ công, Thổ địa, Công sào dẫn đường; các Pò ải, Mường giang gánh lễ vật; hai nàng Hương và noọng Hải Va mang tư trang, thắp hương, chăm lo cho Sjay.

Con đường lên dâng lễ tổ, trong trường ca là đường từ bàn thờ tổ xuống giát nhà, xuống thang, ra ngõ, qua đồng, qua mỏ nước và dừng lại ở phần mộ tổ tiên giữa rừng. Từ đây bắt đầu vào cửa mường tổ. Như vậy theo quan niệm của người Tày thì tổ tiên ở rất gần con cháu. Mọi tiếng nói, mọi hoàn cảnh của con cháu tổ tiên đều thấu hiểu. Người sống dựa vào nhau và cùng có chỗ dựa vững chắc vào tổ tiên mà vững tin vượt lên trong cuộc sống. Người Tày có câu: “Rễ cây ngắn, rễ người dài”. Rễ người không chỉ đan xen trong cộng đồng mà còn sâu sắc trong tâm linh, trong mường tổ. Chính vì vậy mà mường tiên của dân tộc Tày không hề được thi vị hoá. Nó chính là sự tương phản của mường đất chốn trần gian. Ở đây có bản trai khôn, bản gái khôn, có bản trai chăm, gái chăm và liền kề đó có bản trai dại, gái dại, bản trai lười, gái lười. Ở đây được nghe quan Ngũ cốc thuần hoá các con vật để phục vụ cho làm ra hạt lúa. Từ hạt lúa bàn tay con người làm ra chiếc bánh dày dẻo xinh đem dâng tổ, dâng bà mụ hôm nay. Ở đây còn được nghe tiếng loài vật báo hiệu đầu năm để xem sự lành dữ. Rõ ràng mường tổ là cội nguồn của con người. Lên mường tổ chính là sự trở về của cội nguồn để hiểu chính bản thân mình, để lựa chọn cách sống sao cho phù hợp với quy luật của đất trời, cho sức khoẻ, cho ăn nên làm ra, cho đầm ấm trong ngoài.

Sau khi Khảm hải (Vượt biển), nhà Sjay cùng đạo quân vào chợ Đường Chu (chợ ở xứ ma) để mua sắm thêm lễ vật rồi vượt qua chỗ âm binh- hành khiển. Giải hạn xong, đoàn quân của Sjay mang lễ vật lên nộp tổ, nộp cho bà mụ và lại trở về. Khi lên mường tổ thì nhấn nhá cả đêm hát, sự nhấn nhá ấy là hợp lý và cần thiết. Còn khi trở về thì cưỡi mây đạp gió: Chín không dồn một không mình lại/ Chín khái dồn một khái mình về…”. Chất lãng mạn bay bổng, người nghe được giải toả hết mọi ưu phiền để trở về với cuộc sống trần thế, thoả mãn tâm linh. Từ đó mọi ưu phiền bệnh tật bỗng đâu tan biến. Đó cũng là nguyên nhân làm nên sức sống của Pụt chòi khảy (Bụt chữa bệnh) nói chung và Khảm hải nói riêng. Có thể nói đây là một di sản quý báu của dân tộc Tày cần được trân trọng lưu giữ.

Cuộc lễ gồm những cung bậc như sau: Giải tạp (Tẩy uế); Cung thỉnh ( gồm đội mũ nghe tấu trình và chuẩn tấu); Điểm lễ; Lên đường; Vào trình tổ; Thu vía; Ghẹo nàng hương; Lên đường; Vào nghe mộng; Kể về canh về giáp; Vào mường ngũ cốc; Vào xứ quỷ Dà Dìn; Ra cửa biển; Mời gọi Sa Dạ Sa Dồng; Vượt biển; Vào chợ Đường Chu; Vào cửa mẹ hoa; Giải hạn; Lên chỗ âm binh- hành khiển; Nộp lễ; Hồi gia.

Thực hiện Cung thỉnh, ông Bụt chít khăn đỏ ngồi trước bàn thờ tổ, trước mặt là chiếc bàn thấp vừa là ghế để ông Bụt (khi Sjay nhập vào) phán lại điều lành dữ cho gia chủ. Trên bàn có chiếc “xích lình” cùng bộ gieo quẻ, mặt bàn trải vải đỏ. Bên trái bàn có mâm hương để ba bát gạo cùng bánh chay. Trên mâm có bát nước lã cùng nhành thanh táo. Nhà có người già cần giải hạn thì phải đan và dán giấy màu chiếc “bồ vía”, lúc hành lễ thì đựng gạo của con cháu thêm “vía” cho người già. Qua đêm diễn xướng của ông Bụt thì chiếc “bồ vía” đó được buộc lên kèo trong trái nhà. Ngoài ra còn dùng cẫng lá chuối để làm thành những “căn nhà lầu”  nho nhỏ để đựng hoa quả cùng bánh trái, thịt lợn, gà, vịt, coi đó là chiếc kho lương thảo để nhà Sjay mang lên trả nghĩa tổ. Chủ nhà còn phải đào sẵn lấy gốc tre hoặc diễn loại bánh tẻ cùng cây chuối con, đó là cây mệnh của người được giải hạn khi hành lễ xong con cháu đem trồng vào chỗ đất mát lành để cây mệnh, cây lộc đó lên xanh tốt. Cạnh gốc cây mệnh là cây chuối rừng (cuổi khể) có bắp bi đỏ tươi mà lúc hát nhà Sjay ví đó là “Gà trời không cánh không lông”. Gia chủ còn phải sắm đôi cầu tuy bằng nửa ống tre, nhưng đó là cầu mệnh để bắc thay cầu cũ ở ngay ngã ba trước nhà. Người giúp việc còn phải chuẩn bị ba mươi sáu quân trắng đen để gần sáng thầy Bụt giải hạn trên chiếc nia cùng gạo và hình nhân thế mạng. Người giúp thầy Bụt giải hạn trên nia gạo với ba mươi sáu quân là người ngoài họ. Khi xong, thầy Bụt đếm số quân xanh ứng với trực gì, nếu gặp trực không tốt thì phải giải hạn lại cho đến khi được trực tốt thì mới thôi. Việc giã bánh dầy nhuộm hồng hoặc tím là không thể thiếu, chiếc nhỏ là bánh dầy, chiếc to hơn gọi là bánh moọc. Ngoài thủ lợn ra còn có gà, vịt luộc để trên mâm tùy theo nội dung cần cúng. Có một người con gái trẻ, xinh, biết mọi việc coi mâm hương đèn ngồi cạnh ông Bụt cho đến khi xong công việc (gọi là nàng hương). Ngoài ra còn nhờ người biết giúp nhà Sjay thắp hương, sắm bó gai cây găng để nhà Sjay ngồi thay ngựa khi lên đường hoặc tấu trình với nhà Sjay nội dung buổi lễ hôm nay cần làm. Trước hương đèn rực rỡ, ông Bụt đã được gia chủ chuẩn bị đun nồi nước thanh táo cùng mũi lưỡi cày nung đỏ. Ông thầy cầm bát nước lã có nhành thanh táo hát lời giải tạp để quét sạch mọi uế tạp từ tổ tiên đến trong nhà ngoài ngõ rồi nhúng mũi lưỡi cày nung đỏ xuống nồi nước lá thơm đưa hơi nước bốc lên qua trước bàn thờ và đi khắp nhà đưa ra cửa lên xuống.

 Cả một đêm nhấn nhá nhà Sjay cùng quan quân và lễ vật (gồm hoa quả, bánh dầy, cả những chiếc lầu vàng lầu bạc, áo quần ngũ sắc), sau khi vượt qua bao chặng đường gian nan vất vả, đoàn quân quan nhà Sjay vượt biển đến nơi tổ tiên, bà mụ ở. Sau khi giao xong lễ vật, một công việc quan trọng không thể thiếu được đó là Giải hạn. Người sắm lễ phải chuẩn bị nia gạo cùng ba sáu quân bài trắng đen, trên nia gạo đó có cắm con hình nhân thế mạng. Thầy Pụt đọc lời cúng với giai điệu dồn dập, làm động tác Giải hạn cho toàn gia chủ. Người cầm dao bốc nắm gạo cùng quân bài giơ lên dùng dao chém. Xong lời cúng thầy Pụt đếm xem quân bài trên nia gạo phần trắng thuộc trực gì tốt mới được, nếu không phải làm lại. Lời hát của thầy Pụt có nội dung như sau:

Hương thơm con lên tìm

Hương hoa con lên thỉnh

Con thỉnh mười gốc thánh

Thỉnh tới chín gốc Sjay

Thỉnh đến Sjay xuống nước không trôi

Thỉnh đến quan vào lửa không cháy

Thỉnh đến thánh đầu ghế

Trình Sjay ngồi bàn thờ

Thỉnh Sjay không một lời nào giấu

Trình quan không một câu gì giữ

Mời Sjay xuống trần thế giải vận

Mời Sjay xuống gia đình giải hạn

Kể có sinh có mệnh

Nơi có gốc có cành

Kể về nơi gốc tích gia đình

Sư tổ sinh hoàng gia là kể

Kể về nơi ông tổ gốc nhà

Bà gốc chủ gia đình

Sáu chục tuổi sợ vận

Hơn sáu chục tuổi lo hạn…

Nhà Sjay hát lời “Giải hạn” cùng cây “Xích lình” gõ xuống bàn trước mặt mình. Cạnh đấy người khác họ với gia chủ cầm con dao ngồi xổm quay ra phía cửa  nhà, tay cầm lấy gạo trên nia cùng quân bài. Mỗi lần ông thẫy gõ “Xích lình” thì hô to câu “Giải”. Kết thúc bài cúng giải hạn, ông thầy cùng người cầm quân giải đếm quân xanh trên nia gạo, nếu được trực tốt thì đốt hình nhân thế mạng. Công đoạn  “Giải hạn” xong. Nếu gặp phải trực: Trừ hoặc Nguy thì phải làm lại cho đến khi được mới thôi. Sau đoạn này nhà sjay còn phải hát nộp lễ và hát đoạn xuống đường (hồi gia). Nhà Sjay sau kết thúc câu hát “Hồi gia”, nhảy ngồi lên ghế hát kể lại cuộc hành trình lên dâng lễ tổ và lời tạm biệt gia chủ cùng quan khách rồi chúc mọi người một năm mới tốt lành.

 

 

 

                                      H.T.L

                                               sưu tầm và dịch

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter