• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Thành ngữ, tục ngữ về loài chó
Ngày xuất bản: 12/02/2018 2:39:18 SA

Hoàng Việt Quân

 

Chó là vật nuôi thân thuộc, gần gũi với người từ lâu đời. Có nơi, có lúc người ta gọi chó là “Khuyển”, “Cẩu”, “Cầy”. Từ những đặc tính của loài chó (cả mặt tốt và mặt xấu), con người đã vận dụng sáng tạo thành những câu thành ngữ, tục ngữ sinh động, ngoài nghĩa đen còn có nghĩa bóng giàu tính biểu tượng, giàu hình ảnh ẩn dụ, thâm thúy.

Trước hết, để phân định về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của các loài vật, nhân dân ta có những câu tục ngữ như: “Nuôi chó giữ nhà, nuôi gà gáy sáng”; “Giống chó giữ của đi săn/ Giống mèo diệt chuột siêng năng đêm ngày”; “Mèo ở trên nhà, chó ở dưới đất” (dân tộc Cao Lan); “Trâu gõ mõ, chó leo thang” (dân tộc Tày), “Chó cùng nhà, gà cùng chuồng”, “Trâu làm bạn với trâu, chó làm bạn với chó”.

Chó trông giữ nhà rất nhạy cảm: “Chó đâu sủa chỗ không/ Chẳng thằng ăn trộm thì ông ăn mày”.

Thịt chó giầu đạm, bổ dưỡng, ăn ngon, là thứ ăn đặc sản, dân dã của người Việt được đúc kết trong câu nói “Cày tơ bảy món”, “Ngon như xáo chó”, “Sống được ăn dồi chó, chết được bó nàng tôm”, “Sống trên đời ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không”. Ở xã Song An tỉnh Thái Bình có làng Gián Nghị nổi tiếng nuôi chó, làng Cầu (tức làng Kiều Thần) nuôi nhiều lợn bán giống, có câu: “Gián Nghị cứt chó, làng Cầu lợn con”. Ở tỉnh Bắc Ninh lại nổi tiếng với các đặc sản “Thịt chó làng Nghe, nước chè làng Chạm”. Chọn chó để thịt, người xưa có câu “Nhất đốm, nhì khoang, tam vàng, tứ vện”. Chó trắng gọi đụng, chẳng mấy ai hưởng ứng. Vậy mà gần đây, từ cuối thế kỷ XX thịt chó trở thành đặc sản ẩm thực, lại xuất hiện câu “Nhất bạch, nhị vàng, tam khoang, tứ đốm, ngũ lôm nhôm, lục đen sì, thất vằn, bát vện, cửu Tây lai”. “Thui chó bằng rơm” là cách làm thịt chó truyền thống, song đôi khi còn diễn ra cảnh “thui chó nửa mùa hết rơm” nói về sự chuẩn bị thiếu chu đáo khiến công việc không được hoàn thiện như ý muốn. “Treo đầu dê, bán thịt chó”, “Treo chuột lang, bán cầy chó” chỉ việc làm ăn thiếu trung thực, phê phán thói bịp bợm, phô trương, giả danh cái tốt đẹp để đánh lận con đen, che giấu cái xấu bên trong. Khi chê cười loại người thô kệch, ăn uống xô bồ người ta thường ví: “Rượu cả vò, chó cả con”, “Ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột”. Việc ăn thịt chó cũng phải kiêng “Đầu tháng kiêng ăn thịt chó, ra ngõ không gặp gái và người dữ vía”, bởi người ta quan niệm: nếu không kiêng sẽ bị xúi quẩy, gặp điều không may mắn.

Chó là vật nuôi trung thành, không quên nhà, quên chủ: “Khuyển mã chí tình”, “Chó không không cắn chủ”, “Người đi trước, chó theo sau”, “Chó quen nhà, ma quen ngõ”, do đó gia chủ không sợ bị lạc đường: “Lạc đường theo chó, lạc ngõ theo trâu”, “Lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu”. Người Tày có hai vế đối xứng vừa lạ, vừa không sai: “Chó không quên đường, bố không quên nhà”. Chó trông giữ nhà, biết phân biệt người lạ, người quen: “Nhà bà có con chó đen/ Người lạ nó cắn, người quen nó mừng”.

Chó có nhiều lợi ích nên người nuôi chó, buôn chó, chơi chó… đều rất chú ý đến nòi giống chó và xem “tướng chó”. Chó có tính di truyền “chó giống cha, gà giống mẹ” nên cần “biết nòi, biết chó” để chọn giống tốt. Xem “tướng chó” là xem hình dáng và tính nết chó thông qua các móng chân (có huyền đề hay không), xem đốm lưỡi, bốn mắt, đuôi cong, bộ lông. “Tứ túc huyền đề” là loại chó có tướng quý, được người ta chọn mua với các câu nói: “Con chó huyền đề, con gà năm móng đem về mà nuôi”,  “Buôn bán trăm nghề không bằng nuôi chó huyền đề bốn chân”, có khi còn trở thành câu ca: “Dù ai buôn bán trăm nghề/ Không bằng nuôi chó huyền đề bốn chân”, “Chó khôn tứ túc huyền đề/ Tai thì hơi cụp, đuôi thì cong cong”, hay chọn mua loại “Tứ túc hoa mai” tức là con chó có chấm trắng ở bốn chân. Ngoài ra có thể chọn chó theo tiêu chuẩn hình dáng bên ngoài: “Mắt bánh rán, trán bánh trưng, lưng tôm càng”, xem lông: “Nhất bạch, nhị vàng, tam khoang, tứ đốm”, xem khoanh và đuôi: “Thứ nhất ba khoanh, thứ nhì chọc trời” (đuôi cong), chứ không chọn loại chó “Chó ló đuôi hại chủ nhà”. Bàn về kinh nghiệm buôn bán, người xưa có câu: “Bán gà ngày gió, bán chó ngày mưa”.

Chó, gà bị thương thì nhanh khỏi, mau lành, vì “Chó liền da, gà liền xương”. Có người quý chó, đôi khi bày tỏ quan điểm và tình cảm qua các câu nói có phần thái quá, hoặc có ẩn ý: “Gọi trời bằng nó, gọi chó bằng ông”, “Có con phải chiều lòng chó”, “Làm ơn đầu họ như chó đầu bầy”, “Con nhà khó không bằng chó nhà sang”, “Chó sống còn hơn sư tử chết”, “Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang”,“Đất chó đẻ là đất quý”.

Bà con lấy chuyện nuôi chó để khuyên bảo việc nuôi dạy con cái: “Nuôi con chẳng dạy chẳng răn/ Thà nuôi con chó nó canh giữ nhà”, “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”. Để nhắc nhở mọi người cần nể nang, kiêng dè, cân nhắc mỗi khi muốn phê phán, trừng phạt người khác: “Đánh chó phải nể chủ”, “Đánh chó ngó chúa”; người Mông nói: “Đánh chó phải nhìn chủ”, bởi “Đánh nước đau đến cá, đánh chó đau đến chủ” (dân tộc Tày). Giống chó hay hùa, bảo vệ nhau, đánh con này phải phòng ngừa con khác cắn trộm đằng sau nên có câu: “Đánh (đập) chó phải ngó sau”, câu này còn mang nghĩa: lúc chống chọi cần cẩn thận giữ gìn nhiều phía kẻo bị đối phương mưu hại, tấn công bất ngờ.

Chó sống bên nhau nhiều khi cũng hục hoặc, tranh giành, cắn xé lẫn nhau, nhưng khi gặp nguy hiểm lại rất đoàn kết: “Loài chó thường cắn lẫn nhau, khi gặp sư tử cùng nhau kết đoàn”. Người Cao Lan nói: “Một con chó không thành đàn, một rừng không thành núi”. Trong cuộc sống đồng bào thường nhận xét và có lời khuyên bảo con người: “Chó dữ dùng xích ngắn”, “Đi chợ không mang theo chó, đi làm đồng không mang theo trẻ em” (dân tộc Tày), “Ở với chó sói thì sớm muộn cũng thành chó sói” (dân tộc Mông), “Chó ba quanh mới nằm, gà ba lần vỗ cánh mới gáy”, “Bảy chén chó tha hồ liếm mặt giữa bản” (dân tộc Thái), “Quen chó chớ mó răng, quen voi chớ sờ ngà”.

Trong kinh nghiệm trồng trọt, bà con cũng nhắc đến con chó: “Xoan chân chó, mó hạt bông”- khi xoan bắt đầu đâm chồi giống như bàn chân chó thì bắt đầu gieo hạt bông. Bà con có cả kinh nghiệm dự đoán thời tiết liên quan đến chó: “Sầm Đông, sáng Bắc, tía Tây/ Chó đen ăn cỏ trời này thì mưa”, “Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa”. Người Tày vùng Cao Bằng có câu: “Mây kéo về xuôi chó mèo mặc áo tơi/ Mây kéo về bên Tàu lấy thóc ra phơi”. Ở Thái Bình có câu ca: “Tháng tám thì đàn bà câm/ Dần sàng gãy cạp, chó thâm cạnh sườn”. Vùng cao Than Uyên (Lai Châu), Ô Quý Hồ (Lao Cai) ngày xưa có câu: “Ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyên”, “Ruồi vàng, bọ chó, gió Ô Quý Hồ”. Bị bọ chó cắn rất ngứa ngáy, khó chịu, người Tày nói: “Tức con bọ chó, đốt đống lửa”.

 

Nuôi chó, gia chủ phải chăm sóc, cho ăn uống đầy đủ, không thì bị người đời chê cười: “Chó gầy xấu mặt người nuôi”, nếu gia chủ “Ăn hung thì chó được nhờ”, nếu “Ăn cơm với cá, cơm chó không còn” (Tày), hoặc “Ăn cơm, hết phần chó” để vật nuôi bị đói sẽ diễn ra cảnh “chó khô, mèo lạc”, khác gì chó hoang, mèo hoang, câu nói còn ám chỉ người lang thang, vật vờ.

Người Tày có kinh nghiệm nuôi mèo nuôi chó: “Mèo bị còi thì cho ăn cá, chó bị còi thì cho ăn đường”. Thông thường “chó ăn xương, mèo ăn cá”, nhưng chó, mèo cũng hay ăn vụng nên thức ăn phải được giữ gìn, bảo quản kín đáo, chắc chắn với câu nói: “Chó treo, mèo đậy”, hay “Giấu kín thì chó hết vào”. “Chó ăn vụng bột” chỉ hành vi vụng trộm, lấm lét, sợ sệt, không che giấu nổi. “Chó ăn trứng luộc” chỉ sự vớ bở, may mắn được hưởng thụ món ăn ngon, bổ dưỡng. “Chó ăn mắm mực” chỉ kẻ hèn mọn lại dùng thứ quá sang trọng. “Chó ăn đá, gà ăn sỏi” là nói về nơi đất đai trơ trọi, cằn cỗi, nghèo nàn. “Chó tha đi, mèo tha lại” là nói về vật ít giá trị, bị chê bai, ruồng bỏ, đến chó mèo cũng chả thiết, bị đùn đẩy qua tay nhiều người. Mượn chuyện “Chó ghét đứa gặm xương, mèo thương người hay nhử” để nói về thói tật của con người. Nhưng cũng có câu “Chó thích đứa gặm xương, mèo thương người ăn cá” để nói người ta ưa thích kẻ hành động giống mình. Nói về sự chê bai kén chọn có câu: “Chuột chê xó bếp chẳng ăn/ Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre”. “Không kính lão thì chó nhai xương”- ý nói người khỏe mạnh, mắt sáng thì thiệt cho chó. Chê kẻ lắm mồm “Xoen xoét như chó liếm chảo”. Câu “Chó săn, chim mồi” mang nghĩa ám chỉ kẻ xấu, làm tay sai cho kẻ khác. Chê kẻ luôn miệng chửi mắng người khác: “Chửi như chó ăn vã mắm”. Có khi chó bị oan gia: “Chó đen ăn vụng, chó trắng chịu đòn”, “Con mèo đánh vỡ nồi rang/ Con chó chạy lại mà mang lấy đòn”. Lại có câu “Không có chó, bắt mèo ăn cứt” ám chỉ một sự thay thế bất đắc dĩ, không được như ý, mĩ mãn.

Chó được nuôi dưỡng nên biết thân phận không bao giờ vòi vĩnh, nhu cầu ăn no có khi không được đáp ứng, bởi vì: “Cơm đâu cho vừa bụng chó”, “Lợn ăn ngập nanh, chó ăn một bát”, vậy mà vẫn mang tiếng “Tham ăn như chó”, thậm chí người ta lấy cớ ăn nhiều, ăn tham của chó để từ chối giúp đỡ người khác: “Cơm đâu no chó, thóc đâu no gà”, “Cơm đâu no bụng chó, cỏ đâu no bụng trâu”. Người ta còn lấy việc ăn của chó để nói về lòng tham làm giàu của con người với ý chê bai, khinh thị: “Làm như trâu mới khó, ăn như chó mới giàu. Lên án những kẻ cậy thế nơi mình ở, nơi quen biết để bắt nạt, hăm dọa, chèn ép người xa lạ với các dị bản: “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng (gà cậy vườn)”, “Chó ỷ thế nhà, gà ỷ thế chuồng (gà ỷ thế vườn)”, “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần cùm (cũi), hùm cậy gần rừng” (dân tộc Mường)

Éo le và trái khoáy hơn là cái cảnh “Chó chùa bắt nạt chó làng”, “Chó chùa ăn hiếp chó làng”. Người Mông có câu tố cáo: “Chó nhà quan muốn cắn càn thế nào cũng được”. Có khi chưa hành động mà chó đã hăm dọa: “Chó chưa cắn đã chìa răng ra”.

Chó khôn ngoan, thông minh nhưng cũng có nhiều tật xấu, thói xấu, ngu dại. Người ta dựa vào đấy mà có nhiều câu thành ngữ, tục ngữ, câu ca với các phép ví von, so sánh để ám chỉ người: “Khôn như chó”, “Dại như chó”, “Ngu như chó”, “Tham như chó”, “Hỗn như chó”, “Ác như chó”, “Run như cầy sấy”, “Lưng dài như chó liếm cối”, “Lơ láo như chó thấy thóc”, “Như chó với mèo”, “Loanh quanh như chó nằm chổi”, “Tiu nghỉu như chó cụp đuôi”, “Vợ với chồng như hồng với cốm/ Nào ngờ như chó đốm mèo khoang”. Có khi người ta căn cứ vào câu so sánh: “Chó ngu, người ngốc” để phê phán, chỉ rõ cái ngốc của con người: “Chó ngu sủa mặt trăng, người ngốc hát ngày mùa” (dân tộc Giáy). Người ta so sánh “Mồm chó, vó ngựa”, “Hàm chó, vó ngựa”, “Hàm chó, mỏ diều” để chỉ các phương tiện tấn công, tự vệ của loài vật rất nguy hiểm, nên tránh.

Nuôi loài vật, con người có lúc yêu, lúc ghét, bày tỏ thái độ thật rõ ràng: “Khi thương, bòng co ruột, lúc ghét mắng chó mèo”. Thật oan cho chó mèo lúc chủ nhà tức giận với ai đó, cứ mượn chó mèo mà “Chửi chó, mắng mèo”. Yêu vật nuôi nhưng con người cũng cảnh giác: “Yêu gà gà mổ mắt, yêu chó chó liếm mặt”.

Bình thường, chó không ngồi ghế, nhưng khi “Nước lụt chó nhảy bàn độc”, tức bàn để thờ cúng. Câu tục ngữ này có ý nói: nhờ có cơ hội, kẻ hèn kém, bất tài nhảy lên địa vị cao sang. Câu này còn có dị bản: “Gặp nước lụt chó leo bàn độc/ Vắng chúa nhà gà mọc đuôi tôm”. Thôn (làng) Đông Mai thuộc xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh có câu: “Đông Mai chó cắn ngang tai”. Ngày xưa Đông Mai là một trong ba địa phương bị ngập úng nhất xứ Đông Ngàn, chó và người nhiều khi phải sống trên mái nhà.

Chuyện “Chó cắn, mèo cào” cũng hay được bà con nhắc đến. Nói về sự bình yên trong nhà, bà con người Tày có những câu nói ngược “Mèo không cắn (cấu), chó không cào”, “Lợn không cào, chó không cắn”. Còn thông thường người ta hay nói “Chó cắn trộm”, “Chó cắn càn”, “Chó dữ cắn càn”, “Chó cùng dậu cắn càn” (Tày), “Chó cùng dứt dậu”, “Chó cắn càn, quan làm bậy”, “Chó cắn ma”. Chó cắn trộm đã đành, nhưng chó còn cắn lung tung, nhất là: “Chó cắn giẻ rách”, “Chó cắn áo rách”, chó cắn cả người lành, người nghèo khổ: “Chó cắn người ăn mày”, “Đã khó, chó cắn thêm”. Nhưng người ta cũng có câu: “Muỗi cắn hỏi tai/ Rắn cắn hỏi mắt/ Chó cắn hỏi mình” (dân tộc Tày). Chuyện về chó cắn thì nhiều, chỉ đến khi “Chó chết mới hết cắn”, “Chó chết hết chuyện”.

Thành ngữ, tục ngữ, câu ca về loài chó còn nhiều, thật khó mà sưu tầm hết được. Chỉ biết loài chó là vật nuôi có ích cho con người, cho xã hội và cũng có nhiều tật xấu được bà con dựa vào đó để sáng tạo nên những câu thành ngữ, tục ngữ vừa đề cao những đức tính tốt đẹp của loài chó, đúc rút ra những kinh nghiệm trong quá trình chọn chó, nuôi chó, ăn thịt chó, kinh nghiệm trồng trọt, dự đoán thời tiết, vừa có những lời nhận xét, khuyên bảo con người, đồng thời bày tỏ thái độ phê phán, chê bai những thói xấu của con người. Điều quan trọng là mọi người hãy sống sao cho ra giống người, như bà con vẫn nói: “Làm người mới khó, làm chó thì dễ”.

                                                                

                                 

             H.V.Q

                                                         

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter