• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Nhà văn và dịch giả cùng Khai thác và Phát triển ngôn ngữ
Ngày xuất bản: 12/05/2016 3:02:21 SA

“Công ty Khai thác và Phát triển ngôn ngữ” có thể coi là truyện ngắn gây ấn tượng mạnh nhất trong cuốn “Trinh nữ ma nơ canh” của Lê Anh Hoài. Ý tưởng, ngôn ngữ, cách thức dẫn truyện và khả năng mô tả tâm lí nhân vật độc đáo khiến một người đã từng sống và làm việc nhiều năm ở Việt Nam với một tình yêu văn học Việt, yêu tiếng Việt như dịch giả Peter Ross hứng thú, ông dành nhiều thời gian để chuyển ngữ công phu truyện ngắn này sang tiếng Anh. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tác phẩm “Công ty Khai thác và Phát triển ngôn ngữ” cùng bản dịch tiếng Anh.

Nhà văn Lê Anh Hoài

 

Vào đúng lúc viện Hàn lâm tư vấn cho Chính phủ ban bố điều luật về quyền sở hữu tuyệt đối với những giá trị sáng tạo, trong đầu Mr. T bỗng lóe lên một sáng kiến mà càng lúc, theo thời gian trôi qua, nó càng trở nên vĩ đại: Ta sẽ sở hữu những từ riêng do chính ta nghĩ ra.

Vốn là người thông minh, dù không thực sự đi sâu vào chuyên môn nào, T nhanh chóng liệt kê ra một số từ vô nghĩa. Ban đầu, T cũng có nghĩ đến những từ phổ biến và thầm hình dung ra ngay những khoản lợi lộc kếch xù do việc sở hữu mang lại. Nhưng, với đầu óc thực dụng nhưng có thực tế, T hiểu ngay ra rằng ngay lập tức không thể có được tài sản đó.

Bất cứ ai đã từng đi qua và chưa bị trơ lỳ để quên mất thời trẻ con cũng nhận thấy mình đã từng băn khoăn với những từ có thật, có thể phát âm rõ ràng, gần giống như một từ đã có sẵn nhưng lại chẳng có nghĩa gì. Lũ trẻ con, đứa nào chẳng từng lẩm nhẩm lần mò, trèo leo để vượt thoát hay đúng hơn là định vị trên những khái niệm hiển hiện ra bằng các từ ngữ như thế. Thậm chí còn có những đứa từng thích thú với những thử thách mới mẻ lần đầu tiên đến trong đời. Chúng hô hét như muốn cả thiên hạ phải biết điều chúng đang phát hiện, lèm bèm diễn thuyết với những khái niệm của riêng chúng, có đứa thậm chí rên rỉ khoái cảm lên với những chuỗi âm thanh gồm một hoặc hàng loạt những từ vô nghĩa như thể chúng có một ý nghĩa cộng đồng nào đó, cho đến khi người lớn phải quát lên vì quá rác tai, hay dọa đánh vì họ bị chúng làm đau đầu, lũ trẻ mới thôi.

Vậy là, Mr. T đã dành ra trọn một buổi sáng, với tách cà phê kích thích sáng tạo như lời quảng cáo của hãng và nửa bao thuốc lá kích thích hưng phấn cũng theo lời quảng cáo, đã nghĩ (hoặc nhớ lại?) ra gần 50 từ (chính xác là 49 từ). Số từ này viết kín hai trang giấy với kiểu trình bày trang trọng bằng chữ in hoa, cứ mỗi từ chiếm một dòng.

Tại Viện ngôn ngữ thuộc Viện Hàn Lâm, một Viện sỹ tuổi trung niên chịu trách nhiệm trực ngày hôm đó đọc hai trang giấy do T mang đến với vẻ chăm chú có phần cường điệu. Ông cố nén một nụ cười mỉa mai trước văn bản không biết nên gọi tên là gì kia. Rồi bỗng mặt giãn nở như đã tìm được giải pháp vừa kiên quyết vừa lịch sự nhất, lại vừa không hề xa rời tiêu chí hành xử như một khoa học gia chân chính, trung niên viện sỹ phán:

“Viện chỉ có thể cấp chứng nhận bản quyền những từ ngữ này cho ông khi và chỉ khi ông giải thích được nghĩa của chúng!”.

Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, móng tay nhọn lại có kéo sắc. Thử thách do nhà ngôn ngữ thiếu thiện chí kia đem lại một cơ hội sáng tạo cho Mr. T. Cũng phải nói thêm, như bất cứ một phát minh sáng chế quan trọng nào trong lịch sử loài người, tất thảy đều phải vượt qua những thử thách, dưới dạng vấn nghi, chính thống thì công kích, phổ biến nhất là mỉa mai chế giễu. Có những trường hợp từng bị trở thành nhân vật của chuyện tiếu lâm, trở thành cảm hứng bất tận của số đông khi họ truyền khẩu những câu vè châm chọc bất tận. Cho đến khi phát minh chứng tỏ được mình thực sự có tác dụng trong đời sống loài người (kể cả là nuôi người hay giết người) thì những công kích mới chấm dứt.

Vì những từ mà Mr. T nghĩ ra, như đã nói trên, chúng vốn là những từ vô nghĩa, nên T cũng mất một lúc khá lâu để gặm nhấm cảm giác thất bại. Đau hơn nữa, vì trước đó, T đã thầm tưởng mình nắm chắc phần thắng trong tay. Tuy nhiên, tôi đã nói T vốn là một dạng thiên tài chưa nhỉ, một ý nghĩ lại nổ bùng lên trong trí óc thiên tài ấy: Mới đầu làm gì có từ nào có nghĩa. Vậy ta sẽ cấp nghĩa cho những từ của ta!

Đây là bước ngoặt quan trọng nhất trong quá trình tư tưởng lớn này. Đây cũng là thao tác quan trọng khiến những thắng lợi của Mr. T về sau ngày càng rực rỡ. Nói cụ thể như thế này, nếu vị viện sỹ trung niên kia hôm đó lơ là, tắc trách, hoặc giả cao hứng, nhận lấy bản đề nghị của Mr. T để đưa lên hội đồng xét duyệt. Từ đó, có thể phán đoán: 1. phần nhiều khả năng là phát minh của T rơi vào im lặng đáng sợ như vẫn thường xảy ra bởi hệ thống quan liêu của Viện Hàn lâm; 2. Hội đồng cũng lơ là, tắc trách hoặc chạy theo phong trào, hoặc bị căn bệnh thành tích hành hạ, đã cấp bằng phát minh và chứng nhận bản quyền cho Mr. T. Trong cả hai trường hợp, câu chuyện chẳng còn gì đáng nói bởi hoặc T sẽ quên đi phát minh có tính ngẫu hứng này, hoặc T sẽ có quyền sở hữu với những thứ hầu như là vô giá trị.

Vậy là, dưới sự trợ giúp của những hãng cà phê và thuốc lá nổi tiếng về sáng tạo và gây hưng phấn, trải qua ba ngày chỉ ngủ rất ít, Mr. T đã gắn được hết nghĩa cho 49 từ. Nếu ai đang cười ruồi cho rằng tại sao lại phải mất quá nhiều thời gian như thế cho một việc có thể rất tùy tiện (gắn nghĩa cho một từ vốn đang không có nghĩa thì gắn thế nào chẳng được, sic!), tôi xin mở ngoặc rằng công việc của Mr. T là một việc sáng tạo. Ông cần đọc vang lên từ ấy nhiều lần, ngẫm nghĩ về cảm giác (không chỉ là thị giác và thính giác mà còn là toàn thể sự tồn tại của từ ấy, lắng nghe nó gây ra với đầu óc thiên tài của mình những điều gì). Bên cạnh đó, ông còn liên tưởng nó với một hệ từ sinh lợi (cái này sẽ nói sau). Với những người ưa chuộng tư duy, xin nói ngay rằng đây là một quá trình có bản chất tư duy. Với những người ưa chuộng nghệ thuật, xin lưu ý lần nữa đây là quá trình sáng tạo. Và với những người còn lại, xin nói rằng đây là một việc giống với đặt tên cho đứa con mới chào đời.

Lần thứ hai Mr. T đi đến Viện ngôn ngữ thuộc Viện Hàn lâm, ông chỉ muốn gặp lại vị trung niên viện sỹ để chứng kiến vẻ mặt kinh ngạc của vị này. Nhưng đón tiếp T lần này là một viện sỹ trẻ, trẻ nhất không chỉ ở Viện Ngôn ngữ mà còn là viện sỹ trẻ nhất Viện Hàn lâm. Tuy vậy, không có nghĩa là viện sỹ trẻ bốc đồng hay bộp chộp, anh mời Mr. T ngồi và bảo cô thư ký pha trà, trong lúc anh chăm chú nghiên cứu các mục từ của Mr. T (quên cả uống trà). Giây lâu, anh ngẩng lên, mắt lấp loáng qua cặp kính trắng: “Đây là một phát minh thú vị, cực kỳ thú vị! Tôi sẽ đưa ngay nó lên Hội đồng!”.

 

***

Cho đến khi Mr. T nhận được giấy mời từ Viện Ngôn ngữ, ông đã gần như quên mất việc xin cấp giấy chứng nhận bản quyền cho những từ ngữ của mình. Gần nửa năm đã trôi qua, và, Mr. T, như bất cứ nghệ sỹ chân chính nào, rất nhanh chóng quên đi những tác phẩm mình đã hoàn thành.

Tờ giấy mời chỉ vẻn vẹn mấy dòng. “Kính mời công dân…”, “chúng tôi trân trọng thông báo…”, Phần quan trọng nhất là: “để ký xác nhận bản quyền sở hữu trí tuệ với ngôn ngữ…”.

Hóa ra thủ tục vô cùng giản đơn, T chỉ cần trình chứng minh thư nhân dân, sau đó ký vào một số chỗ, trong đó có một chữ ký vào một cuốn sổ khổ lớn và dày cộp. Vẫn người viện sỹ trẻ tuổi và cấp tiến cùng cô thư ký vừa pha trà vừa lo việc văn thư tiếp ông. Chỉ sau khoảng mươi phút, Mr. T nhận được bằng chứng nhận có chữ ký của Viện trưởng Viện Ngôn ngữ, thừa lệnh Viện trưởng Viện Hàn lâm, được sự ủy quyền của Tòa án Tối cao. Bằng chứng nhận ghi rõ, từ ngày đầu tháng tới đến hết đời của công dân T, cộng thêm 20 năm, với những người thừa kế hợp pháp, những từ (có phụ lục số… kèm theo) thuộc về sở hữu của công dân T. Việc thực thi quyền sở hữu này căn cứ vào luật pháp của nước cộng hòa, trực tiếp do chi nhánh cảnh sát ngôn ngữ thực hiện.

“Chi nhánh cảnh sát ngôn ngữ? Họ là ai và ở đâu? Thưa cô?”

Nở một nụ cười nghề nghiệp, cô thư ký nhỏ nhẹ:

“Đó là một đơn vị mới thành lập. Thực ra, để gọn nhẹ biên chế, đơn vị chỉ cần một người. Người đó chính là viện sỹ K đây. Trong trường hợp cần cưỡng chế, lực lượng cảnh sát quốc gia sẽ được huy động!”.

Là viện sỹ trẻ tuổi cấp tiến. Anh này nhìn Mr. T, hơi rướn thẳng người, cằm thu đầu ngay ngắn, viện sỹ K nghiêm túc:

“Ông có thể làm việc với tôi, trực tiếp hoặc thông qua luật sư. Tôi cũng vừa lấy văn bằng luật đầu năm nay”.

Thu lại ánh mắt để rồi tiếp tục phóng nó ra với một vẻ mạnh mẽ hơn, viện sỹ K hạ giọng:

“Đây là một lĩnh vực mới, rất mới mẻ. Và không phải tượng trưng đâu. Nó hoàn toàn có thể sinh lợi. Cho ông, cho Viện và cho cả đất nước này!”

 

***

Khi một công việc gặp được các yếu tố thuận lợi, thường được đúc kết bằng câu: thiên thời, địa lợi, nhân hòa, nó tiến triển rất nhanh chóng. Công việc của Mr. T và việc sỹ K chính là như thế, nó như một cây non nhanh chóng vươn cành lên bầu trời cao rộng, và cắm sâu bộ rễ chắc khỏe vào lòng đất. Nhìn xa trông rộng, T thành lập ngay một công ty mang tên “Khai thác và phát triển ngôn ngữ đương đại” (sau đây, xin gọi tắt là “Công ty”), mời viện sỹ K làm Chủ tịch Hội đồng cố vấn và thuê luôn cô thư ký của Viện Ngôn ngữ làm người quản lý sổ sách cho mình. Lưu ý, nhân vật này có tên, là N.

Đúng cái ngày đầu tháng, khi quyền sở hữu số từ đã được pháp luật công nhận có hiệu lực, Mr. T tổ chức cuộc họp báo lớn tại trụ sở của công ty. Cô N hóa ra còn là một chuyên gia tổ chức sự kiện báo chí. Các nhà báo rầm rập kéo đến, bởi chính bản thân sự kiện cũng đã rất hấp dẫn: Lần đầu tiên, trong lịch sử nước cộng hòa, khoan, trong lịch sử loài người thì đúng hơn, có những từ có tác giả hẳn hoi. Hơn thế, chúng có bản quyền.

Sự kiện rôm rả trên báo chí truyền hình đến cả tháng sau. Một số tờ báo thủ cựu gọi đây là trò chơi ngông và là phát minh vô nghĩa. Tuy nhiên, những tờ báo mạng nhiều người đọc nhất và kênh truyền hình văn hóa – giải trí hot nhất đất nước thì phỏng vấn Mr. T và viện sỹ K đồng thời đưa nhiều bình luận rằng đây là một tiến bộ về phát triển ngôn ngữ, văn minh về luật pháp, vân vân và vân vân. Với những cơ quan ngôn luận này, cô N đã đưa phong bì đậm, đồng thời công ty áp dụng hình thức khuyến mại cho phép sử dụng miễn phí các từ thuộc sở hữu của Mr. T cho đến hết năm; sẵn sàng tạo điều kiện gia hạn thêm. Với những tờ báo không thiện chí, Công ty chỉ cho phép nhắc đến số từ này trong thời hạn một tuần kể từ khi họp báo. Sau đó, muốn nhắc đến phải trả tiền. Các tờ báo này rất cay cú, một số tờ quyết định dùng cụm từ “loại từ ấy” hoặc “nhóm từ sở hữu riêng”. Riêng một tờ báo có tiếng là dai dẳng khi theo đuổi các vụ việc quyết định bỏ tiền ra để “chỉ mặt, đặt tên” cho đích đáng. Tờ báo này thường xuyên trích dẫn bình luận và phỏng vấn vị trung niên viện sỹ cùng hai vị viện sỹ già khác (những người thiểu số thất bại trong cuộc bỏ phiếu chống lại phát minh của Mr. T ở Viện Ngôn ngữ).

Tất cả đều nằm trong hoạch định của T. Không cần là nhà ngôn ngữ học, ông ta hiểu rõ, hiểu nhanh và hiểu sâu hơn các viện sỹ, rằng khi một từ được dùng nhiều và được số đông quan tâm (cứ nói bóng như thể đó là một kỵ húy nữa đi, cái từ được che giấu ấy lại càng đậm nét!). Kết quả, những từ thuộc sở hữu của Mr. T mau chóng trở nên có nghĩa thực sự. Và, do T đã khéo léo đặt vào đám từ của mình những nghĩa thuộc về những từ khá phổ biến, nên quá trình này càng nhanh hơn. Trong đó, có những từ chỉ lương thực, vật nuôi. Trong đó, có những từ chỉ những đồ vật hay được sử dụng (xuất sắc nhất là trong đó có từ tương đương với từ “máy tính”). Và trong đó, có cả những từ chỉ những vật nhạy cảm có thể sử dụng được trong những câu chửi.

Thực sự, đã nhanh chóng hình thành một cái mốt sử dụng các từ của Mr. T trong dân gian, nhất là trong giới trẻ và trong tầng lớp quý tộc. Chỉ sau nửa năm, theo đánh giá của Viện nghiên cứu các vấn đề xã hội, thông qua những cuộc điều tra công phu và khách quan, (xin phép không trích dẫn con số lằng nhằng): không có ai trong nước cộng hòa lại chưa một lần dùng từ của Mr. T. Rất nhiều người đã hoàn toàn thay thế từ đồng nghĩa vốn có từ bao đời nay để dùng từ của Mr. T.

Ở nước cộng hòa, có những giá trị thuộc quyền sở hữu cá nhân, được nhà nước công nhận và bảo hộ, nhưng cộng đồng lại có thể sử dụng phổ biến, mà đúng là trên thực tế, không thể có cơ quan nào, dù vô cùng mẫn cán, có thể đi tới từng cá nhân để thu phí. Kiểu như quyền sở hữu của Mr. T, ở nước cộng hòa cũng có khá nhiều, nổi bật là trong lĩnh vực âm nhạc. Hãy hình dung một tình huống thế này, một đám choai choai mới lớn, đang tụ tập ba hoa, chứng tỏ sự từng trải và sành điệu, chúng ra sức văn hoa và chửi thề bằng ngôn ngữ pha trộn những từ của Mr. T, bỗng nhiên một vị cảnh sát ngôn ngữ xuất hiện bắt quả tang, và lập biên bản, ghi vé phạt? Và rồi, cha mẹ của những đứa choai choai kia sẽ phải tới nộp phạt vào ngân khố nhà nước? Không. Có cách đơn giản hơn nhiều: Người dân phải nộp một số tiền thuế (rất nhỏ, so với tổng số tiền thuế) để được sử dụng những tiện ích thuộc sở hữu tư nhân kia. Nhà nước, căn cứ vào mức độ sử dụng của cộng đồng, sẽ tính ra được mức phải trả cho từng chủ sở hữu. Như vậy, có những chủ sở hữu những giá trị tưởng chừng rất quan trọng và đầy ý nghĩa, nhưng vì cộng đồng ghẻ lạnh, sẽ chỉ nhận được những khoản chia rất tượng trưng; nhưng có những thứ được cộng đồng thường xuyên sử dụng, sẽ giúp người sở hữu chúng có được khoản thu kha khá.

Đó mới chỉ là một phần của khoản thu, nhưng lại là phần lớn. Cái hay của chuyện này là đa phần dân chúng không hề biết lại có cách làm ăn hiệu quả đến như vậy. Phần còn lại đến từ việc thu từ các báo chí, truyền hình, các nhà xuất bản. Cánh truyền hình và phát thanh méo mặt vì khi phỏng vấn hoặc làm talk show với một nhân vật, đặc biệt là nhân vật trẻ tuổi, từ thuộc sở hữu của Mr. T phun ra ầm ầm. Dĩ nhiên nhà đài có cắt gọt để phù hợp với nội dung và để giảm chi phí, nhưng cứ đếm chữ ăn tiền thì chỉ một ngày thôi, một đài truyền hình cũng phải chi phí đáng kể. Có đài truyền hình đã cắt bỏ từng chữ được phát âm và thay vào bằng từ tương đương miễn phí cho hiện lên màn hình, kiểu như một dạng phụ đề phiên dịch. Với đài phát thanh thì bó tay. Nhưng, ngoài việc bị công chúng tẩy chay, đài truyền hình này đang phải đối mặt với vụ kiện từ nguyên đơn là Công ty của Mr. T. Bởi hành vi trên đã xâm phạm nặng nề đến quyền tự do phát ngôn và sử dụng ngôn ngữ của công dân – theo lời cáo buộc của Luật sư trưởng Công ty. Nhà đài đang phải đề nghị được xin lỗi công khai trước tòa để tránh một án phạt tiền lớn. Và phía Công ty, thông qua người phát ngôn, tuyên bố coi đó là sự thành khẩn nhưng chưa đủ. Cho đến nay, án phạt vẫn treo lơ lửng trên đầu đài truyền hình nói trên.

Nói thêm, từ quãng thời gian này trở đi, Mr. T hầu như không xuất hiện trước công chúng nữa, ông cho rằng như vậy sẽ sang trọng hơn. Ông đúng. Chưa kể quanh ông bắt đầu xuất hiện các lời đồn đại, hình thành dần huyền thoại luôn bao phủ các nhân vật lớn trong xã hội loài người.

Trở lại với các cơ quan thông tin đại chúng. Trừ một số nơi được Mr. T ưu ái cho phép sử dụng từ ngữ của mình, số còn lại buộc phải điều đình với những người được phỏng vấn, rằng xin họ vui lòng hạn chế dùng những từ bị thu phí. Tình hình này làm xuất hiện những nhân vật, đặc biệt trong giới showbiz, đã tuyên bố bỏ tiền riêng ra để được nói cho thoải mái. Ca sỹ Lady G là người đầu tiên làm việc đó và danh tiếng của cô nhanh chóng vượt qua biên giới quốc gia. Người mẫu C thì làm xôn xao báo mạng khi tiết lộ tên đại gia đã hứa tài trợ cả đời khoản phát ngôn của cô, trên mọi phương tiện thông tin đại chúng. Ít lâu sau, cô gây một vụ nổ truyền thông khi cho ra mắt một MV với các bài hát sử dụng đậm đặc các từ mua từ Công ty, dĩ nhiên nhà tài trợ cũng ăn theo danh tiếng lần nữa. Ít người hay, cô N – người quản lý của Mr. T đã kín đáo đàm phán phía sau vụ việc này. Đây chính là sự kiện để Công ty tiến vào thu bản quyền từ lĩnh vực ca nhạc, karaoke.

Những phóng viên nhạy bén nhất đã tìm cách phỏng vấn Mr. T với chủ đề: ông có sẵn sàng tài trợ cho một hoặc nhiều ngôi sao phần ngôn ngữ của ông. Ông đã ưu ái một tờ báo mạng chỉ với một câu trả lời ngắn gọn: Tôi có những việc khác quan trọng hơn nhiều. Ông kết câu trả lời bằng một từ hoàn toàn mới, được tờ báo giải nghĩa đó là một thán từ vừa có nghĩa là “không” vừa có nghĩa là “mẹ kiếp”, lại vừa bao hàm nghĩa “chờ đấy”. Tờ báo cũng “trân trọng thông báo”: Từ này, cùng với một số từ khác chưa công bố, đã được Mr. T đăng ký bản quyền tại Viện Ngôn ngữ, trực thuộc Viện Hàn lâm.

Dư luận lại một phen dậy sóng và chẳng phải chờ lâu. Ít ngày sau, vào ngày đã được Mr. T lựa chọn (có nên nói không nhỉ, nhưng Mr. T là người khá tin tưởng cái mà ông gọi là tâm linh), người phát ngôn của Công ty đã lên truyền hình quốc gia, tuyên bố về việc ngài T đã ký một văn bản cùng với đại diện Văn phòng Chính phủ, tài trợ hoàn toàn việc sử dụng tất cả những từ thuộc sở hữu của ngài hiện tại cũng như tương lai. Đối tượng được ưu đãi là các quan chức chính phủ. Những cuộc đàm phán tiếp theo đã dẫn đến kết quả, được đăng tải trên trang mạng của nhà nước, rằng đối tượng được sử dụng miễn phí là các quan chức từ cấp trưởng phó phòng trở lên và tương đương; ở địa phương là trưởng phó cấp huyện trở lên. Bài báo cũng cho biết, ngài T đang xem xét và sẽ sớm công bố việc tài trợ ngôn ngữ cho các tổ chức phục vụ công ích, các tổ chức từ thiện. Việc này đúng là được tiến hành khá nhanh khiến uy tín của Mr. T tăng lên khủng khiếp và người ta đồn ông sắp ứng cử đại biểu quốc hội. Tuy nhiên, ông đã bác đơn xin phép và xin tài trợ của một nhóm muốn phát triển các từ thuộc sở hữu của ông trong ngôn ngữ dành cho người khiếm thính thành những ký hiệu riêng.

Cũng trong dịp này, Công ty công bố thêm 199 từ mới. Trong số này, có khá nhiều từ ghép âm, láy âm xuất phát từ một từ có sẵn và có nghĩa khác. Việc này gây tranh cãi khá lớn ngay trong nội bộ các nhà ngôn ngữ học. Một trong những ý kiến đưa ra là liệu có cần phải thêm từ để chỉ một khái niệm vốn đã có từ? Nhưng cuối cùng ý kiến này bị đánh đổ vì quan điểm ngôn ngữ cần được phát triển theo hướng đưa ra nhiều lựa chọn cho người sử dụng. Thêm nữa, các chuyên gia của Công ty, với sự trợ giúp tay trong là viện sỹ K đã thuyết phục được hội đồng thẩm định và cả hội nghị toàn thể các viện sỹ ngôn ngữ, rằng những từ được đệ trình lên lần này có sắc thái ngữ nghĩa mới mẻ hoàn toàn.

Từ đó về sau, trung bình cứ mỗi quý một lần, Công ty lại tung ra một loạt sản phẩm mới. Có những từ vô cùng  bình dân, nhưng có cả những từ thuộc về các lĩnh vực chuyên môn sâu. Đơn cử, có đợt gói sản phẩm bao gồm rất nhiều những từ dùng trong triết học. Những từ này không được công chúng sử dụng nhiều (tất nhiên rồi, công chúng đâu cần hiểu đúng bản chất của thế giới), nhưng giới có chuyên môn đánh giá chúng khá cao. Quan trọng hơn, đây hoàn toàn là “hàng nội chất lượng cao”, có thể thay thế rất nhiều từ mượn của nước ngoài. Quan trọng nữa, với những từ kiểu này, Mr. T “đóng góp cho quốc gia và dân tộc” bằng cách chỉ thu mức phí tượng trưng (ông rất hạn chế việc miễn phí, bởi như thế có thể gây ra sự rẻ rúng từ tâm thức người dùng và việc sử dụng bừa bãi mất kiểm soát). Và hình ảnh của Mr. T như một người yêu nước chân chính ngày càng được tô đậm trong lòng công chúng.

Cứ như vậy, các từ thuộc sở hữu của Mr. T ngày càng nhiều. Chúng hòa nhập, lẫn lộn vào ngôn ngữ quốc gia và dân tộc. Sau 6 năm Công ty đi vào hoạt động, chỉ có các chuyên gia mới có đủ khả năng nắm được đầy đủ hệ thống ngôn ngữ thuộc về Mr. T.

Trở lại với lần công bố 199 từ này, số đơn đề nghị được sử dụng miễn phí có thời hạn vì mục đích truyền thông từ các báo, đài lên tới hàng trăm. Trong đó có khá nhiều đề nghị từ các hãng thông tấn lớn trên thế giới. Một trong nhiều lý do là lô từ mới của Mr. T có giá tăng lên khá cao, với người sử dụng có pháp nhân kinh doanh. Cách nghĩ “tiền nào của ấy” đã được Mr. T vận dụng dẫn đến một trận thắng lớn trên cả hai phương diện danh tiếng thương hiệu và lợi nhuận. Một số tờ báo trước đến nay vẫn cay cú với sự nghiệp của Mr. T lại mở chiến dịch chê bai bôi nhọ. Ý kiến đáng chú ý xuất phát từ một chuyên gia chính sách thuế và tài chính công đặt vấn đề có phần thâm hiểm, rằng phải cảnh giác với việc những chính trị gia hủ bại bị mua chuộc, sẽ tìm cách tăng thuế sử dụng phần ngôn ngữ có bản quyền. Ngay lập tức, người phát ngôn của Chính phủ xuất hiện trên kênh truyền hình chính thống của quốc gia, tuyên bố không có chuyện đó. Và đây là một âm mưu xấu xa của những phần tử đối lập phá hoại khối đoàn kết toàn dân.

Chuyên gia chính sách thuế và tài chính công kia thực ra cũng là một dạng “đệ” của Mr. T. Cũng chẳng khó đoán lắm, nhỉ? Cũng vào quãng thời gian này, viện sỹ K đã được thăng chức viện phó Viện Ngôn ngữ. Vì những tư tưởng cấp tiến đột phá, vì tác phong nhanh nhẹn quyết đoán, và dĩ nhiên, vì tuổi trẻ, viện sỹ K còn được đề bạt làm người phát ngôn không phải của Viện Ngôn ngữ, mà của Viện Hàn lâm! Chính sách của nước cộng hòa là chú trọng phát triển tài năng trẻ.

***

 

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, cũng đã hai năm trôi qua kể từ khi Mr. T nhận được bằng chứng nhận 49 từ đầu tiên (những từ này đã được một nghệ sỹ sắp đặt hàng đầu trình bày với nhiều kiểu chữ và kích cỡ khác nhau trên một bức tường lớn trong khuôn viên của Công ty và được dát vàng toàn bộ). Nên nhớ rằng ngôn ngữ có tính thời trang. Mà từ nào được dùng nhiều nhất, cùng với sự kích động của đám đông, sẽ là từ bị cũ, nhàm, chán nhanh nhất. Đó chính là nguyên nhân khiến doanh thu từ số từ đầu tiên này bắt đầu sút giảm. Mr. T đương nhiên là hiểu rõ chuyện đó và như trên đã nói, ông đã kịp thời tung ra lô hàng gồm 199 từ nói trên. Dĩ nhiên việc này đã được thực hiện tuy bí mật âm thầm nhưng hết sức bài bản, trong một nhóm nghiên cứu của riêng Mr. T.

Đừng có nghĩ trong một xã hội dân chủ như nước cộng hòa đây, chỉ có Mr. T mới có thể làm ăn như thể một mình một chợ. Quyền sáng tạo ngôn  ngữ, như trong hiến pháp của nước cộng hòa, là của mọi công dân. Trong thời gian này, có rất nhiều nhóm đưa phát minh ngôn ngữ của mình đến Viện Ngôn ngữ để đăng ký bản quyền. Nhưng, vì đa phần lũ này chỉ là thấy người ta ăn khoai thì cũng vác mai đi đào bừa đào phứa, nên hội đồng khoa học của Viện sau nhiều phen nhóm họp, rất vất vả mà hầu như chẳng thu nhận được phát minh ngôn ngữ nào mới mẻ.

Ít nhất thì đó cũng là những gì mà công chúng biết được qua báo chí. Những tin tức loại này rò rỉ ra cực kỳ ít, theo đó thì đa phần các phát minh ngôn  ngữ đều bị rơi vào tình trạng “thiếu chuyên môn”, một số trường hợp vi phạm luật bảo vệ thuần phong mỹ tục… Thực chất, Viện Ngôn ngữ đã bị tiền từ Công ty phủ kín từ ngoài ngõ vào tận chân bàn góc ghế. Các viện sỹ đổi đời từ hồi Công ty đi vào hoạt động. Viện trưởng là một ông già đã ngừng tư duy từ lâu liên tục được Công ty cung cấp rượu ngoại và xì gà La Havana cùng các chuyến du lịch ra nước ngoài với những hướng dẫn viên chân dài ít học (những người có trình độ cao cấp như ông luôn không bao giờ thích phụ nữ lại còn có học). Phe đối lập trong Viện có ba người thì chỉ sau một thời gian, hai người già hơn đã hoàn toàn trở cờ, như hai con rối mà Viện phó K muốn bảo gì cũng được. Chỉ viện sỹ trung niên, chính người đầu tiên đã tiếp Mr. T khi ông này đến viện, vẫn kiên trì bày tỏ quan điểm chống lại cái mà ông gọi là “bôi bẩn và tham nhũng chữ nghĩa”. Nhưng chẳng ai nghe ông nữa. Và khi Mr. T tuyên bố tài trợ ngôn ngữ của mình cho chính phủ cũng là lúc ông xin nghỉ hưu (mặc dù, đã là viện sỹ Viện hàn lâm thì được ngồi ghế viện sỹ đến khi chết, hưởng đầy đủ chế độ). Nghe nói, sau này ông hầu như không nói gì nữa, người ta gọi ông là “viện sỹ câm”.

Cô N, người quản lý của Mr. T, khi biết được thông tin về những phát minh ngôn ngữ bị Viện bác bỏ, lập tức cử người đến đặt vấn đề mua lại thứ mà Mr. T gọi trong nội bộ Công ty là “rác phát minh”. Đội ngũ đi mua thứ này đương nhiên được gọi là “nhóm đồng nát”. Đồng nát thì rất có kinh nghiệm mua rẻ. Số hàng này sau khi mua về được nhóm nghiên cứu, phụ trách chuyên môn đương nhiên là Viện sỹ K dày công sửa sang, nâng cấp. Mr. T là người quyết định cuối cùng về chất lượng ngôn ngữ và lên lịch đưa sang Viện cấp phép (việc này cũng phải xem ngày giờ đẹp, và phải xin số quyết định phù hợp với phong thủy và mệnh của Mr. T).

Những năm tiếp theo không có nhiều biến cố lớn, trừ vụ kiện dai dẳng với một công ty đa quốc gia chuyên về dịch vụ tìm kiếm bằng các từ khóa trên mạng. UCONES – một tổ chức quốc tế quan tâm đến văn minh công cộng dường như đứng về phía Mr. T trên quan điểm phát triển và bảo tồn văn hóa, còn Tổng Thư ký Liên hiệp các nước cộng hòa thì phát biểu rằng nhân loại cần phải cảnh giác với các siêu đế chế công ty coi thường sở hữu trí tuệ. Vụ kiện với một công ty khác cũng đa quốc gia chuyên về phát triển mạng xã hội thì đạt được thành công hơn với cam kết của công ty này rằng họ sẽ liên tục gửi thư khuyến cáo các thành viên của mạng tôn trọng ngôn ngữ sở hữu riêng khi giao tiếp ảo bằng văn tự. Phía công ty mạng xã hội khăng khăng rằng họ chỉ tạo ra một môi trường tự do cho mọi người kết nối, rằng các công dân đã bị thu thuế gián thu cho việc sử dụng ngôn ngữ có sở hữu riêng này. Lập luận này thật nực cười vì ai cũng biết mạng xã hội là nơi thu hút cực nhiều thành viên vào sử dụng để thu quảng cáo, và trong cộng đồng sử dụng ngôn ngữ quốc gia, có một số không nhỏ lại là công dân của nước khác.

Mạng internet là nơi Công ty thu được ít tiền nhất nhưng lại phải đối phó với nhiều rắc rối nhất. Từ mấy năm trở lại đây, có một cộng đồng tự gọi là “Xóm tiếng phủi”, thoạt đầu là một diễn đàn nhỏ không ai để ý, sau nhờ sự tràn ngập khắp nơi của mạng xã hội, đã trở nên lớn mạnh với tốc độ kinh hoàng. Những kẻ này đua nhau nghĩ ra các từ ngữ và xả chúng ra như thác lũ trên mạng. Theo quy luật sinh tồn, đại đa số những từ ngữ này chết yểu chỉ sau ít ngày và chỉ lan tỏa được trong một nhóm rất nhỏ. Nhưng một số từ thì sống sót và trở thành phổ biến không chỉ trong “Xóm tiếng phủi”, mà lây lan ra khắp nơi.

Điểm đáng ngại nhất của “Xóm tiếng phủi” là họ tuyên bố hoạt động vui là chính, và phi vụ lợi!

Trong một lần hiếm hoi xuất hiện trước công chúng thông qua báo chí (mà là một tờ báo có số lượng phát hành rất ít dành cho tuổi trẻ - phát hành được ít bởi tờ báo có khuynh hướng nghiêm túc), Mr. T bình luận về khuynh hướng của “Xóm tiếng phủi” là: Tuổi trẻ gắn liền với sáng tạo. Sáng tạo ngôn ngữ là một công việc đầy thử thách nhưng đầy phấn hứng. Quan trọng là các bạn trẻ cần hướng năng lượng của mình vào những việc có ích, thực sự có ích cho cộng đồng. Ông cũng so sánh rất tinh tế: hoạt động của “Xóm tiếng phủi” giống hoạt động của những hacker. Ông hoan nghênh những hacker “mũ đỏ” và nói Công ty trải thảm đỏ để nghênh đón họ. Và ông không nói thêm một lời nào về những kẻ “mũ đen”.

Bài báo này được rất nhiều báo giấy trích dẫn, hoặc được đăng lại nguyên văn trên báo mạng. Đa phần các bình luận cho rằng Mr. T có tầm nhìn xa, lòng bao dung, tính độ lượng… vân vân và vân vân. Các đài phát thanh và truyền hình cũng muốn ăn theo, tới tấp xin được phỏng vấn Mr. T nhưng không một lời đề nghị nào được đáp ứng.

Cũng trong thời gian này, ngài Viện trưởng Viện Ngôn ngữ đã đột ngột từ trần khi đang du hí ở nước ngoài. Ở một đất nước trọng văn hóa và ngôn ngữ như nước cộng hòa, tang lễ của ngài được cử hành trang trọng theo thể thức quốc tang. Rất ít người biết, ngài Viện trưởng ra đi giữa lúc thăng hoa nhất, dân gian thường gọi tình trạng này là “thượng mã phong”. Ngài thăng khi đang thốt lên một từ do chính ngài khởi xướng, nằm trong chương trình phát triển ngôn ngữ của Công ty (được Công ty mua ngay từ ý tưởng với giá cao). Nó có ngữ âm thật sự gợi cảm, nhạc tính cao. Nghĩa của nó vừa là “thăng hoa”, lại vừa chỉ “bông hoa của người phụ nữ”. Vì một số cản trở do pháp lý và phong tục (được Công ty gọi chung là “cơ chế”), nhưng quan trọng hơn là vì Mr. T muốn dành những sản phẩm cỡ này cho cái ông gọi là “quả đấm thép” - một số từ loại này chưa được Công ty lên kế hoạch phát hành. Chúng là thứ được sử dụng nội bộ trong diện hẹp chỉ với những lãnh đạo cao nhất Công ty và Viện Ngôn ngữ mà thôi. (Cô gái nghe được từ này trong giây phút thiêng liêng lúc hồn rời khỏi xác ngài Viện trưởng trước đó đã phải ký một bản cam kết rằng chỉ được nghe những từ này, chứ không được sử dụng trong bất cứ tình huống nào). Sự tồn tại của những từ loại này luôn gây tò mò cực điểm đối với đám đông. Họ không biết gì cụ thể mà chỉ lưu truyền nhau những thứ thuộc về huyền thoại để tiếp tục làm dày thêm huyền thoại.

Ngài viện phó K, lúc này đã qua giai đoạn trẻ trung để tiến vào giai đoạn chững chạc chính trường, đã được bổ nhiệm chức Viện trưởng Viện Ngôn ngữ. Chỉ ít lâu sau, ngài K được bổ nhiệm kiêm Viện phó Viện Hàn lâm. Tính từ lúc khởi nghiệp của Mr. T, tròn 10 năm đã trôi qua.

 

***

Những người sử dụng ngôn từ để tạo thành tác phẩm chính là những nhà văn, nhà thơ. Họ có vẻ không phải là nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất trước những từ có sở hữu, nếu tính về chi phí. Nói cách khác, doanh thu của Công ty từ các nhà văn nhà thơ là một con số không lớn. Nhưng ảnh hưởng của việc ngôn ngữ không phải là một thứ miễn phí như không khí, mà khi dùng (một bộ phận) thì phải trả tiền, đối với họ có vẻ đi vào một bề sâu khó lường.

Thoạt tiên, đa số các tác giả này giữ một thái độ có phần bảo thủ trước những phát minh của Mr. T. Cụ thể, họ rất ít dùng các từ loại này, khá nhiều người trong số họ có khuynh hướng thích dùng những từ cổ, khó hiểu đối với đám đông, những từ đa nghĩa, mờ nghĩa. Nhà văn Y – người có sáng tác ngay từ thời chưa lập nước cộng hòa, tóm lại là lão thành, đã từng phát biểu trên truyền hình rằng phát minh của Mr. T cũng như các từ ngữ mới của “Xóm tiếng phủi” là thứ không thể đi vào văn chương. Ông Y nói điều này chỉ ít lâu sau khi Chính phủ nhận tài trợ về mặt ngôn ngữ của Mr. T. Nên điều này mang hàm ý văn chương cao cấp hơn chính trị. Ông chưa biết một thực tế chỉ hai năm sau đã xảy ra: một số từ của Mr. T đã đi vào sách giáo khoa phổ thông. Nhà thơ G thì viết một bài thơ, trong đó bà nói rằng bà đã “chưng cất được một hũ từ cho thi ca của tôi” (nghĩa là không cần thêm nữa?!), và “thơ tôi cất lên từ tiếng mẹ” (chứ không phải từ một Mr. nào đó!). Nhiều người trong giới tán dương những quan niệm này. Đây là cái khiến Mr. T vốn đã không ưa đám văn sỹ lại càng chán ghét họ hơn.

Nhưng không phải tất cả các nhà văn nhà thơ đều như thế. Theo thời gian, các từ thuộc sở hữu của Công ty ngày càng trở nên phổ biến, đến mức nếu tìm cách loại chúng ra hoặc cố tình thay thế bằng những từ cổ điển thì câu văn trở nên tối nghĩa. Nếu một nhà văn muốn hướng tới đông đảo quần chúng hay còn gọi là “viết cho độc giả”, anh hoặc chị ta chẳng còn cách nào khác.

Giữa lúc này, một nhà văn trẻ được coi là “cách tân, tiên phong” đã viết một cuốn tiểu thuyết trong đó anh ta mô tả một giáo phái bí mật sáng tạo ra một mật ngữ để dùng trong nội bộ giáo phái. Mật ngữ đó lại chính là ngôn ngữ phổ thông trước thời có phát minh của Mr. T. Còn phần ngôn từ dùng để dẫn chuyện thì dày đặc những từ ngữ pha trộn giữa các từ của Mr. T, của “Xóm tiếng phủi” và những từ do anh ta tự nghĩ ra, những từ này anh ta công phu chú thích khiến cuốn sách trở thành gần giống với một cuốn từ điển.

Tác phẩm này gây nên một cuộc tranh luận dữ dội không chỉ trên văn đàn mà trên khắp các báo chí. Phe ủng hộ nói đây là một tác phẩm nghệ thuật đương đại xuất sắc, đầy chất giễu nhại và cảnh báo, vân vân và vân vân. Phe chống nói đây là một trò đùa lố lăng, một thứ hổ lốn phi nghệ thuật, một biểu hiện suy đồi của văn hóa đọc, vân vân và vân vân. Cộng đồng “Xóm tiếng phủi” lập tức coi nhà văn trẻ này là một anh hùng. Tuy nhiên, anh này ngạo mạn tuyên bố mình là nghệ sỹ độc lập, không nằm trong bất cứ “xóm” hay “Công ty” nào hết. Anh cũng nhân tiện công kích chính sách tài trợ sáng tác của Hội Nhà văn quốc gia. Anh nói việc Hội bỏ tiền ra mua những từ thuộc sở hữu của Công ty (khi mua sỉ và đăng ký mua trả tiền sớm sẽ được áp dụng chính sách khuyến mại) rồi phân phối đều ra cho các hội viên là một việc nực cười. Đáng lẽ nên làm như Hội Nhạc sỹ, nghĩa là kệ để hội viên có quyền lựa chọn sáng tác hoặc không, đừng có tổ chức, phát động phong trào này nọ. Và khi sáng tác, ngoài việc sử dụng tài năng riêng có, họ sử dụng các tài nguyên trong xã hội theo cơ chế thị trường. Chánh văn phòng Hội  Nhà văn quốc gia lập tức phản bác, rằng đây là việc làm thể hiện sự quan tâm chu đáo của ông Chủ tịch Hội với tất cả hội viên, rằng đây là sự năng động của văn phòng Hội, trong “bối cảnh trình độ thưởng thức ngôn ngữ của độc giả ngày một tăng”. Và rằng, anh nhà văn trẻ không biết vẫn còn những nhà  văn đầy tài năng nhưng có hoàn cảnh khó khăn. Điểm cốt tử, anh cần lưu ý, sáng tác âm nhạc hoàn toàn khác với sáng tác văn chương. Bên đó, số nốt nhạc nói riêng và toàn thể các ký hiệu âm nhạc là hữu hạn và không có ai phát minh ra thêm để Hội phải mua cả!

 

***

Những đợt công bố các từ mới từ Công ty vẫn đều đều diễn ra theo nhịp điệu trung bình là mỗi quý một lần. Thêm nữa, còn có những đợt ra mắt nhân các ngày lễ lớn của đất nước như ngày Quốc khánh, ngày Sáng tạo, ngày Giỗ Tổ… kèm theo cái gọi là “tưng bừng khuyến mại” (thực chất, cụm từ này, cũng như rất nhiều những cụm từ thường dùng, đã được “chuyển ngữ” thay thế bằng từ của Công ty).

Nhưng, có một điều gì đó đã xảy ra và chỉ sau này khi tất cả vỡ lở thì mọi người mới được rõ. Đó là, các từ mới của Công ty dù được nghiên cứu rất công phu về cả ngữ âm lẫn ngữ nghĩa, thậm chí về cả hình ảnh của chúng khi được thể hiện trên văn bản dưới nhiều hình thức trình bày; được tung ra dựa trên nghiên cứu tâm lý học, xã hội học, thị trường học… nhưng sức sống của chúng thì rất có vấn đề, nếu như không muốn nói là đa phần chúng nhanh chóng chết yểu. Con số được tuyệt mật, nhưng đây đó trong giới kinh doanh về sở hữu trí tuệ, người ta đồn đại về một khủng hoảng nội bộ nào đó đang xảy ra ở Công ty, dẫn đến doanh thu sụt giảm thảm hại trong vòng hai năm nay.

Một số nhà bình luận cho rằng, những doanh nghiệp làm ăn chân chính, có đóng góp to lớn cho xã hội như Công ty đang phải đối mặt với những ảnh hưởng tiêu cực từ internet, từ việc sử dụng tràn lan “hệ ngôn ngữ thiếu kiểm soát” (ám chỉ “Xóm tiếng phủi” và cả anh nhà văn trẻ cách tân). Trong giới làm luật xì xào với nhau về một dự luật “Từ điển quốc gia”. Theo đó, nhà nước sẽ ban hành một bộ từ điển liệt kê tất cả các từ hợp pháp. Mỗi năm bộ từ điển này sẽ được cập nhật. Tất cả những từ không nằm trong bộ từ điển đều là bất hợp pháp và công dân nào sử dụng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đúng là có một ý tưởng như vậy, thoạt đầu được Viện trưởng K bóng gió trong một talk show truyền hình, sau được một số “chuyên gia” và thậm chí luật sư trong lĩnh vực bản quyền thỉnh thoảng đề cập. Gay gắt nhất trong việc này là ý kiến từ một Hội mang tên “Hội cha mẹ học sinh quốc gia”. Bà chủ tịch Hội có những thời gian liên tục lên truyền hình và cả báo mạng để ra rả cảnh báo về nguy cơ suy đồi ngôn ngữ dẫn đến suy đồi đạo đức trong giới trẻ, vân vân và vân vân. Bà này hot đến mức sau đó được mời cả vào ban giám khảo của những cuộc thi kiểu như “Thời trang 24”.

Báo chí lại được một phen dậy sóng. Tất nhiên các phóng viên lại ra sức săn lùng để phỏng vấn Mr. T, nhưng đều hoài công. Những kẻ kiên trì nhất trong số đó xì xào với nhau về cái mà họ gọi là “sự vô hình của ngài T”.

Thực chất, Mr. T không chủ trương tuyên chiến với thế giới mạng. Và có thể, từ sâu thẳm, ông không phải là người ưa thích độc quyền. Chính ông là người đã kìm chế những biểu hiện hung hăng của Viện trưởng K trong vấn đề này. Có thể vì ông đã quá giàu có và mất đi động lực? Nhưng chuyện này sẽ phân giải sau, nhanh thôi.

Có một số biến cố xảy ra, như Hội “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng ta” thay đổi lãnh đạo. Đây là một tổ chức gồm những người yêu thích ngôn ngữ học, nhưng không hẳn là những người có chuyên môn cao. Dù họ luôn cố thu nạp những nhà ngôn ngữ học về hưu, những nhà văn già… nhưng nói chung, mặt bằng là thấp (tựa như các Câu lạc bộ văn thơ vẫn mọc lên nhan nhản khắp nước cộng hòa). Ngài chủ tịch Hội này bị tai biến mạch máu não đã phải nằm liệt giường. Người ta bầu lên một vị khác có khuynh hướng hoài cổ cực đoan. Ông này cho rằng ngôn ngữ từ thời trước khi có luật sở hữu trí tuệ trong ngôn ngữ và trước khi mạng xã hội lan tràn mới là cái đáng phải giữ gìn và khôi phục. Không nói ra, nhưng rõ ràng rằng ngôn ngữ của Mr. T và những thứ ngôn ngữ mạng kiểu “Xóm tiếng phủi” đang bị công kích.

Nhắc lại một chút, Hội “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng ta” đã ra đời từ rất lâu. Thời đất nước còn bị ngoại bang đô hộ, hội này phải hoạt động bí mật vì bị quy là chống đối. Nhiều nhân sỹ tham gia hội đã bị đế quốc tù đày. Một vài người đã tuyệt thực đến chết trong tù, có vị tự thiêu chỉ để bảo vệ một thứ vô cùng mơ hồ là ngôn ngữ dân tộc. Những vị này đều được tạc tượng đài, đặt tên đường, tên trường học.

Khi thanh thế của Mr. T lên cao, chỉ khi sự nghiệp của ngài mới bắt đầu được ba năm, đã có những gợi ý bố trí ngài vào chân Chủ tịch hội này (khi đó, vị Chủ tịch đương nhiệm được đề cử phụ trách Ủy ban Văn minh và Văn hiến Quốc gia). Nhưng, Mr. T đã lịch sự từ chối. Không phải vì thiếu tiền để giao tiếp với những mối cần thiết, mà Mr. T cảm thấy đây chỉ là một cái danh hão. Không những thế, nó còn cản trở đến quá trình làm ăn đang ngày một tấn tới của ngài. Những việc cần thiết mà Mr. T gấp rút thực hiện khi đó, là làm mọi việc để cái ghế này rơi vào người mà ngài có thể kiểm soát được. Cô N đã thực hiện công việc này trên cả mỹ mãn.

Vấn đề ở đây, là vì sao sự việc lại xoay chuyển như thế? Mr. T đã kết bạn và biến thành đối tác vô cùng nhiều quan chức ở cả Chính phủ lẫn Quốc hội, đặc biệt là những người dính dáng trực tiếp đến việc soạn thảo và thi hành luật. Nhân sự tại một Hội nào đó thì là gì với ông?

 

***

Buổi chiều ấy bỗng có nắng nhẹ sau hàng tuần mưa dầm và lạnh lẽo. Gió chuyển hứa hẹn sự khô ráo. Gió và nắng như trả lại tự do cho con người, giúp họ thoát khỏi tình trạng cầm tù bởi thời tiết u ám. Giữa lúc đó, tất cả các kênh truyền hình dừng phát chương trình thường kỳ để đưa tin chấn động: Mr. T đã qua đời! Mà không phải ông vừa trút hơi thở cuối cùng mà đã từ trần cách đây hai năm. Đây là một vụ gian lận hy hữu về thời điểm qua đời của một người nhằm trục lợi. Trên màn hình, cảnh sát quốc gia dẫn giải Viện trưởng K đi ra từ một cuộc họp ở Viện Hàn lâm. Cô N bị khóa tay bằng còng số tám. Người ta phát hiện thi thể Mr. T được giấu trong một tủ lạnh khổng lồ ngay trong Công ty… Rất nhiều kẻ liên quan, có kẻ đang bị truy nã.

Sự việc sau đó được phanh phui. Bỏ qua những chuyện ly kỳ rùng rợn được báo lá cải khai thác nhiệt tình, chỉ căn cứ vào tài liệu điều tra vụ án thì có thể sơ lược như sau: Mr. T bị giết bằng cách thít cổ. Viện trưởng K và cô N vẫn một mực chối tội giết người. Họ chỉ khai phát hiện Mr. T đã chết trong phòng riêng do một sát thủ nào đó thực hiện. Vì ngài không có con cũng chẳng có vợ và không kịp lập di chúc, nên họ quyết định giấu nhẹm cái chết của ngài để tiếp tục hưởng số tiền bản quyền ngôn ngữ kếch xù hàng năm. Vì ngài rất ít xuất hiện trên báo chí và ngay cả giữa đời thường, nên kế hoạch này không quá khó thực hiện. Dĩ nhiên, Viện trưởng và cô N phải làm giả chữ ký và trong một số trường hợp, họ thực hiện một số màn kịch như thể Mr. T vẫn sống, ngài vẫn sáng tạo từ ngữ, ăn uống, làm tình (khoản này ngài rất được) và đương nhiên là lãnh đạo Công ty cũng như vẫn giao tiếp với những nhân vật lớn. Đây là một chủ đề hấp dẫn giới làm phim và bộ phim về chủ đề này được trao giải cao tại một Liên hoan phim uy tín.

Đó chính là câu trả lời cho tình trạng thua sút của Công ty. Vì chỉ khi ngôn ngữ có dấu ấn của ngài T, nó mới hấp dẫn và bán chạy. Đó cũng là câu trả lời cho những chuyện lạ lùng xảy ra trong khoảng hai năm cuối cùng của Công ty.

Đúng là những năm cuối cùng. Vụ bắt bớ đã trở thành dấu chấm hết cho một Công ty từng được coi là bất khả chiến bại. Nhiều kẻ được lợi trong việc toàn bộ bản quyền ngôn ngữ thuộc về Mr. T bị vô hiệu. Tòa án phải thụ lý rất nhiều đơn kiện đòi trả lại tiền đã phải nộp cho Công ty trong hai năm. Nhiều cuộc biểu tình đòi giảm thuế để bù lại số thuế dân chúng đã phải nộp cho khoản sử dụng ngôn ngữ khi Mr. T đã chết.

Ngoài những chuyện lùm xùm mang tính pháp lý và những thứ ly kỳ gợi tò mò rộ lên, hầu như chẳng ai nhắc đến sự nghiệp lừng lẫy của Mr. T. Thật thiếu công bằng, vì ngài T thực sự là một thiên tài. Có lẽ ngài đã chết không đúng lúc? Nói đúng hơn, thông tin về cái chết của ngài đến không đúng lúc.

Hội “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng ta” đã đứng ra làm đám tang cho Mr. T. Một đám tang lặng lẽ nếu không muốn nói là nhạt nhẽo.

 

Viết thượng tuần tháng Giêng Giáp Ngọ, xong 1 tháng 2 (1/3/2014)

Lê Anh Hoài

 

 

 

Dịch giả Peter Ross

 

The Language Mining and Development Company

 

Le Anh Hoai

 

When in due course the Academy advised the Government to promulgate strict proprietary rights laws with respect to creative values, there flashed suddenly in Mr. T’s head an initiative that by the moment, as time went by, became increasingly great: I will own private words I myself have thought up.

An intelligent man by nature, though not having truly gone deep into any field, T quickly enumerated a number of meaningless words. At first, he also thought about common words, and imagined to himself immediately the massive benefits that ownership would bring. But, with his pragmatic yet practical head, T realized immediately such assets could not possibly be had all at once.

Anyone who has ever experienced it, yet not become so brazen as to have forgotten his childhood, sees himself troubling over such very real words, perhaps clearly articulable, almost like a readily available word, but devoid of any meaning. What kid has never once, muttering under his breath, tried to climb around or more correctly position himself on notions made manifest by such words? There are those who even take pleasure in such brand new challenges the first time they arrive in their lives. They cry out as if they want whole world to know what they are discovering, and go on and on lecturing away about their own private notions. There are those who even moan with pleasure at strings of sounds consisting of one or whole series of meaningless words, as though they had some communal meaning, until an adult has to bark at them for all their nonsense, or threaten to beat them because they’re giving them a headache, only then do they stop.

And so, Mr. T had set aside an entire morning, with a cup of coffee to stimulate creativity as in the firm’s advertising, and half a pack of cigarettes to stimulate excitement, also as per the advertising copy, and had thought up (or remembered?) almost fifty words (forty-nine to be exact). This number of words filled two pages, solemnly presented in printed capital letters, with one word to each line.

At the Academy’s Institute of Languages, a middle-aged academician on duty that day read the two pages T brought with somewhat exaggerated attention. He tried to suppress a sarcastic smile before the said document he didn’t know quite what to call. Then suddenly, his face blooming as if he had found a solution both decisive and most polite, and not in the least removed from behavioral criteria, like a true scientist the middle-aged academician pronounced:

“The Institute can only certify copyright for these words when and only when you are able to explain their meaning!”

Thick kumquat skin has sharp fingernails, and sharp fingernails have a tight clasp. This challenge, brought about by the said linguist’s lack of goodwill, presented Mr. T with another creative opportunity. It must also be said, as with any important invention in human history, all must overcome their challenges, in the form of suspicion, orthodox criticism, and most commonly, sarcasm and ridicule. There are those who, having become a character in a burlesque, become the endless inspiration of the masses through the endless transmission of their sneering ballads. Only when an invention proves truly useful in the lives of humankind (whether to cure or to kill) do these criticisms end.

Because the words Mr. T had thought up, as we have said, were originally meaningless words, so also did T lose one quite long moment gnawing on the feeling of failure. All the more painful, because before that, T had harbored the thought of having the victory in his hand. However—have I said yet that T was a man of genius—a thought then burst out in that genius mind: What words in the beginning do have meaning? So we will give meaning to our words!

This was the most important turning point in the course of this great idea. This was also the important manipulation making Mr. T’s later victories daily more brilliant. To put it more concretely, if the esteemed middle-aged academician that day had been neglectful, remiss, or falsely inspired, and had accepted Mr. T’s proposal to take to the council for approval, from there, it might be worked out that: (1) most probably Mr. T’s invention would have fallen into a fearful silence as still usually happens in the Academy’s bureaucratic system; or (2) the Council, also neglectful, remiss, or going with the flow, or suffering from persecution achievement disorder, would have issued a patent certificate and certified copyright for Mr. T. In both these cases, there would be nothing left to speak of, or T would have forgotten all about his brain wave invention, or would have had the proprietary rights to something that was virtually worthless.

And so, with the assistance of those coffee and cigarette firms famous for creativity and excitement, after three days of only not sleeping very much, Mr. T was able to attach meanings to all 49 words. If anyone is pursing smugly over why it should take so much time for a job that is arguably quite arbitrary (if you’re attaching a meaning to a word originally not having a meaning then whatever—sic!), let me parenthesize, Mr. T’s work was a creative work. He had to read out the word aloud numerous times, reflecting on the feeling (not just visual and auditory but the very whole existence of the word), listening carefully to the things it did in his genius mind. Besides that, he also related it back to a profitability copula (more of this later). For those appreciators of thought, let me say right out that this was essentially a process of thought. For those appreciators of art, let me note once more this was a creative process. And for the rest of you, let me say that the task was the same as that of naming a new born child. The second time Mr. T went to the Academy’s Institute of Languages, all he wanted was to meet the esteemed middle-aged academician again to witness the stunned look on his esteemed face. But receiving T this time was a young academician, the youngest not only in the Institute of Languages, but the youngest in the Academy. Nevertheless, this did not mean that the young academician was impulsive or rash. He invited Mr. T to sit and told the secretary to make tea, while he attentively studied Mr. T’s entries (quite forgetting the drink the tea). Seconds later, he looked up, eyes shimmering through his spectacles: “This is an interesting invention, extremely interesting! I will take it to the Council immediately!”

 

By the time Mr. T received a letter of invitation from the Institute of Languages, he had close to forgotten the application for a certificate of copyright for his words. Close on half a year had passed, and, Mr. T, like any true artist, very quickly forgot about the works he had accomplished.

The letter of invitation amounted to only a few lines. “Dear citizen, we would like to invite...”, “pleased to inform...,” and the most important part was: “to sign for the intellectual property rights for the language....”

It turned out the procedure was extremely simple. T needed only to show his identity card, then sign here and there, including a signature in a big, fat registration book. It was still the young and radical academician with the lady secretary making tea and helping with the paperwork receiving him. After only about ten minutes, Mr. T received the certificate with the signature of the Institute of Languages, by order of the Director of the Academy, authorized by the Supreme Court. The certificate recorded clearly, from the first day of the coming month to the end of citizen T’s life, plus an additional 20 years with his legal heirs, the words (with Appendix No.... attached) coming under citizen T’s ownership. Enforcement of these proprietary rights was based on the law of the republic, directly implemented by the language police branch.

“Language police branch? Who and where are they, Ma’am?”

Blooming a professional smile, the secretary said softly:

“It’s a newly established unit. As matter of fact, to streamline personnel, the unit only needs one person. That person is academician K himself here. In the event coercion is needed, the national police force will be mobilized.”

The young radical academician! Looking at Mr. T, chest somewhat puffed out, chin neatly tucked in, academician K said earnestly:

“You might work with me, directly or through a lawyer. I also just received my law qualifications at the beginning of this year.”

He withdrew his look, only to launch off again with seemingly more vigor, voice lowered: “This is a new area, brand new. And not merely symbolic. Profitability is entirely possible. For you, for the Academy, and for the whole country!”

 

When a job meets with favorable conditions, people usually sum up with the saying: with clement weather, favorable terrain, and concord among the people, things progress very quickly. The work of Mr. T and academician K was primarily like this; like the branches of a sapling shooting up into the high, wide sky; thrusting down its roots, deep and firm into the bowels of the earth. With visionary foresight, T at once established a company bearing the name “Contemporary Language Mining and Development Co.” (hereafter referred to as “the Company”), invited academician K to be Chairman of the Advisory Board, and hired then and there the lady secretary of the Institute of Languages to be his bookkeeping manager. Note, this character’s name was N.

On the very first day of the month the law in force recognized the proprietary rights of his words, Mr. T organized a large press conference at company headquarters. Ms. N, it turned out, was also a press events organization expert. Journalists tramped along in their droves, the event of itself having been made very attractive. For the first time, in the history of the republic—wait, in the history of mankind would be more correct—there were words with a clear author. Moreover, they were copyrighted.

The event was all over the media for the next six months. A number of conservative newspapers called this an extravagant game and a meaningless invention. However, the most widely-read online newspapers and cultural channels on TV—the hottest entertainment in the country, interviewed both Mr. T and academician K, bringing many comments that this was an advance for language development, legal civilization, and so on and so forth. With these mouthpiece organs, Ms. N had delivered thick envelopes. At the same time the Company applied a promotion allowing free use of words under the ownership of Mr. T until the end of the year, set up and ready for easy extension. With those newspapers lacking goodwill, the Company allowed mention of only a few of these words within the week following the press conference. After that, if they wanted to bring them up, they would have to pay. These papers were very bitter; a number decided to use the phrases “those kinds of words” or “the private ownership word group.” One newspaper with a reputation for persistence in pursuing cases decided to spend money to “start naming names” for a worthy purpose. This newspaper regularly quoted comments and interviewed the esteemed middle-aged academician and two other elderly esteemed academicians (the losing minority in the vote opposing Mr. T’s invention at the Institute of Languages).

All of this lay within T’s plan. Without needing to be a linguist, he understood, understood quickly and understood more thoroughly than the academicians, that when a word is used a lot and paid attention to by the majority (even alluding to it as if the word is taboo), that concealed word becomes more boldly defined. The result: words under the ownership of Mr. T very quickly became meaningful indeed. And, because T had cleverly placed among his collection of words meanings belonging to quite common words, this process got faster by the day. Of these, there were words referring to food items and pets. Of these, there were words referring to frequently used objects (the most outstanding of these was a word comparable to the word “computer”). And of these, there were even words referring to sensitive items that could potentially be used to curse with.

Indeed, using Mr. T’s words had fast became a fashion among the populace, especially among young people and the aristocracy. After only half a year, according to the Institute of Social Affairs, through meticulous and objective investigations (with permission not to cite a whole string of figures): no one in the republic had not at least once used one of Mr. T’s words. Lots of people had completely given up pre-existing, age-old synonyms in order to use the words of Mr. T.

In a republic, there are individual proprietary rights, recognized and protected by the state, but then widely used by the community, that in actual practice, no agency, no matter how diligent, can approach each community user to collect a fee for. Of the kind of proprietary rights held by Mr. T, there were quite a number in the republic, notably in the field of music. Imagine a situation like this: a crowd of young teens, gathered bragging, showing off their worldly wisdom and style. They display their cultural power and swear with language mixed with the words of Mr. T. Suddenly the language police appear, catch them red-handed, make a report, and write them a ticket? And then, the parents of these teens have to turn up to pay their fines into the state treasury? No. There is much simpler way: people pay a small amount of tax (very small, compared to the total amount of tax) to be able to use utilities under a private individual’s ownership. The State, based on the level of community use, calculates the amount each owner must be paid. Thus, there are owners of values estimated to be important and meaningful, but because of community indifference, they only receive a symbolic payment; but for things the community uses regularly, these help their owners get reasonable earnings.

This was just part of the earnings, but then it was the main part. The beauty of it was most people had no idea there was such an efficient way of making a living. The rest came from revenue from the press, television, and publishers. TV and radio anchors pulled faces because when they did an interview or a talk show with a celebrity, especially young personalities, words under the ownership of Mr. T came spewing out like thunder. Of course broadcasters could splice to suit the content and reduce costs, but with every word costing money, it was a one-off thing only; a TV station has significant expenses. There were TV stations that cut out each word uttered and replaced it with an equivalent free one, shown on screen like a kind of translation subtitle. With radio their hands were tied. But, apart from being boycotted by the public, such broadcasters were facing lawsuits filed by Mr. T’s Company. The above acts had severely infringed on citizens’ rights to freedom of speech and language use—according to the allegations of the Company’s Chief Counsel. Broadcasters were having to propose making a public apology before the court to avoid sentences with large fines. On its side, the Company, through a spokesman, declared this was good faith, but was not enough. Up till now, these sentences were still hanging over the heads of the said television stations.

In addition, from this time onwards, Mr. T almost never appeared in public again. He said that such was more elegant. He was right. Not to mention around him rumors began to surface, gradually becoming legend, always enveloping central characters in society.

Going back to the mass media agencies: except for a number of places enjoying Mr. T’s favor and permitted use of his words, the remainder were forced to negotiate with interviewees to please limit using chargeable words. This situation brought about the appearance of celebrities, especially in the world of showbiz, announcing the use of private funds so they could talk freely. Singer Lady G was the first to do so and her reputation quickly crossed national boundaries. Model C caused a stir in the online tabloids when she revealed the name of the magnate who promised lifetime sponsorship of her public speaking account, on all mass media. Shortly after, she created a media sensation when she released a music video with songs thick with words purchased from the Company. Of course, the sponsor reaped from her reputation again. Few people knew, Ms. N, Mr. T’s manager, had discreetly negotiated in the background of this episode. This was this very event enabling the Company to obtain rights in the field of music and karaoke.

The sharpest reporters looked for a way to interview Mr. T on the topic: was he willing to sponsor one or more stars with the free use of his language. He favored one online newspaper with a concise one sentence answer: I have other much more important things to do. He concluded his answer with a completely new word, explicated by the newspaper as an interjection meaning “no” as well as “fuck,” and implying “I’m waiting.” The newspaper was also “pleased to announce:” this word, together with a number of other unpublished words, had been copyrighted by Mr. T at the Institute of Languages, under the Academy.

There was once again a surge of opinion, which didn’t have to wait long. A few days later, on a day Mr. T had chosen (should I say it, but Mr. T was quite a believer in what he called the spiritual), a spokesman for the Company appeared on national television, making a statement on excellency T having signed a document with a representative from the Government Office, funding the entire use all of the words under his excellency’s ownership, both now and in the future. The preferred candidates were government officials. Subsequent negotiations led to the result, posted on the State’s website, that the candidates allowed free use were officials from deputy bureau chief upwards and equivalent; in the provinces it was local deputy district chief and above. The news article also said that excellency T was considering and would soon announce language funding for public service organizations and charities. This work really was carried out quite quickly, sending Mr. T’s prestige skyrocketing, and it was rumored he was about to run for the national assembly. However, he dropped his application and instead asked to sponsor a group wanting to develop the words under his ownership into a separate sign language system for the deaf.

Also on this occasion, the Company announced the addition of 199 new words. Of this number, there were plenty of compounds and duplicates, taking readily available words and giving them different meanings. This created considerable controversy even among linguists. One contention was whether you needed to add a word for a concept for which there was already a word, but ultimately this idea was beaten down with the viewpoint that language needs to be developed towards offering more choices for users. Furthermore, Company experts, along with the inside helping of hand of academician K, were able to convince the board of assessment and the entire meeting of language academicians that the words submitted this time had completely brand new semantic nuances.

From then on, on average once every quarter, the Company launched a series of new products. There were extremely common words, and there were words belonging to different fields of expertise. For example, one product package included a lot of words used in philosophy. These words were not used much by the public (obviously, the public has no need to understand the true nature of the world), but the professional world rated them fairly highly. More importantly, these were entirely “high-quality domestic goods,” potentially to replace a large number of foreign loan words. More importantly, with words of this kind, Mr. T “contributed to the country and the people” by charging at only a symbolic rate (he very much limited the free, because it could cause the cheapening of words in users’ consciousnesses, and indiscriminate, uncontrolled use). And the image of Mr. T, like a true patriot, became daily bigger and bolder in the heart of the public.

As long as this was the case, the words under Mr. T’s ownership grew daily in number. They were integrated and mixed into the national and ethnic group languages. After six years of the Company being in business, only professionals were fully able to grasp Mr. T’s linguistic system.

Going back to the time the 199 words were published, the number of proposals for limited free use for the purposes of communication from newspapers and broadcasters ran into the hundreds. Among them were quite a number of proposals from major international news agencies. One reason was that the new batch of Mr. T’s words had gone way up in price for users with legal entity status. The thinking “everything has its price” employed by Mr. T led to a big battlefield win on the twin fronts of brand reputation and profitability. A number of the newspapers bitter from the beginning about Mr. T’s career started a smear campaign. The idea of note derived from a tax and public finance policy expert who raised the somewhat craftily-posed problem, that one must be wary of degenerate politicians being bribed to look for ways to increase copyrighted language use tax. At once, a spokesman for the government appeared on the nation’s mainstream channels, declaring no such thing would happen. That this was an evil conspiracy by opposition elements undermining the national unity block. In fact, this tax and public finance policy expert was actually a kind of “disciple” of Mr. T.’s. Also not too hard to guess, hey? Also around this time, academician K was promoted to deputy director of the Institute of Languages. Because of his break-through radical ideas, because of his agile, assertive style, and of course, because of his youth, academician K was also promoted to be spokesman not of the Institute of Languages, but of the Academy! The policy of the republic is prioritize the development of young talent.

 

Swift as a weaver’s shuttle fleet, two years had passed since Mr. T received the certificate for his first 49 words (these words had been displayed by a leading artist in many different fonts and sizes on a large wall in the Company grounds, plated entirely in gold). Remember that language is part fashion, in that whichever word is used most, along with the excitement of the crowd, will be the one to become old, trite, and boring the fastest. This was the main reason why revenue from the first number of words began to decline. Mr. T naturally understood this well, and as mentioned above, launched in good time the above-mentioned batch of 199 words. Obviously, this was carried out, though secretly and unobtrusively, yet with utmost method, in Mr. T’s own private research team.

Do not think, in a democratic society such as the republic, that Mr. T was the only one who could make his living in this way—one man, one market. The right to create language, as in the republic’s constitution, belonged to every citizen. During this time, many language groups brought their language inventions to the Institute of Languages to register their rights. Because, however, for most of this lot it was a matter of seeing people eating potatoes then grabbing their spades and going off digging willy-nilly, so the Academy’s council for science, despite many, really toilsome group meetings, accepted almost no other brand new language inventions.

At least that’s what the public knew through the press. An extremely small amount of this kind of news leaked out, according to which the majority of language inventions fell into the category of “lacking expertise,” a number of instances violated laws protecting customs and practices, and so on. In actuality, the Institute of Languages had been slathered in Company money, from out on the street to the wallpaper and faucets. The academicians had had a complete change of life from the time the Company went into operation. The Director was an old man who had stopped thinking long ago and was continuously supplied by the Company with foreign spirits and La Havana cigars, along with trips abroad with long-legged tour guides of little learning (highly-qualified people like himself never liked learned women). The opposition camp at the Institute had three people, then after only a short while, the older two changed flags completely, like two marionettes that Deputy Director K could say anything to. Only the middle-aged academician, the very first person to receive Mr. T when he came to the institute, persisted in expressing his views against what he called “smearing and corruptionism,” but nobody listened to him anymore. And when Mr. T proclaimed his funding of government use of his language, it was also the moment he applied for retirement (although, as an Academy academician one can hold an academician’s chair until one’s death, on full benefits). I heard later on, he hardly said anything anymore; people called him “the dumb academician.”

When Ms. N, Mr. T’s manager, learned of language inventions rejected by the Institute, she immediately sent people to raise the question of buying back what Mr. T called within the Company “invention junk.” The team that went to buy this kind of thing naturally was called “the scrap group.” Scrap had lots of experience buying cheap. After buy back, the research team, under the expert charge naturally of Academician K, painstakingly renovated and upgraded these goods. Mr. T had the final say on language quality and scheduling the hand-over of products to the Institute for licensing (for this an auspicious date and time had to be found, and a decision number in accordance with feng shui and Mr. T’s destiny).

In the following years there was nothing really major, except for a drawn out lawsuit involving a multinational company specializing in keyword search services on the net. UCONES, an international organization interested in public culture, seemed to side with Mr. T on his perspective on the development and preservation of culture, while the General Secretary of the Union of Republics stated that humankind needed to be on guard against super-empire companies disregarding intellectual property. A lawsuit against another also multinational company specializing in social network development had more success, securing a pledge that they would send constant reminders to their network members to respect privately-owned language in their virtual communications by email. The social networking company persisted they had merely created a free environment for people to connect, that citizens were subject to indirect taxes for the use of proprietary language, but this argument was truly ludicrous, because as everyone knows social networks attract extremely large numbers of members to be used for advertising revenue, and in a community using the national language, there are no small number of citizens from other countries.

The Internet was where the Company made the least money but had to deal with the most trouble. Since a few years back, there had been an online community calling themselves “DustingsoundVille,” initially a small forum that no one paid any attention to, but thanks to the inundation of social networks, expanding with alarming speed. These guys were racing to come up with words and sending them cascading all over the network. Following the law of survival, the majority of these words died prematurely after only a few days, and were only able to spread within a very small group. But some of them did survive, and became popular not only in DustingsoundVille, but caught on everywhere.

The most disturbing thing about DustingsoundVille was them declaring their operation just for fun and not for profit!

In a rare public appearance through a newspaper (one with a very small circulation reserved for the young, distributed somewhat infrequently by a newspaper of more serious leanings), Mr. T commented on the leanings of DustingsoundVille itself that: Youth is associated with creativity. Language creation is full of challenge but full of inspiration. The important thing is that our young people need to channel their energies into something useful, really useful to the community. He also made a very subtle comparison: the activities of DustingsoundVille were like those of hackers. He applauded red hat hackers and told the Company to put out the red carpet to welcome them. He had nothing more to say about black hats.

This article was quoted by a lot of newspapers, or reposted in full in online newspapers. Most commented that Mr. T was foresighted, magnanimous, gracious, and so on and so forth. The radio and TV stations, also wanting a piece of the action, rolled up one after another to ask for an interview with Mr. T, but not one request met with a response.

It was also at this time that the honorable Director of the Institute of Languages suddenly departed while enjoying himself abroad. In a country valuing culture and language such as the republic, his laying to rest was carried out with the solemnity of state funeral. Few people knew, the honorable Director departed at a moment of utmost sublimation, a condition commonly called a “vasovagal response.” He ascended as he was uttering a word he himself had initiated, from within the Company’s language development program (purchased by the Company from the very idea at a high price). Its phonetic shape was very provocative, and highly musical. It’s meaning both denoted “sublimation,” and connoted “the flower of a woman.” Because of a number of legal and cultural obstacles (called collectively by the Company, “the mechanism”), but more importantly because Mr. T wanted to save products of this caliber for a man he called “Iron Fist,” the Company did not yet have any plans for releasing words of this type. They were only to be used internally in the narrow sphere of the highest leaders of the Company and the Institute of Languages. (A woman heard this word during the sacred moment in which the soul of the honorable Director left his body; prior to that he had signed a commitment to only hear these words, and not to use them under any circumstances). The existence of words of this kind always evoked extreme curiosity among the crowd. They knew nothing specific, but swapped stories about the stuff of legend to deepen the legend.

Honorable deputy director K, by this time had passed his period of youth and entered a period of respectability on the political stage; had been appointed Director of the Institute of Languages. Only shortly thereafter, he was appointed Deputy Director of the Academy. Counting from the beginning of Mr. T’s start-up, a round 10 years had passed.

 

Those using language to create major works were writers and poets. They did not seem to be the group most affected by proprietary words, at least from a costs point of view. In other words, the Company’s revenue from writers and poets was a big zero. Language influence was not something free like air, however, and when used (in part) had to be paid for; they found themselves out of their depth.

Initially, most of these authors held a conservative attitude in the face of Mr. T.’s invention. Specifically, they hardly used words of this kind, many of them tending to prefer older, more difficult to understand words as far as the public was concerned, words with multiple meanings, ambiguous meanings. Author Y, who had been writing since before the founding of the republic, in short a veteran, once said on television that Mr. T’s inventions, as with the new words from DustingsoundVille, were of the kind that would not make it into literature. It was only shortly after Mr. Y said this that the government received Mr. T’s language funding. So this implied literature was higher than politics. He was not yet aware of a practicality that came about only two years later: some of Mr. T’s words found their way into ordinary textbooks. Poet G then wrote a poem in which she said she had “distilled a jar of words for my verse” (meaning she did not need to add any more?!), and “My poems cry out in the language of my mother” (and not in the language of a certain Mr.!). Many in literary circles commended these conceptions. This was what made Mr. T, not fond of this crowd from the beginning, all the more sick of them.

But not all writers and poets were like this. Over time, words under the Company’s ownership became increasingly common, to the extent that if you were to try to eliminate them or deliberately replace them by classical words, the sentence would become obscure. If a writer was aiming for the general public, or in other words “writing for readers,” he or she had no other way.

At this time, a young writer considered to be “innovative and pioneering” wrote a novel in which he described a secret sect that created a secret language to use within the sect. In the novel, this “secret language” was the common language before the time of Mr. T’s invention. As for the language used to tell the story, it was thick with a mixture of words from Mr. T, DustingsoundVille, and words the author himself had thought up, words he meticulously annotated, so that the book almost turned into a dictionary. This work triggered a fierce debate, not only in literary circles but all over the press. Proponents said here was an outstanding work of contemporary art, full of parody and warning, and so on and so forth. Opponents said here was a ridiculous joke, a kind of non-visual art hodgepodge, a manifestation of the decadence of reading culture, and so on and so forth. The DustingsoundVille community immediately hailed this young writer as a hero. However, the fellow haughtily declared himself to be an independent artist, not in any “Ville” or “Company” whatsoever. He also on the same occasion attacked the National Writers’ Association’s funding policy for writers. He said the Association’s paying money to buy words under the Company’s ownership (a promotion policy applied to wholesale purchase and prepaid subscription) and distributing them evenly among Association members was ludicrous. Maybe they should do what the Musicians’ Association had, that is, leave members to choose themselves whether to write or not, and stop organizing or launching this or that movement. And when writing, apart from using their individual talent, they use the resources in society following the market mechanism. The secretary- general of National Writers’ Association countered immediately, that this was a demonstration of the careful attention of the Association Chairman to all members; that this was the dynamism of the Association secretariat, in “the context of a readership with an ever-increasing level of language appreciation.” And that, the young writer did not know there were still other writers full of talent but in difficult circumstances. The crucial point, he should note, was that the composition of music was completely different to that of literature. Besides, the number of notes in particular and musical notation in general was finite and no one had invented anything new for that Association to buy!

 

The Company’s promulgation of new words continued to unfold to the steady rhythm of once every quarter. Plus, there were releases on major national holidays such as Independence Day, Creativity Day, Death Anniversary Day..., with what they called “jubilee promotions” (actually, this phrase, as well as many other commonly-used phrases was “translated” and replaced by Company words).

But, then something happened and only later when everything came out could everyone make sense of it. That is, the Company’s new words, despite being meticulously researched both in terms of phonology and semantics, even how they looked on documents presented in various forms, and being launched on the basis of research in psychology, sociology, and urban studies, had a very real problem with their vitality, if not to say that the majority of them very quickly died. The figure was top secret, but here and there in the business world of intellectual property, it was rumored that there had been an internal crisis in the Company, resulting in a dramatic drop in revenue over the previous two years.

Some commentators argued genuine that business enterprises which had made great contributions to society such as the Company were having to face the negative effects of the Internet, and from the widespread use of “systemic uncontrolled language” (an allusion to DustingsoundVille and even the young innovative writer). Among legislators there was whispering about a “National Dictionary” law. According to this, the state would issue a set of dictionaries listing all lawful words. Each year, these dictionaries would be updated. All words not in the dictionaries would be illegal and citizens using them would be subject to criminal liability.

It is true that there was such an idea, initially hinted at by Institute Director K in a TV talk show, and afterwards occasionally mentioned by a number of “experts” and even lawyers in the field of copyright. The most vehement of these was the opinion of an association by the name of the “National Student Parent Association.” There were times the Association Chairwoman was constantly on television and in the online media too, incessantly warning about the risk of language decadence leading to moral decadence among young people, and so on and so forth. This woman became such a hot item she was later invited onto the jury of contests like “Fashion 24.”

Once again there were waves in the press. Of course, reporters tried to hunt down Mr. T for an interview, but all to no avail. The most persevering among them whispered to each other about what they called “the invisibility of excellency T.”

In actuality, Mr. T was not advocating a declaration of war on the worldwide web. And perhaps, deep down, he was not particularly fond of exclusive rights. After all, it was he who had suppressed the belligerent expressions of Director K in this regard. Maybe because he had gotten so rich and lost motivation? But this matter will be resolved later; in no time.

There were a number of significant developments, such as the change in the leadership of the Keeping Our Language Pure Society. This was an organization made up of people who loved linguistics, but not necessarily those who had professional expertise. Although they were always trying to attract retired linguists, old writers, and the like, still in general, they kept a low profile (like the poetry clubs that continue to sprout up all over the republic). The honorable chairman of this Society had had a brain stroke and become bedridden. They elected another honorable personage with extremist nostalgic tendencies. This man said it was the language from before the intellectual property laws for language and prior to the spread of social networks that must be preserved and revived. Unspoken yet clear was that the language of Mr. T and different types of online language like DustingsoundVille were under attack.

Recall for a moment, the Keeping Our Language Pure Society had come into being a very long time ago, at a time the country was under foreign domination, and the Society had to operate secretly because it had been accused of being hostile. Many patriots taking part in the Society were imprisoned by the imperialists. Several people died in prison on hunger strikes; there were those who self-immolated just to protect something as extremely vague as their ethnic language. These honorable people have all been carved in statues, and have streets and schools named after them.

When Mr. T’s reputation started to rise, in only the third year of his enterprise, there were suggestions to have him put in the position of President of this Society (at the time, the incumbent President had been nominated to take charge of the Committee for Civilization and National Culture). But, Mr. T politely declined. Not because of a lack of money to communicate with the necessary connections, but he felt it was just an empty title. Not only that, it would also hinder the process of his earning a living which was making strides every day. The job that Mr. T urgently needed carrying out meanwhile, was to do everything so that this Chair would fall to someone that he could control. Ms. N carried out this task more than satisfactorily.

The problem was, why then had things turned round? Mr. T had made friends and became the partner of countless numbers of officials in both the Government and National Assembly, especially those directly involved with the drafting and execution of the law. What was being on the staff of some Society to him?

Afternoon that day came with a sudden gentle sun after weeks of cold and ceaseless rain. The wind changed, promising a dry spell. It was as if the sun and wind were giving people back their freedom, releasing them from a prison of overcast weather. In that moment, every TV channel interrupted its regular program to bring the shocking news: Mr. T had passed away! And not only had he just breathed his last, but he had died two years ago. It was a rare case of fraud over a person’s time of death for mercenary ends. On screen, the national police escorted Director K from a meeting at the Academy. Ms. N was handcuffed. Mr. T’s body was discovered hidden in a giant refrigerator right on the Company premises. Many suspects were involved; there were those wanted by police.

Details of incident were later revealed. Ignoring the grizzly details enthusiastically exploited by the tabloids, based only on documents from the investigation of the case, it may be summed up as follows: Mr. T was killed by strangling. Director K and Ms. N steadfastly denied his murder. They testified only that they discovered Mr. T after his death in another room at the hands of an unknown assassin. Since he had no children and no wife and had not had time to make a will, they decided to cover up his death and continue enjoying the massive annual language royalties. Because he appeared infrequently in the press and even in normal life, this plan was not too difficult to implement. Obviously, the Director and Ms. N had forged his signature, and in a number of instances, they had staged an act to give the impression Mr. T was still alive, was still creating words, eating and drinking, making love (he was very good at this), and naturally, he was the Company leader as well as still communicating with prominent individuals. Here was an appealing subject for filmmakers, and a film on this subject was awarded highly at a prestigious Film Festival.

So this was the answer to the puzzle of the Company’s undoing, since only when the language bore the imprint of excellency T did it appeal and sell well. It was also the answer to the rather strange things that had happened in the last two years of the Company.

Truly it was the last years. The arrests became the final full stop for a Company once considered invincible. Many individuals who had benefited from the totality of Mr. T’s language copyright were rendered null and void. The court had to settle numerous lawsuits demanding the return of money paid to the Company in the preceding two years. Numerous protests demanded tax cuts to offset taxes people had paid for the use of Mr. T’s language when he was already dead.

Apart from all this legal wrangling and the grizzly details curiosity bred, almost no one mentioned the illustrious career of Mr. T. Quite unfair, because T really was a genius. Had he died an untimely death, perhaps? More likely, it was the news of his death that came at the wrong time.

The Keeping Our Language Pure Society stepped up to hold a funeral for Mr. T. A low-key funeral, if not to say bland.

 

Written the first fortnight of January, Year of the Horse,

completed the first of February (1/3/2014) 

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                       Theo nguồn vanvn.net

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter