• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Ba áng mây... bộ tứ truyện ấm lòng xứ sở
Ngày xuất bản: 12/07/2017 11:39:28 SA

Hồng Vân là một tác giả người Pháp gốc Việt. Năm 2012, chị công bố ở Pháp bộ tự truyện, nguyên văn là Ba áng mây ở đất nước hoa súng (Trois Nuages au pays des nénuphars). Trung tuần tháng năm 2017 vừa rồi, nhà xuất bản Trẻ cho ra mắt bản dịch tập truyện đó ra tiếng Việt của Quỳnh Lê: Ba áng mây trôi dạt xứ bèo.

    Ba áng mây trôi dạt xừ bèo chủ yếu là chuyện sơ tán trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tức việc trẻ em, người già, và hầu hết người lớn rời khỏi các thành phố, về sống, học tập và làm việc ở nông thôn, để tránh bom đạn kẻ thù. Câu chuyện xoay quanh ba chị em gái cùng tên là Vân, nghĩa là mây, Kim Vân, Thanh Vân, Hồng Vân, tức Mây Vàng, Mây Xanh và, Mây Hồng – nhân vật chính của bộ tự truyện. Quãng đời của Ba Áng Mây, đặc biệt là của Mây Hồng, được thuật lại ở đây là từ năm 1964 tới 1975, hai cái mốc trong lịch sử Đất nước. Ấy là thế giới của trẻ thơ và thế giới người lớn qua muôn vẻ trẻ thơ nhìn. Những vấn đề chủ yếu của thế giới ấy được đặt ra vừa thú vị bất ngờ vừa ám ảnh thót tim. Vấn đề thứ nhất là cái đói. Suốt những tháng năm phải xa Mẹ và theo Bố đây đó theo công việc của Bố, ba chị em bị đói trường kỳ. Dù đó là những suất cơm tập thể, và đã được Bố nhường một phần suất của Bố. Dù đó là những bữa ăn do Bố hay Ông ngoại xoay xở để có lượng cao nhất có thể. Như mọi đứa trẻ trên đời, ba Áng Mây bé bỏng có nhu cầu cao về thịt. Song thịt hầu như vắng hẳn trong các bữa ăn hàng ngày. Thế nên, một chiều đông nọ, dù tối đến nơi, trên đường xa đi học về, Hồng Vân vẫn nhày xuống ruộng, cố bắt cho được một con cá bống bé tí. Nếu Ông ngoại không đến tìm kịp thời, con bé đã tím tái cả người, chưa biết rồi sẽ ra sao. Và thật tội nghiệp cho Hồng Vân cùng cả nhà, con cá chỉ đáng cho con gà của ông đớp một miếng ! Lần khác, ba chị em phát hiện một con gà con chết đuối dưới ao gần nhà ông bà Tuân mà ba chị em ở nhờ, chúng tìm cách lấy con gà bằng được. Chúng ném các thứ xuống nước, cho con gà dềnh gần về phía chúng, rồi chúng lội xuống, cố tóm cho được chút thịt cho bữa ăn chiều. Đúng lúc tưởng có thể với tay tới con gà, chúng bị anh Huấn, con trai ông bà Tuân, nhìn thấy, và bị anh lôi hết lên bờ, bị anh mắng cho một trận, con gà chết.thì anh vứt ra xa như một vật đáng tởm. Ba chị em quá uất ức, mách với bà Tuân. Bà mắng anh, vụt cho anh mấy cái cán quạt nan, bắt anh ăn suất cơm tập thể vốn chằng ra gì của ba bé gái, để phần cơm của anh cho chúng…Đỉnh điểm của bị kịch thiếu thịt là chuyện ăn nhau bà đẻ. Ngẫu nhiên nhìn thấy trên một chiếc khay một nhau thai của một phụ nữ vừa sinh em bé, Ba Áng Mây nhanh nhẹn cất nhau đi, rồi đem ra góc vườn kín đáo, nấu nước sôi và cho nguyên cả chiếc nhau vào. Chúng đang ăn như một món khoái khẩu, thì bị một một y tá chộp được. Cô hất hết đi và chúng vừa hổ thẹn vừa tiếc nuối. Sau đùa vui của mọi người từ vụ việc kỳ lạ ấy, một y tá định biến các nhau thai thành món ngon bổ. Song Bố các bé nghiêm cấm, một là để tránh nguy cơ nhiễm bệnh, hai là không ai được phép vi phạm đạo lý “Quê hương là nới chôn nhau cắt rốn của mỗi người”. Một miếng khi đói bằng một gói khi no, ba chị em luôn luôn được các nhân viên bệnh viện, nơi Bố công tác, nhường cơm sẻ áo, và tạo mọi điều kiện cho các bé được vui vẻ, hạnh phúc…          

 

            

 

    Vấn đề thứ hai là chuyện học tập. Ở những nơi mà các Áng Mây đến trong thời gian sơ tán khỏi Hà Nội, trường hay lớp học đều thảm hại. Hoặc đó là một ngôi nhà tranh vách đất có ba gian, hai gian bỏ không, gian còn lại là lớp học gồm học sinh nhiều lứa tuổi, một số được ngồi trên ghế, số khác ngồi trên lá chuối dưới nền. Hoặc đó là một lớp học tưởng tượng, tức là một phần sân trường, chỉ có một mái lợp tranh, vách không có, cho nên, những ngày mùa đông thật là khủng khiếp đối với lũ trẻ, chúng được ngồi trên ghế, nhưng chân trần trong bùn, nên rét run trong tái tê gió lạnh. Giờ giấc đi học thất thường, vì đồng hồ không có, trống hay kẻng thường cũng không. Chúng phán đoán thời gian, chả hạn theo tiếng gà gáy,…Nên khi đến quá sớm, lúc đến quá muộn. Đáng ngạc nhiên, hai cô Mây chị, nếu vào lớp trễ, đều biết xấu hổ và lí nhí xin lỗi thầy. Học sinh thường tự mình đi bộ tới lớp, người lớn đi kèm hay đưa đi như bây giờ là hãn hữu. Những vui buồn được Hồng Vân ghi lại khá lý thú. Ví như, một chủ nhật, do thích đi chợ với ông quá, cô đã lờ đi việc phải đi học. Ý đồ bại lộ, cô đã tỏ rõ quyết tâm chuộc lỗi một cách ngộ nghĩnh, và được hưởng một cái kết hạnh phúc không bất ngờ. Hai vụ “phản bội” được kể lại, một của cô giáo Ninh, người dạy Kim Vân, một của Hồng Vân, đối với Hoa, bạn nữ cùng lớp. Hai “thủ phạm” đều không giữ được lời hứa, với học trò và với bạn. Có nên cứng nhắc trong nhìn nhận trình độ học sinh hay không, đó là câu hỏi mà Hông Vân có lẽ vô tình nêu lên cho chúng ta khi gợi lại một kỷ niệm của cô chị, Thanh Vân, với thầy Định bấy giờ. Thanh Vân do học cự phách, được thầy giao cho việc đánh dấu lỗi trong bài kiểm tra của các bạn, để thầy chấm bài nhanh hơn. Thanh Vân ghi nhầm một lỗi cho Hảo, bạn của Thanh Vân và cũng học giỏi bậc nhất của lớp. Do vậy, Hảo mất nửa điểm, và không chơi với Thanh Vân nữa. Quan hệ hai đứa trở nên căng thẳng, thầy Định, đáng lẽ dàn hòa có lý có tình, lại bắt cả hai viết tự kiểm điểm (làm mất đoàn kết ?), một biện pháp hành chính “áp đặt” đang rất thịnh hành…

 

    Chuyện học đường trong Ba áng mây…không chỉ có vậy. Xin đơn cử một truyện cổ tích thời hiện đại”. Số là, thời gian đầu xa bố mẹ, ba chị em được gửi ở nhà một đôi vợ chồng nông dân già keo kiệt và lập trường giai cấp quá cứng rắn. Biết Ba Áng Mây là con nhà khá giả, họ chỉ cho ăn ngô và sắn, đêm đêm cho ra ngủ không chăn chiếu ở chòi canh ngoài đồng không mông quạnh. Chỉ vì các bé là “những con tư sản bé”, tức “bọn hút máu người” ! Khi hai chị đến học ở trường làng, cô em bốn tuổi đi theo và được Thầy giáo cho vào ngồi cuối lớp. Thầy còn cho bé phấn để viết lên tấm bảng đen để không. Nếu thích, bé được lang thang ở hai phòng học bỏ trống của trường. Một hôm, bé đói quá, mơ được ăn bánh đúc và nước mắt lai láng trên mặt mà bé không hay. “Vì sao con khóc ?”, bé giật mình, thầy đang quỳ ngay bên bé. Bé đáp muốn về với bố mẹ, muốn về nhà. Thầy bế xốc bé lên vai, đi lên tiếp tục bài giảng. Từ đó, mỗi sáng, thầy đều mang cho ba chị em một quả chuối, một củ khoai lang, một bắp ngô luộc hay một vắt cơm nắm. Chiều chiều, tan lớp, thầy cho ba bé đi chơi. Thầy nghĩ ra đủ chuyện, đủ trò, cốt sao cho các bé cười. Thầy còn làm diều, về sau diều có sáo, thả lên trời, cho các bé mê tít, quên đi cay cực và tuyệt vọng. Có điều, như các bạn, các bé chỉ gọi “Thầy”, quên không hỏi tên, về sau không tìm lại được thầy, Ông Bụt bằng xương bằng thịt !...

 

    Vấn đề thứ ba, chuyện ở. Không gì bằng được ở trong nhà mình. Thế mà, nhà bố Ba Áng Mây đã hiến cho chính phủ VNDCCH cả tòa biệt thự cao đẹp bậc nhất Hà Nội thời ấy, để chia thành nơi cư ngụ của hai thứ trưởng. Một trong những cảm giác hạnh phúc nhất của tuổi thơ là được bố mẹ ông bà quấn quýt trong chính ngôi nhà của gia đình. Cảm giác thần tiên này, ba chị em luôn luôn thèm thuồng và gần như mất hẳn trong suốt “mười năm hơn lưu lạc”. Nhất là đối với cô út Hồng Vân. Buộc phải xa rời mái ấm ở Thủ đô, ba chị em khì thì chen chúc trong sáu mét vuông, nơi ở của bố trong bệnh viện, khi thì ở nhờ nhà dân, khi thì tá túc ngay trong bệnh viện mà bố làm việc, khi thì qua ngày trong một trường học. Nỗi phấp phỏng phải chuyển nhà là thường trực. Mỗi lần chuyển là một vất vả, nhiêu khê và phiền toái. Một chuyến đi khủng khiếp là rời thị xã Hải Dương, về một làng quê  xa ngái của một nữ hộ lý mà bố tin cậy nhờ tìm chỗ trú cho các con bé bỏng của mình. Trời nắng chang chang, nóng hầm hầp, ba cô bé phải cuốc bộ hơn một tiếng, chân rớm máu, khát cháy họng, rồi được đi xe ngựa nhiều giờ nữa. Tiếp đó, lại chân trần lê bước trên đường nóng bỏng hơn một tiếng, mới tới nơi. Nơi này hóa ra lại như một kiểu nhà giam lỏng. Bọn trẻ, như nói trên, bị khinh miệt, và đày đọa, vì là con nhà giàu. Thời ấy, giàu đồng nghĩa với bóc lột, bất nhân, và độc ác !...

 

    Hẳn thế rồi, cuộc đời không chỉ toàn màu đen buồn bã. Khi biết bệnh viện nơi bố làm việc sẽ bị máy bay Mỹ ném bom, chính quyền cho tất cả di chuyển đi nơi khác tức thì. Thế là ông ngoại và Ba Áng Mây dắt díu đi bộ suốt buổi chiều, rồi buổi tối. Đến nơi, một thầy giáo có người thân chịu ơn cứu chữa cúa Bố đã xin nhà trường cho bốn ông cháu qua đêm trong phòng thí nghiệm của trường. Các thầy cô vội xã thu xếp nơi nghỉ ngơi, đem chiếu đến cho các vị khách nằm ngủ. Hôm sau, các thầy cô cho bốn ông cháu thoải mái sử dụng cả phòng. Rồi Bố sẽ đến…Chưa hết, một gia đình làm nghề thợ rèn nhường hẳn cho bốn Ông cháu cái chái nhà, đủ chỗ nằm cho cả Bố nữa. Ba Áng Mây bỗng thấy như được ở nhà mình. Khi rét mướt, chủ nhà tìm rơm về cho mấy Ông cháu rải ổ…Thấy suất ăn tập thể của mấy Ông cháu quá đạm bạc, ông bà chủ bố trí để chủ và khách ăn cạnh nhau, cùng thời điểm. Bà chủ thường kín đáo đổi cơm nhà mình cho ba đứa nhỏ, rồi cho thêm mấy quả cà pháo, hay ít canh cua đồng, canh đầu cá...Ông chủ thì dù bận túi bụi, vẫn tự lo phần cơm của Ông ngoại, bữa nào cũng biếu “Cụ, người đáng kính nhất nhà”, hoặc đĩa lạc rang, hoặc bát dưa muối, hoặc vài con cá rô rán thơm lừng…

 

    Vấn đề thứ tư, nhu cầu tình cảm. Đây là nhu cầu lớn nhất và thiêng liêng nhất của bất kỳ đứa trẻ nào trên thế giới này. Độc giả không kìm được lòng, khi chia sẻ với Ba Áng Mây nhiều kỷ niệm nhói lòng về thiếu thốn tình cảm trong thời chiến. Mẹ ba cô, cụ Nguyễn Thị Vinh, một kỹ sư hóa chất, do nhu cầu công việc của cơ quan, đã ở lại Hà Nội, suốt hơn mười năm cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Mẹ tìm mọi cơ hội có thể, để đạp xe (đạp) cả trăm cây số, vừa tiếp tế cho các con, vừa thăm chúng. Mẹ chỉ kịp gội dầu, chải tóc, bắt chấy, âu yếm, vuốt ve từng con. Sau một đêm ôm các con cùng ngủ, Mẹ lên xe đạp, về Hà Nội. Hồng Vân, chân trần, quần áo tơi tả, chạy theo xin Mẹ ở lại. Mẹ không dám chậm lại hay xuống xe dù con gào khóc thê thảm. Đơn giản, nếu xuống xe, Mẹ có thể gục ngã. Mẹ dấn nhanh hơn, vừa đạp thật nhanh, vừa nức nở khóc suốt đường về. Mẹ lo nhặt nhạnh len vụn, đan cho con chiếc “áo mùa đông”. Thời ấy, thực phẩm và lương thực được cung cấp theo tem phiếu do nhà nước phát hành. Mẹ tìm mua bằng được thịt ngon, làm ruốc đem cho các con ăn dần nơi sơ tán. Thường thường, Mẹ chằng buộc lên xe đạp số đồ đạc mang cho các con, nặng hơn người Mẹ. Thời ấy đẹp biết bao !. Mẹ bao giờ cũng làm việc hết mình. Hiểu hoàn cảnh của Mẹ, cơ quan đã thưởng cho Mẹ một chiếc bàn nhỏ và ba chiếc ghế xinh xắn, để ba bé ngồi học thoải mái. Mẹ còn nhờ Ông ngoại đến nơi sơ tán ở với các con, vừa dạy dỗ các cháu, vừa bù đắp cho chúng sự thiếu hụt tình cảm. Ông đã dạy Hồng Vân những nét chữ đầu tiên, đồng thời kiểm tra thường xuyên, bảo ban hai chị học tập đúng yêu cầu. Ông chỉ dạy các cháu những phép cư xử không thể không biết. Ví dụ, khi ăn chuối, phải bẻ quả chuối thành hai. Ông sành điệu hiếm thấy, trong những thưởng thức hương vị thanh cao của trần thế. Thuật uống chè búp ướp hoa sen và hoa nhài của Ông chắc chắn khiến không chỉ giới trẻ hôm nay giật mình về quá trình mai một những nét tinh tế tâm hồn Việt Nam trong cơn cuồng điên thực dụng mọi mặt ! Biết tự trọng và tôn trọng đồng loại, ở đâu Ông cũng được cung kính và ngưỡng vọng. Cội nguồn của đức độ và uy tín của Ông là việc ông thấm nhuần sâu thẳm văn hóa Việt Nam và văn hóa Pháp. Ông yêu ngôn ngữ Pháp tới mức, bộ từ điển Larousse, từ điển lừng lẫy nhất của ngôn ngữ này, là vật bất ly thân của Ông, khi Ông hấp hối, nó vẫn nằm bên đầu. Những từ ngữ, những chuyện cổ, những câu thơ, những bột truyện trứ danh,…, của Pháp mà ông nắm được hồn cốt khiến thần thái của ông cảm hóa người lớn một cách hút hồn và giáo dục con cháu thật hiệu quả.

 

Ba Áng Mây sở dĩ tồn tại được và thành đạt, ấy là nhờ bối cảnh thương người như thể thương thân của những địa chỉ mà ba bé nhập vào, nhờ tình gia đình sâu nặng, đặc biệt là tình mẫu tử và tình phụ tử. Người Bố, cụ Bùi Trọng Hoàn, đóng vai trò chủ đạo trong quá trình nên người của Ba Áng Mây. Gia đình Bố định cư ở Pháp. Tương lai mà nước Pháp dành cho Bố là xán lạn. Nhưng sau khi tốt nghiệp y khoa bên ấy, Bố trở về Việt Nam, giữ lời hứa với người yêu ở Hà Nội, và cũng là noi gương Bác Hồ. Bố bình tĩnh vượt qua những thử thách khắc nghiệt và tế nhị, để chứng tỏ mình đã rũ bỏ gốc gác tiểu tư sản – thời ấy được hiểu là ủy mị, không thích hợp với Cách mạng -, thực tâm trở về, phục vụ Nhân Dân và Tổ Quốc. Trong khi vợ con ở Hà Nội, Bố được điều động xuống một bệnh viện ở Hải Dương, và suốt đời làm việc ở tỉnh này. Thời máy bay Mỹ oanh kích khắp nơi ở miền Bắc, trong đó có Hải Dương, Bố, do là chuyên gia gạo cội, liên tục đi đến bất cứ nơi nào mà người dân, cán bộ, công nhân, đặc biệt là binh lính, trúng bom đạn. Bất kể ngày đêm mưa nắng, Bố nhất quyết chữa trị bằng xong, có ca mổ liên quan đến bom bi kéo dài nhiều giờ, mổ xong, Bố gần như suýt ngất. Thế nhưng, dù mệt bã người, Bố vẫn nán ghi lại nhật ký làm việc. như một thói quen không thể xao lãng. Hàng nghìn người đã được Bố cứu mạng…Bố đúng là một anh hùng vô danh, những người góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và xây dựng hậu phương vững mạnh, để tiền tuyến yên tâm đánh giặc. Hình ảnh cao quý và kiên cường của Bố, mỗi chúng ta có lẽ vẫn bắt gặp đây đó khắp mọi miền Đất nước, suốt từ thời ấy cho tới bây giờ. Bố là người đa tài và đa năng, ngoài giỏi chuyên môn, còn thành thạo nhiều việc khác, như chải và gội đầu cho con gái, đóng ghế cho vợ, đi chợ mua thức ăn, lái ô tô, chơi đàn, sửa chữa ô tô hỏng hóc…Bố bao giờ cũng tự tin, chủ động trong mọi hoàn cảnh, bao giờ cũng nhất quyết làm bằng được những việc có lợi cho tập thể, cho mọi người. Bố là một Người Thầy mẫu mực, hết lòng yêu thương, nhưng đòi hỏi rất cao ở con trẻ. Hai việc có thể minh họa cho điều vừa nêu. Một nguyên tắc bất di bất dịch là không thể viện bất cứ lý do nào để vứt đồ đạc lộn xộn (Bố sẵn sàng cho con ăn đòn !). Chiến tranh khốc liệt, Bố vẫn cố cho ba con được lên nghỉ trên Tam Đảo, quê của Vú nuôi cậu Bảo, em vợ của Bố. Nhờ vậy, ba cô bé phát hiện tục Lên đồng, một tín ngưỡng hàm chứa lòng nhân và khao khát hạnh phúc của dân thường, khám phá rừng cây như trong chuyện cổ tích, với biết bao màu sắc và hương vị thần kỳ ! Giờ đây, những vẻ đẹp nhân văn như thế còn hay mất, chắc không ít bạn đọc tự hỏi khi đọc đến đoạn này, thuộc chương IV, một trong những đoạn văn hân hoan nhất của tác phẩm. Bố cũng có những đau thương mất mát riêng, nhưng Bố biết kìm chế và không để chúng kéo trĩu mình xuống. Ví dụ, Bố thấy mình có lỗi với Cha, vì từ khi trưởng thành, Bố về Việt Nam và không bao giờ gặp lại. Còn Mẹ, Bố chỉ được gặp lại 24 năm sau, lần duy nhất và cuối cùng ở Paris, nhờ lòng tốt của chủ tịch tỉnh Hải Dương bấy giờ. Trong lần gặp ấy, Mẹ của Bố vẫn dẫn Bố vào rạp xem phim như thuở trước. Và thật bất ngờ, Bà lôi cho Bố xem tấm ảnh đã ố vàng, chụp cả gia đình năm 1952, trước lúc Bố về quê cha đất tổ. Bức ảnh ấy, Ông nội luôn đem theo bên mình. Rồi đến lượt bà, từ khi Ông tạ thế. Chi tiết nhỏ nhoi này lý giải bản lĩnh sống cao cường và hữu ích của Bố qua bao gian nan cơ cực ! Ông Bà luôn luôn trong sạch, nên Bố cũng liêm khiết tột cùng. Năm 1978, được chuyển công tác về Hà Nội, Bố xin trả lại cho thị xã Hải Dương ngôi nhà hoành tráng mà Bố được chính quyền tỉnh cấp cho năm 1970. Ông Bà như thế, nên Bố mới được thế này. Bố thế này, các con mới được như hôm nay.  

Theo nguồn Vanvn.net

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter