• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Một nẻo đường đời
Ngày xuất bản: 18/04/2017 2:22:45 SA

Truyện ngắn của Trần Cao Đàm

 

Chẳng biết có phải do nhân điện gây ra hay không mà hôm nay tôi  không thể tập trung tư tưởng để làm được việc gì. Người cứ lâng lâng, vẩn vẩn vơ vơ, đi ra đi vào. Cứ thế cho đến lúc tôi nhận được cú điện thoại thì thật bất ngờ, đến ngỡ ngàng. Người bạn gắn bó từ nhỏ, người đồng đội biệt tăm của tôi từ mấy chục năm đột ngột lên tiếng. Đúng là tiếng của Độ, chẳng chệch đi đâu được. Dù mới gặp được nhau qua điện thoại cũng đã là gặp, quý lắm rồi. Nhận ra, đúng là Độ, hàng loạt câu hỏi cùng bật ra, tôi định hỏi mà chưa biết nên hỏi cái gì trước. Mấy chục năm Độ đi đâu mà biệt vô âm tín? Giờ đang ở đâu? Sức khỏe thế nào? Đời sống ra sao? Vợ con đến đâu rồi? Sao bao năm nay cứ lặng yên? Sao biết được số điện thoại của tôi mà đột ngột gọi về?… Còn Độ thì cứ nói như xả nỗi lòng:

- Già rồi, bỗng đốc trứng hay sao, nhớ quê, nhớ bạn ghê gớm. Nỗi nhớ như bị dồn nén đến lúc bật lò so kim hỏa, tao thấy muốn gặp mày, gặp ngay lập tức, không thể chờ lâu hơn. Nghĩ đến mạng điện thoại rộng khắp, tao hỏi tổng đài, may quá, hỏi được số máy của cơ quan mày…

Hóa ra, Độ đã hỏi được số điện thoại cơ quan cũ của tôi mà có số điện thoại của tôi. Còn tôi với Độ, vốn có mối quan hệ, tình cảm gắn bó, đặc biệt từ khi sinh ra. Hai đứa từ khi lọt lòng mẹ đã là bạn, là hàng xóm của nhau. Chúng tôi vào đời hơn kém nhau có mấy ngày. Từ ngày còn trứng nước ấy, mỗi khi mẹ bận đi làm vắng chúng tôi vẫn ăn chung bầu sữa. Lớn lên cùng chơi với nhau, cùng cắp sách đến trường. Những năm tháng thơ dại ấy, Độ vẫn được người lớn khen là “Gặp người giỏi biết hỏi, gặp kẻ huênh hoang biết im lặng bỏ đi”. Sau này, chúng tôi cùng nhập ngũ, cùng ra chiến trường, cùng về một đơn vị. Số phận đã gắn bó chúng tôi với nhau từ nhỏ, cả khi yên lành và lúc đất nước chiến tranh. Sau những năm chiến đấu ác liệt, ngày giải phóng miền Nam, chúng tôi lại cùng xuất ngũ trở về quê hương…

Phải thừa nhận, Độ là người tháo vát, khéo léo hơn tôi. Từ ngày còn là học sinh trường cấp ba Nghĩa Lộ, Độ đã là học sinh giỏi. Ra chiến trường Độ vẫn khá như vậy, còn dũng cảm chiến đấu, còn có tài làm thơ. Dù Độ chỉ bật ra từng câu thơ một chứ chẳng bao giờ thành bài. Với anh em, như vậy cũng là ghê lắm rồi.

Có lần gặp mưa dầm dài ngày, đơn vị ướt lạnh leo núi luồn rừng, chân nặng bùn đất, vai mang vác nặng. Mưa dầm dề. Đơn vị hành quân liên miên. Còn trơn dốc, luôn nghe tiếng “oạch”, tiếng “uỵch”. Còn nổ ra tiếng cười. Có khi văng cả ra tiếng chửi, chẳng biết chửi ai, chửi cái gì. Mẹ nó chứ. Cha nó chứ. Đúng lúc ấy thì Độ bật ra thơ: “Dầm mưa trong rừng núi lạ/ Nặng nhớ quê nhà, nghĩa nước non”.

Độ vừa đọc xong, đồng đội đi cạnh vồ vập. Anh em túm đến, bảo Độ đọc lại. Rồi cùng đọc, cùng nhớ, quên cả dốc trơn. Mấy đồng chí còn góp ý, bảo Độ sáng tác tiếp. Nào là vắt nhiều như lá cỏ, vắt có cả trên cây. Nào là suất lương khô để trong ba lô mưa làm thành cháo… Nhưng góp ý thế nào Độ cũng im thin thít. Sau này, Độ còn sáng tác nhiều câu thơ nữa. Đó là: “Núi thì mát, suối thì trong/ Mà sao bom giặc nỡ lòng phá tan”. Rồi “Thấy trăng lại nhớ đến trăng/ Nôn nao quyết giữ vầng trăng quê nhà”…

Những câu thơ như thế, dù sao cũng làm Độ nổi tiếng, thành nhà thơ tiểu đội, cả trung đội, đại đội cũng biết, còn khen ngợi, động viên. Còn chúng tôi vẫn chiến đấu bên nhau, ngày qua ngày, mặc cho mưa lạnh, thiếu rau, thiếu ngủ. Mãi sau này, hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi cùng được đơn vị cho xuất ngũ, về quê Nghĩa Lộ. Tôi vào cơ quan cũ nộp quyết định, rồi nhận công tác. Còn Độ về nhà làm dân thường. Riêng tình cảm hai đứa vẫn gắn bó, thân thiết.

Đất nước sau chiến tranh còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, mọi thứ đều bán theo sổ, theo tem phiếu với lượng ít ỏi. Tôi vào cơ quan nhận việc, mấy anh chị cao tuổi, cả anh trưởng phòng đều thân tình truyền bảo kinh nghiệm: Sống ở cơ quan, hay làm dân thường là khác với sống trong quân ngũ đấy. Dù làm dân, nhất là ở trong cơ quan, ít nhất phải phấn đấu có “hai đê” (2Đ) để được bằng người. Muốn khá hơn người một vành tai thì phải phấn đấu để có thêm “ba đê” nữa. Hỏi ra, tôi mới được giải thích rõ. “Đê” là giấy đăng ký. Do bao cấp, phân phối theo chế độ, những đồ dùng lớn phải được cơ quan công an xét cấp đăng ký mới được dùng, mới thực sự là của mình. Nào đăng ký xe đạp, đăng ký đài, đăng ký máy ảnh, đăng ký súng bắn hơi… Còn đăng ký kết hôn thì đã đành. Theo ý anh truyền bảo tôi, “hai đê” để được bằng người là đăng ký kết hôn, đăng ký xe đạp. Là bộ đội trở về, đã cứng tuổi, ai cũng cần có đôi, cần lập gia đình, rồi có cái xe đạp làm phương tiện đi lại. Quả là các anh chị lớn tuổi hơn, đi trước, có kinh nghiệm sống, đã đúc rút ra, chẳng thể sai. Còn “ba đê” để hơn người là phấn đấu mua được cái đài, có đăng ký dùng để nghe hằng ngày. Thêm đăng ký cái máy ảnh, có đăng ký khẩu súng bắn hơi là để có cuộc sống so với mọi người là khá hơn. Riêng khẩu súng bắn hơi, nghe tới là tôi hiểu ngay. Ở tỉnh miền núi có súng hơi là có thể kiếm được con chim, con cò. Thực phẩm mua theo tem phiếu, có bán ngoài thì cũng chẳng có tiền… Là chiến sĩ ở chiến trường trở về, tôi thấy đã hơn bao đồng đội còn nằm lại nơi rừng núi xa xôi, đã may mắn lắm rồi, còn mong gì hơn ai nữa. “Ba đê” thì thật khó có, xa vời, cốt cho có “hai đê” trước là tốt lắm rồi. Mà “hai đê” này, cái “đê” đăng ký kết hôn, phấn đấu được đã mướt mồ hôi. Chúng tôi còn may mắn, đứa nào cũng đã có đối tượng, từ trước ngày nhập ngũ. Người yêu của tôi là cô giáo vùng cao, ngay trong huyện Văn Chấn này. Còn người yêu của Độ, là giao liên trên Trường Sơn ác liệt, sau giải phóng Sài Gòn cũng đã trở về. Thời cơ để đăng ký thuận lợi. Mà yêu nhau, chờ đợi nhau đều đã chín mũm cả. Riêng Độ còn phải chờ thêm ít ngày, mẹ Độ mất cũng đã sắp mãn tang.

*

Đất nước hòa bình thống nhất. Bộ đội trở lại quê hương, làm ăn, xây dựng gia đình. Hoàn cảnh ấy, những con người ấy, ai ai cũng quý mến, vun vén. Rồi cái ngày chờ đợi, hồi hộp cũng đến với tôi. Lần đầu tiên trong đời bỡ ngỡ thập thò ngoài cửa phòng hộ sinh, mong gặp người mặc blu trắng đi ra để hỏi. Dù phút chờ đợi ấy có dài, rồi tôi toại nguyện. So với Độ, tôi đã thành cựu chiến binh, đã có kinh nghiệm hơn. Rồi đến lượt Độ, thông cảm với bạn, tôi cũng theo đến nhà hộ sinh, cùng chờ đợi. Chờ người đẻ mà hồi hộp chẳng kém chờ đợi giờ nổ súng, xung phong vào đồn địch. Rồi người nữ hộ lý mặc áo blu trắng cũng xuất hiện, còn bế ra cả đứa trẻ bọc trong tã lót. Mừng quá, tôi và Độ xông lại đón. Bỗng, tôi tối tăm mặt mũi, choáng váng, ngực tức như gặp sức ép của bom. Cũng là trẻ sơ sinh mà sao chỉ có cái đầu tròn lông lốc, hai lỗ mũi tròn xoay, sâu hoắm… Tôi như sắp ngất. Còn Độ, chắc còn hơn…

Cũng là vợ chồng, chan chứa hy vọng đưa nhau đi sinh nở như bao người mà họ chẳng có con đưa về. Họ đau khổ. Họ nhận tội về mình. Ngoài miệng họ vẫn ngọt ngào, tình cảm, còn đôi mắt họ tôi nhận ra nỗi buồn, nỗi đau ghê gớm. Từ hôm ấy, về nhà, tôi hay bắt gặp họ tranh luận, nhận phần lỗi về mình. Có lần tôi còn nghe rõ tiếng Loan: “Anh Thắng, cùng đơn vị với anh từ đầu tới cuối đấy, con có sao đâu. Chắc chỉ do em nhiễm chất độc hóa học”… Sau mỗi đêm, tôi lại gặp đôi mắt họ thâm quầng thêm, trũng sâu. Họ cứ teo tóp, héo hon. Rồi Loan lăn ra ốm. Mấy lần Độ nhờ tôi đưa vợ đi viện. Bệnh tình của Loan không đỡ, còn nặng thêm. Dù ai cũng cố, cũng tận tình, rồi điều lo ngại nhất đã đến. Một nỗi đau khủng khiếp nữa lại úp lên đầu đồng đội của tôi. Độ đột ngột ngồi phệt xuống đất, miệng lẩm bẩm. Chợt, Độ vùng đứng dậy, hô hét. Hốt hoảng, tôi đâm bổ đi tìm bác sĩ. Đưa được bác sĩ đến thì chẳng thấy Độ đâu, tìm đâu cũng không thấy…

Từ đó, tôi vẫn để ý thăm dò về Độ. Sau này, đổi mới, báo chí thông thoáng hơn, tôi còn nhắn tin, thông báo tìm người lạc… Vẫn biệt vô âm tín. Mà tôi với Độ, cùng gắn bó bên nhau từ nhỏ, khác gì anh em. Thương đau, cố tìm, cố tìm đằng đẵng bao năm vẫn bặt. Giờ Độ bỗng lên tiếng. Hóa ra ngày ấy đau đớn quá làm Độ hoảng loạn tâm trí, không còn tự chủ, đã đi lang thang. Chẳng biết qua những đâu, đến những đâu, Độ chỉ biết khi thần trí tạm ổn định đã thấy mình ở trong nhà một bà tóc điểm bạc, phúc hậu như tiên, gần đất Tổ đền Hùng. Rồi Độ biết bà cũng là người mẹ mất mát trong chiến tranh. Con trai bà là liệt sĩ. Anh này cưới vợ khi sắp nhập ngũ. Người vợ trẻ này thì khéo léo, hiền thảo với mẹ chồng. Người chồng cũng vào Nam chiến đấu từ lúc lên đường là biệt tin, không thấy có thư từ về nhà. Mãi sau khi đất nước hòa bình, thống nhất gia đình mới nhận được giấy báo tử. Nhận tin con, dù đã dự đoán, người mẹ vẫn đau lòng, khóc lóc thương con, còn thương cho con dâu còn quá trẻ. Thương con dâu, con gái có thì, bà khuyên con đi bước nữa. Người con dâu tên Hiền chỉ nghẹn ngào, đau lòng hỏi lại mẹ chồng: “Nhưng còn mẹ”. Rồi hai mẹ con ôm nhau, cùng khóc. Thấu lòng con, bà chỉ còn ân hận nếu như nó có cho bà đứa cháu đã đi một nhẽ.

- Hôm ấy, bà ra chợ, gặp tao ngồi ăn miếng bánh do người đi chợ thương tình đưa cho. Khi kể lại chuyện, bà bảo, hôm đó như linh tính báo. Bà cảm như sắp gặp một người con. Ra chợ, bà gặp tao ăn ngồm ngoàm, miệng còn luôn “báo cáo thủ trưởng”, còn ra lệnh chuẩn bị vũ khí, còn hô bắt đầu hành quân… Bà biết tao là bộ đội đã qua chiến trường, dịu dàng, tỉ tê. Thế là tao cũng theo bà. Sau này tỉnh táo hẳn, bà hỏi tao nhà cửa, gia đình ở đâu để cho tiền, nhờ người đưa về. Biết bà là người phúc hậu, cũng mất mát, thương đau nhiều, mà mình có về nhà cũng chẳng còn ai, rồi gặp cảnh xưa, lại nghĩ ngợi, đau lòng, khéo bệnh lại tái phát. Tao xin với bà ở lại ít ngày để suy nghĩ. Nào ngờ ở lại tao càng thương càng quý mẹ, cảm như đã gặp mẹ đẻ của mình. Rồi lâu dần, tình cảm của mình với người con dâu bà nảy nở. Bà chủ động gợi ý tao là con nuôi, rồi gả con dâu, ở cùng với nhau. Tao nghĩ, quả là hợp lý, hợp tình, hợp nhẽ nhiều đường. Thế là tao ở lại với bà luôn từ đó. Bây giờ, tao đã có hai con, đủ trai, đủ gái. Cháu trai đã học xong đại học, là kỹ sư kiến trúc. Tao đặt tên cháu là Nhân để nhớ ơn những người có lòng với mình. Còn cháu gái tên là Nghĩa.

Kể tới đây, Độ chợt lại đọc thơ: “Trần gian cũng lắm người hiền/ Đau thương, dân dã là tiên trên trời”. Chợt nhớ ra, tôi lại hỏi:

- Thế bây giờ mày đang ở đâu?

- Tao đang ở Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

Rồi Độ giải thích:

- Bà mẹ nuôi tao có người chị gái ở trên này. Bà có con hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, cách Chợ Chậu mấy chục kilomet. Người con ấy hiện nằm ở nghĩa trang liệt sĩ tại đây. Năm 2000, bà chị này lên đây, định chuyển hài cốt con về quê. Lên đến nơi, bà thấy nghĩa trang khang trang, xây dựng đẹp quá, mà con bà nằm cùng đồng đội đông vui nên lưỡng lự. Nghĩ kỹ lại, bà còn thấy vùng biên giới đất rộng, người thưa, cần người ở. Thế là bà quyết định ở lại. Đến năm 2005, bà mẹ nuôi tao nhớ chị, rồi suy tính. Nhà chỉ có hai chị em gái. Chị ở trên này, tuổi đã cao, dù trên này làm ăn cũng dễ. Chẳng biết nghĩ thế nào, bà quyết định bảo tao đưa lên thăm chị. Hai bà bàn tính. Đâu cũng là đất nước mình, cơ ngơi của Vua Hùng để lại, đâu cần, đâu thấy nên thì ở. Mà lên đây chị em, rồi con cháu gần gũi đoàn tụ… Thế là bà quyết định chuyển lên… Chuyện thì nhiều, dài lắm, phải gặp nhau, phải tâm tình nhiều ngày. Cơ bản là tao với mày đã liên lạc được với nhau. Ý tao thế này. Dù thế nào, quê hương, rồi tình cảm tao với mày, rồi bạn bè, hàng xóm thời nhỏ, ai cũng chỉ có một, không thể thay được đâu. Đã đến lúc tao muốn về lại lắm rồi. Mà mày biết tính tao rồi đấy, không thể thiếu được mày đâu. Lúc nào cũng gắn bó bên nhau, từ tuổi thơ, đến đất nước đầy lửa đạn vẫn bên nhau. Ngày chiến thắng, từ chiến trường trở về vẫn cùng nhau trở về. Vì thế, mày cố lên đây mấy ngày, rồi chúng ta cùng về.

Hiểu ra nỗi lòng, tình cảm của bạn mà bạn tôi lại có nẻo đường đời tội nghiệp, tôi buột miệng:

- Cái thằng! Thôi được…

 

                                                                                    T.C.Đ

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter