• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Chuyện về một thương binh với bài hát “Cô giao liên”
Ngày xuất bản: 12/07/2017 10:25:09 SA

 Ký của Vũ Quang Trung 

Vừa gặp anh, tôi cứ nghĩ anh xấp xỉ tám chục tuổi, bởi mái tóc dài bạc phơ để gần ngang vai và dáng người gày gò dưới mức trung bình. Tôi đùa:

- Thế mà trên sân khấu hát bài: “Cô giao liên” trông bốc ra phết. Hát rất có hồn.

Anh cười:

- Cũng nhờ cái mũ lính và bộ quân phục nó kéo lại hình thức cho mình. Song cũng chính bài hát ấy là một kỷ niệm của đời lính đấy.

Anh đi lại, lấy nước, pha cà phê với thao tác nhanh nhẹn, gọn gàng và chắc chắn, cùng với nụ cười cởi mở có phần hóm hỉnh, tôi lại thấy anh trẻ hơn so với tuổi bảy mươi. Cùng nhâm nhi li cà phê, anh kể: Anh là Nguyễn Hoàng Phương, sinh năm 1947, quê ở Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình. Năm 1965, vừa học xong cấp III phổ thông, anh và bạn bè cùng lớp xung phong vào bộ đội, với khát khao được cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Nhưng khi quyết định về lại không có tên anh với lý do là con độc nhất. Anh vội vàng viết đơn tình nguyện lần thứ hai và trích máu ở ngón tay viết họ tên mình dưới dòng chữ ký. Anh thiết tha xin bố mẹ nhất trí. Cụ Nguyễn Đình Phượng trân trọng ký tên mình và còn ghi thêm: “Đây chính là giọt máu từ trái tim yêu nước của đứa con trai trong gia đình”. Anh được nhập ngũ, biên chế vào A2, B4, C7, Đ1, E3, F324. Vừa huấn luyện, vừa hành quân dòng dã 3 tháng, cả đơn vị luồn lách vượt sông Bến Hải đến Quảng Trị. Trung tuần tháng 7 năm 1966, đơn vị anh đánh trận đầu tiên dưới chân đỉnh Cù Đinh. Hôm ấy, hơn một trung đoàn cả Mỹ, cả Ngụy đổ bộ định chiếm đỉnh Cù Đinh, ta đánh trả ác liệt trọn một ngày không kịp ăn uống. Tối đến, địch rút chạy. Trung đội anh tiêu diệt nhiều ổ cối và đại liên của địch. Anh cùng tổ ba người có Nguyễn Hữu Việt, Trần Văn Long, cùng quê Ninh Bình diệt gọn hai ổ đại liên của lính Mỹ, tiếp tục xông lên quét AK vào đám giặc đang chạy tháo thân xuống suối Ba De, xác giặc ngổn ngang bên dòng nước. Cũng lúc đó Phương bị thương nặng vào mạng sườn. Nằm ở Viện 403 tiền phương, anh được biết mình được phong tặng danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ” cùng với bài báo của phóng viên mặt trận viết về trận đánh này, trong đó có câu: “Cù Đinh bên suối Ba De- Ngàn thây giặc Mỹ chết đè lên nhau”.

       Lành vết thương, anh cùng đơn vị tiếp tục tham gia nhiều trận đánh xuất quỷ nhập thần mà anh em vẫn đùa “Cơm Bắc- Giặc Nam”. Và Đại đội 1 của anh được mệnh danh là “Mãnh Hổ đất Sơn Long”. Trong đó anh nhớ mãi trận đánh phối hợp của nhiều binh chủng: Tên lửa- Pháo binh- Bộ binh với hình thức tác chiến hiện đại, đập tan cuộc hành quân “Gian Sơn- Xi Ti” của Mỹ Ngụy. Ngay trong trận đánh ác liệt ở Gio Linh, chính trị viên Đại đội Nguyễn Đức Mai đã trân trọng trao quyết định kết nạp Nguyễn Hoàng Phương vào Đảng Cộng sản Việt Nam và danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ” lần thứ hai.

       Song trận đánh trong cuộc tổng tiến công mùa xuân 1968 mới là kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời lính của Phương. Anh kể:

       Lúc đó tôi là Trung đội trưởng Trung đội 4 cùng đại đội đánh thẳng vào khu đồn Mang Cá của địch, phía Tây thành Huế. Hệ thống phòng ngự của chúng rất kiên cố, pháo lớn, pháo nhỏ của ta cấp tập dội xuống mà không phá nổi, điều ĐKB có sức nóng hơn 80000 mà các hệ thống boong ke, lô cốt của địch vẫn trơ trơ. Phía trước lại là một khu bãi trống, cỏ tranh mọc lưa thưa, ta không sao tiến được. Trung đội của tôi án ngữ một ngõ nhỏ, khóa chặt không cho địch xông ra. Súng các loại của hai bên bắn xối xả, nhằng nhịt, bụi mù, khét lẹt. Trung đội của tôi còn 6 anh em, cũng là lúc tôi bị thương nặng, mảnh cối xuyên thủng lưng, hai cánh tay giập nát. Tôi được đưa về hầm cấp cứu.

       Người đón tôi đầu tiên không phải là cứu thương mà lại là một cô giao liên, với giọng nói Huế nhẹ nhàng, rắn rỏi:

       - Đưa thẳng về hầm nhà em. Phân viện 82 dã chiến không còn chỗ tiếp nhận thương binh nữa.

       Tôi được đưa vào căn hầm khá rộng, trong đó đã có 5 thương binh. Cô giao liên với tập giấy trên giá và nói nhanh:

       - Em là giao liên Phan Thị Thanh Thúy. Trạm 37. Anh trả lời theo em nhé. Giúp bác sỹ.

       Cô hỏi tên, tuổi, đơn vị tôi, ghi nhanh vào tập giấy, rồi quê quán, anh em. Tôi bảo tôi là con độc nhất. Cô dừng bút nhìn tôi, chớp chớp mắt rồi hỏi tiếp khi cần thiết thì báo tin cho ai. Xong cô buộc vào cổ chân tôi mảnh vải đỏ bảo là tín hiệu thương binh nặng.

       Tôi thiếp đi không biết bao lâu, khi tỉnh dậy trời đã sáng từ bao giờ. Hai tay và lưng tôi đã được băng bó. Tôi hỏi, Thúy nói với chất giọng Huế cứ như hát:

       - Hai tay chỉ giập phần mềm. Còn bắn được. Cái lưng thì nó khoan cho anh một lỗ cho dễ thở. Được chưa?- Cô cười rõ xinh.

       Duy nhất trong hầm có tôi được cô bón cháo. Cô thổi từng thìa, từng thìa như người mẹ bón bột cho con thơ. Rồi cô kể ba cô cũng là lính biệt động thành của quân giải phóng. Bốn năm rồi chưa về nhà lần nào. Mẹ là giáo viên. Hai em còn đi học, ở trường suốt ngày.

       Chập tối hôm ấy cô từ đâu về, bật cửa hầm nói như mệnh lệnh:

       - Năm anh chuẩn bị rời hầm. Ai cố gắng đi được thì tự khắc phục. Bần cùng sẽ có cáng thương hỗ trợ. Còn anh Phương ở lại cho ổn định đã.

       Tối hẳn, ba người tự đi được, hai người phải cáng. Họ lặng lẽ khuất vào bóng đêm.

       Cả ngày hôm sau tôi nhận thuốc của y tá. Thanh Thúy qua lại chăm sóc tôi tự nhiên, gần gũi. Tôi tập đi lại chầm chậm trong hầm, thấy thế cô bật cười khanh khách:

       - Anh di chuyển như một hình nộm ngoài cánh đồng ấy. Trông thế thì các cô gái tưởng ma, chạy hết. Tối nay đi nhé.

       - Đi đâu hả Thúy?

       - Lên rừng. Lên viện 82. Nơi đó mới chữa được. Đây chỉ sơ cứu thôi.

       Tối đến, Thúy đưa tôi đến phân viện 82 thì đã có khá đông thương binh cũng chuẩn bị di chuyển. Một đoàn quân lặng lẽ với cáng thương, với nạng gỗ, với gậy chống, áo quần xộc xệch, đầu có mũ, đầu không mũ quấn băng, chân giày, chân dép, chân đất, dìu nhau, cõng nhau, cáng nhau từng bước tiến trong bóng đêm. Thanh Thúy đeo ba lô giúp tôi. Cả hai chậm chạp đi phía cuối hàng. Nằm trong hầm ít cử động, tưởng mình đi lại dễ dàng. Khi đi theo đoàn quân tôi mới thấy sức khỏe mình suy sụp, thở khó khăn quá. Cả vùng ngực, vùng lưng đau thắt như có ai buộc chặt hai lá phổi. Thấy tôi choáng váng, Thúy bước lên đỡ tôi. Tôi cố gắng hơn để Thúy yên lòng song được vài bước lại thở dốc và đổ sập xuống. Thúy gọi đồng đội. Trong lúc tối tăm mặt mũi tôi vẫn nghe rõ tiếng Thúy “Anh ấy bị mảnh cối cắm trong lá phổi, nên rất khó thở. Cho anh ấy nghỉ một chút”.

       Đỡ chóng mặt, tôi gượng đứng dậy, bước tiếp. Thúy động viên:

       - Cứ bước nhẹ nhàng thôi anh ạ! Ta đi chậm một chút cũng được. Đường này em thạo như lòng bàn tay.

       Thế là chúng tôi cứ tụt dần, tụt dần về phía sau đoàn quân, rồi xa hẳn tiếng chân của đồng đội. Tôi ước ao có một cái nạng để chống, song hai tay bị băng chặt rồi. Tôi cứ bước trong niềm khát khao: “Sắp tới chưa? Sắp tới chưa Thúy ơi?”. Bỗng mũi tôi trào ra hai dòng nước âm ấm, tanh tanh, tôi hiểu đó là máu trong phổi đã tràn ra cả mồm. Mắt tôi tối sầm, lảo đảo, Thúy vội vàng đỡ tôi và khoác chặt dìu tôi từng bước. Tôi lắp bắp:

       - Thúy lau hộ tôi cái mặt.

       Thúy cầm khăn lau cho tôi và kêu khẽ:

- Anh trào máu ra lúc nào thế? Chết thôi! Ngồi xuống! Ngồi xuống đi.

       Thúy đỡ tôi ngồi xuống, lau sạch máu và đưa bi đông nước lên miệng tôi:

       - Anh súc miệng đi! Uống một chút cho đỡ khát.

       Tôi nghe theo như một đứa trẻ. Bỗng Thúy cười khúc khích:

       - Con trai miền Bắc hiền de. Dễ bảo. Bao giờ hòa bình em ra xem Hà Nội, phải tìm được một anh miền Bắc mới đã.

       Tôi lắp bắp theo:

       - Tôi sẽ đứng giữa cầu Hiền Lương đón Thúy nhé.

       - Thật không?- Thúy hóm hỉnh- Hôm qua anh chả kể về Ninh Bình quê anh là gì. Lại là con trai độc nhất. Em giữ hộ anh tờ giấy gọi Đại học rồi nhé. Chà! Một chàng sinh viên Sư phạm đi cầm súng đánh giặc.

       - Ta đi tiếp thôi Thúy ạ! Tôi chủ động đứng dậy.

       Rồi lúc đi, lúc nghỉ, có lúc tôi muốn bò cho đỡ chóng mặt… để đến lúc có bốn người quay lại đặt tôi lên cáng đưa về viện.

       Xếp cho tôi chỗ nằm ổn định, Thanh Thúy ấn vào tay tôi một cái túi xinh xinh và nhỏ nhẹ:

       - Đây là kỷ niệm của cô giao liên Huế và thuốc sốt rét, thuốc bổ, anh nhớ dùng đấy nhé. Tạm biệt anh. Chờ ngày hòa bình nhé.

       Tôi không kịp nói gì thì Thúy đã vút sau tấm bạt che cửa.

       Nửa đêm hôm ấy tôi chợt nghe nhiều tiếng người, tiếng chân đi lại vội vã. Anh em bảo có thương binh cấp cứu. Tiếng trực ban to nhỏ: “Đạn cối nổ giữa đội hình. Hy sinh sáu. Trong đó có một nữ giao liên tên là Thanh Thúy, trong người chỉ có duy nhất tờ giấy gọi đi học Đại học Sư phạm Hà Nội, không rõ tên ai vì máu tràn thấm nhòa hết…”. Nghe đến đây tôi như chết lặng: “Thanh Thúy hy sinh rồi ư? Không! Không! Ngàn lần không. Thúy ơi! Không phải thế. Thúy phải sống! Phải sống Thúy ơi! Hết chiến tranh ta còn gặp nhau kia mà. Cầu Hiền Lương còn đón Thúy! Hà Nội còn đón Thúy và Ninh Bình cũng đợi đón Thúy kia mà! Thúy ơi…”.

       Cuối năm 1968 tôi được ra Bắc an dưỡng rồi đi học Trường sỹ quan đặc công và được giữ ở lại làm cán bộ huấn luyện. Một vết thương ở phổi vẫn còn mảnh cối của địch găm suốt cuộc đời tôi, cùng với một vết thương của trái tim khi mất một người đồng đội không sao hàn gắn được. Sau này bạn bè bảo: “Đó là tình yêu đấy”, tôi mới sực tỉnh: “Đúng! Đúng rồi! Tôi đã yêu Thúy từ lúc nào rồi”.

       Nửa thế kỷ đã trôi qua. Trung úy Nguyễn Hoàng Phương ngày nào nay đã là chủ một trang trại nho nhỏ ở tổ 32, phường Yên Thịnh, thành phố Yên Bái bên người vợ hiền và 5 cháu đã khôn lớn, thành đạt. Xung quanh căn nhà xây là hơn 2000 gốc cây cảnh, trong đó tới hơn 1400 gốc Tùng La Hán hơn 10 năm tuổi. Đã có thương lái trả hơn một tỷ đồng nhưng anh chưa bán. Trên đồi gần một ngàn cây keo đã khép tán và hơn ba chục đàn ong mật cùng gia súc, gia cầm, thủy cầm, rau xanh, hoa trái đủ cung cấp cho gia đình và bán ngoài xã hội.

       Chia tay người Chi hội trưởng Chi hội cựu chiến binh vui tính, mẫu mực, là thương binh với hai tấm bằng “Dũng sỹ diệt Mỹ”, nhiều huân huy chương, tôi nhắc lại:

       - Tôi hiểu rồi! Bài hát “Cô giao liên” sẽ còn đi theo năm tháng và theo suốt cuộc đời anh. Hãy hát và hát nữa đi, cho chúng tôi cùng hát nhé.

       Anh nắm chặt tay tôi, đôi mắt mờ đi, sâu thẳm:

       - Một người bạn! Một liệt sỹ sống mãi với cuộc đời tôi, để tôi được ơn trả nghĩa đền. Hôm nào anh đi Huế cùng tôi nhé…

       Đôi mắt tôi cũng nặng trĩu, tôi chỉ còn biết gật gật đầu và thầm nói: “Nhất định rồi! Nhất định tôi sẽ đi cùng anh”.

 

                                                                                     V.Q.T

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter