• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Đà Lạt- nhớ
Ngày xuất bản: 19/09/2017 1:55:15 SA

Bút ký của Hoàng Thế Sinh 

Tiếng cồng chiêng Đăng Jrung Krajan Tham trầm hùng trong ánh lửa bập bùng. Các chàng trai đóng khố, mình trần, bắp tay bắp chân cuồn cuộn, bước chân dũng mãnh như bước chân con beo vồ mồi, cánh tay dài và mạnh mẽ như cánh tay con gấu bập vào tổ ong, tiếng hát, tiếng hú như voi gầm như thác đổ. Các cô gái apan1 Sao hoa văn thổ cẩm, eo thon như eo con ong rừng, chân dài như chân hươu, cánh tay mềm và khéo như tay vượn hái quả, mắt sáng long lanh như mắt chim chơrao, tiếng hát véo von như chim sơn ca hót ban mai, như suối ngàn rì rào đêm thẳm, như gió thổi mơn man chợt Thu về, như lá rụng tím rịm hoàng hôn. Giàng ơ-ơ-ơ-ơi! Tôi cứ ngỡ mình đương khắc nhập đắm chìm vào cái thời xửa xưa hồng hoang với buôn làng của Đam San, của Xinh Nhã, của Y Ban2.

Giàng ơ-ơ-ơ-ơi!

Tiếng cồng chiêng trầm hùng của người Tây Nguyên cứ vang vọng, thắp lửa trái tim tôi, cứ cuộn quấn bánh xe U- oát ríu gió mà vượt ngàn thông lên đỉnh Lang Biang 2.167m. Tầm tay với tới mây bay vòm trời. Sương giăng mờ trắng thung lũng. Gió lộng trời thẳm xanh. Tôi chợt mơ màng mộng mị. Ơi chàng Lang, nàng Biang,3 hoa Kơ- - đáp4 vẫn nở tươi đỏ trời Tây Nguyên. Hoa Dã quì vẫn tỏa vàng như nắng khắp núi rừng Tây Nguyên. Chim chơrao vẫn nghiêng cánh mây ngàn Tây Nguyên. Người Lạch và người Srê dù mạnh như voi, như beo, như gấu cũng không chia cắt được tình yêu của chàng và nàng. Ơi cái buôn làng Tây Nguyên dựng trên ngọn đồi lum lum như mui rùa, sum suê cây lá, vút cao cây thần. Ơ kìa! Tớ trai đi lại chen chúc nhau, ngực sát ngực, tớ gái vú sát vú. Trâu bò nhi nhúc như bầy mối, bầy kiến. Dấu chân ngựa nhiều như dấu chân con rết. Dấu chân voi to và sâu như đáy cối. Nồi đồng nhiều như ốc sên ở trong rừng. Nhà dài như tiếng chiêng. Trên sàn trước hiên, chim vàng anh và chim sáo nhảy đi nhảy lại... Các buôn làng Tây Nguyên giàu đẹp như thế nên đã sinh ra những người con anh hùng vẫy vùng ngang trời đất. Đam San, Xinh Nhã thì cả xửa xưa đến nay ai chẳng biết. Còn Y Ban đấy, chàng cũng là một anh hùng dị thường. Lọt lòng mẹ, Y Ban đã khóc mãi không thôi, cho đến khi đặt tên đúng tên Trời đặt cho mới thôi khóc. Rồi Y Ban uống hết bảy bát hạt sương, cắn đứt bảy dùi nung đỏ. Lớn lên, Y Ban đánh con quay nào cũng vỡ, múa khiên đao nào cũng gãy. Lúc chiến đấu, Y Ban tung chiếc khiên lên cao, đưa con đao về phía mặt trời, nghe như cơn giông, trông như ánh chớp đầu mùa mưa. Y Ban nhy một nhy, cả mặt đất rung rinh về phía Bắc bảy lần, về phía Nam bảy lần. Y Ban nhy phía Tây, sông suối đều chạy theo, múa phía Đông núi đồi đều ngã theo. Y Ban múa đến đâu cây cối bị cuốn theo đến đó. Tiếng khiên gầm thét như sấm sét. Chỉ nghe tiếng khiên gầm, chỉ thấy đao chớp nhoáng và chỉ thấy cơn bão thổi thành ùn ùn mây trắng trên trời, còn Y Ban thì người ta chẳng nhìn thấy chàng đâu... Những chuyện như thế về Tây Nguyên kỳ diệu lắm, nhưng xa lắm rồi, đã neo đậu thành rêu phong trong trí nhớ. La Ngư Thượng của người Lạch, người Srê xửa xưa bây giờ đã biến thành Đà Lạt tráng lệ, lung linh dưới tầng tầng mây trắng núi Lang Biang kia. Chào nhé, Lang Biang! Hồi ức về Tây Nguyên với tiếng cồng chiêng Đăng Jrung Krajan Tham cuốn theo tôi về Đà Lạt. Ây dà! Đà Lạt ngàn hoa muôn sắc màu. Hoa tăm tắp trong cánh đồng hoa thương mại. Hoa tràn công viên. Hoa ríu ríu bên hồ. Hoa giăng giăng theo quốc lộ. Hoa leo mềm tường rào. Hoa men rối rối lối nhỏ ngõ phố. Phăng. Dã quì. Thiên điểu. Cát tường. Dã yến thảo. Mộc lan. Ngọc Trâm. Hải đường. Đỗ quyên. Sen vàng. Thủy tiên. Thược dược. Lan hoàng thảo. Hồ điệp. Lưu ly. Phượng tím khắp thung lũng Tình Yêu đã lọt vào “mắt xanh” của Họa sỹ Việt Hưng. Nhiều loài hoa lắm! Hoa không chỉ khoe sắc. Hoa còn thể hiện tình người cao quý. Hoa Hồng- tình yêu tinh khiết, tỏ lòng ái mộ, sự hạnh phúc và vinh dự. Hoa Bất tử- tình yêu bất diệt. Hoa Cẩm chướng- tình yêu trong trắng, thanh cao, mang tình bạn bè, sự quí mến. Hoa Đồng tiền- sự may mắn, sôi nổi, nhiệt tình, tin tưởng. Hoa Pansy- sự quyến rũ, tình yêu thủy chung, tính hiếu kỳ. Hoa Bồ công anh- vẻ đẹp giản dị, mong manh, tượng trưng cho tình yêu lứa đôi... Hoa còn trở thành Quốc hoa như hoa Huệ tây là Quốc hoa của Pháp, hoa Diên vỹ là Quốc hoa của Jocdan, hoa Uất kim hương (Tulip) là Quốc hoa của Ba Tư. Còn bao nhiêu loài hoa quí nữa, thì nhiều nơi cũng có, nhưng Đà Lạt còn có mấy loài hoa quý và rất hiếm như hoa Taccachan Trieri, hoa Nepenthes Tanax, hoa Dracum culis Vulgaris, hoa Amorphophanllus titamum- Tây thứ thiệt. Đà Lạt nổi tiếng ngàn hoa, cũng nổi tiếng ngàn thông ngun ngút gió. Kia, thông liền thông dinh Bảo Đại, thông giăng tít Đồi Cù, thông nghiêng bóng hồ Xuân Hương, thông vấn vít hồ Than Thở, thông nhấp nhô đập Đa Thiện, thông miên man đèo Pren, thông xanh rịm hồ Tuyền Lâm. Thông ngàn ríu rít sum suê. Thông ba chụm bóng ôm ấp ấm áp. Thông đôi dan díu gió sương. Thông đơn lẻ loi buồn. Nghĩ về thông, tôi chợt nhớ về bạn. Mấy lần trước, lần thì vượt đèo Bảo Lộc, lần thì vượt đèo Sông Pha, lần thì vượt đèo Phượng Hoàng, lần thì vượt đèo An Khê đến Đà Lạt, tôi gặp các bạn nhà báo Lâm Đồng, cái lần vượt đèo Sông Pha ấy, còn nhớ mãi Thanh Đạm, Thùy Mai, Hữu Nết, Hoàng Hận…, nhớ mãi em Khanh, em Thanh, em Phương giáo viên Trường Cao đẳng Sư phạm- các bạn và các em như ngàn thông ríu rít. Bây giờ, mỗi người mỗi ngả, như thông ba thông đôi thông đơn, xa và gần, ấm và lạnh, thôi thì, theo dòng chảy cuộc đời. Còn bây giờ, mấy ngày hạ tuần tháng Năm, may có tí văn chương mà tôi được “bay” vi vu trên chín tầng mây từ Nội Bài xuống Liên Khương vào Nhà sáng tác Đà Lạt, số 2A Yên Thế, ấp ủ một cuốn tiểu thuyết diễm tình. Anh em văn sỹ Yên Bái núi núi, rừng rừng xa xôi miền Tây Bắc đến Đà Lạt cũng núi núi, rừng rừng Tây Nguyên xa xôi cao vời, gặp anh em văn sỹ Đà Lạt, chả mấy ngại ngần, lần lần thân mến. Ríu rít bạn, Nhà thơ Phạm Quốc Ca- Chủ tịch Hội VHNT Lâm Đồng, NSNA Hà Hữu Nết- Chánh văn phòng Hội VHNT Lâm Đồng, Nhạc sỹ Đình Nghĩ- Trưởng đoàn Nghệ thuật Lâm Đồng, Nhà thơ Vương Tùng Cương, Họa sỹ Lương Nguyên Minh- Giám đốc Khu Bảo tồn quốc gia Cát Tiên, Nhà văn Nhà báo Chí Long- Tổng biên tập Tạp chí Lang Biang, người quê Nghệ An, người quê Quảng Bình, người quê Hà Nam, người quê Hưng Yên, người quê Hà Nội. Tôi biết, các anh từng đánh giặc mù trời, mãi đến khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước mới lại cắp sách tới giảng đường đại học. Các anh đều thành danh, thành đạt, kiêu cao lắm. Ấy mà gặp bạn văn sỹ Yên Bái với văn sỹ Đồng Tháp nữa, là ríu rít tay ấm, ríu rít miệng hoa, ríu rít ca, ríu rít thơ, với rượu ngon đây, nâng tay mời, là bạn thì hãy cạn chén này, cạn chén nữa, chén nữa..., biêng biêng, đầu mày cuối mắt long lanh, long lanh, nghiêng ngả, nghiêng ngả thì hồn thơ bay bổng, thì lời ca đắm say, cho tơi bời hoa lá, cứ như Festival bạn bè, vui ơi là vui! Thì cứ thơ tình của Quốc Ca, của Thai Sắc, của Hiền Lương, của Quang Khiêm mà đọc, cứ tình ca Tây Nguyên, tình ca của Đình Nghĩ, của Kim Phụng mà hát, hay lắm, Như nhạc sỹ Kim Phụng hát tình ca Đà Lạt có chàng nghe say điếu đổ nhé. Rồi dắt díu nhau đi du hý sáng- trưa- chiều- tối, chàng Quốc Ca bầu rượu “túi” thơ, chàng Đình Nghĩ tay đàn “túi” nhạc, nàng Thu Hương miệng hoa “túi” thơ, chàng Hữu Nết tay máy với một “túi” Đà Lạt xưa và nay kể như khướu hót, nàng Kim Phụng miệng hoa “túi” nhạc…, tới làng Cù Lần với Nhạc sỹ Tuấn Anh chẳng thấy người cù lần chỉ gặp người khôn, vào làng đất sét chẳng thấy nghệ thuật đất sét chỉ thấy đồ đất sét, qua đèo Pren xuống thác Pren nghe ngàn thông hát gió, nghe thác đổ ào ào, đến Cam Ly cưỡi ngựa chơi thoáng chốc, sang Thung lũng Tình Yêu mê mải phượng tím, xuống Tuyền Lâm bảng lảng sương vấn vít hương trầm, tiếng chuông Thiền viện Trúc Lâm binh boong thinh không- mô Phật! Ô, cảm nhận, bạn văn sỹ Đà Lạt chân thành, đôn hậu, hồn nhiên lắm, mà sao phớt buồn? Tôi hiểu rồi, chơi thật lòng với nhau mới hiểu được, các bạn phớt buồn vì chợt nhớ quê hương đấy thôi, chẳng thế mà ca Nam Bộ câu nào, bài nào cũng da diết nhớ, ngậm ngùi thương, man mác buồn. Ơ mà, buồn cũng là một phẩm chất đáng quý của con người đấy. Này nhé, tôi cùng các bạn Yên Bái được nhấp chén rượu ngon với củ lạc bùi thơm của nả Diễn Châu, Nghệ An tại tư dinh nhỏ xinh mộc mạc, giản dị của Tiến sỹ Văn học, thầy giáo Đại học Tây Nguyên, Nhà thơ Phạm Quốc Ca, dù gia đình hạnh phúc, sum suê con cháu, mà bỗng thương bạn Ca- Hằng ly quê vời vợi non ngàn. Một trưa kia, tôi cùng các bạn Yên Bái được ăn bữa cơm đậm đà xứ Huế do chính chị Phương, vợ của Nguyên Minh nấu nướng, ngon tuyệt. Sự thể là, họa sỹ Lương Nguyên Minh vốn là bạn học mỹ thuật với Họa sỹ Nguyễn Đình Thi- đương chức Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Yên Bái, đương “cai quản” văn sỹ Yên Bái ở Nhà sáng tác Đà Lạt, nên bạn bè được hưởng lộc của Phương- Minh đấy. Lại nói, trước bữa ăn, tôi mê mải ngắm tư dinh Phương- Minh thật đẹp và sang trọng. Mà Họa sỹ Nguyên Minh thì biền biệt phương trời, làm sếp ở mãi Cát Tiên cách xa Đà Lạt hơn hai trăm cây số, năm thì mười họa chàng mới về một phen, để nàng Phương vò võ một mình, chim sáo bay xa, cây Anh đào Xuân mới nở hoa, hoàng hôn cứ tím cả vòm trời, để âm thầm bao nỗi nhớ thương. Chợt một chiều tim tím, tôi cùng Việt Quân ta- xi đưa vợ chồng nhà thơ Vương Tùng Cương về tư dinh trên một cái dốc cao cao, đường apphan êm, cũng chẳng nhớ số nhà và con đường nữa, thì... vưỡn “Tôi còn em một màu xanh thời gian/ Một chiều mái tóc em bay chợt nhòa chợt hiện/ Người nghệ sỹ lang thang hoài trên phố/ Bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường”. Tệ lắm! Tôi thầm rủa mình. Vợ chồng Nhà thơ Vương Tùng Cương- Kim Oanh dẫn tôi và Quân lên lầu, nghe nói, thật bạn văn mới được lên lầu nhé, may rồi. Liếc nhanh, phải khen tư dinh Cương- Oanh đẹp và sang trọng. Tủ sách lớn. Tranh treo đẹp. Salon êm. Máy nghe nhạc nữa. Chúng tôi ngồi bên chiếc bàn nhỏ, anh Cương mang ra chai rượu to đùng, rót mỗi người lưng ly- thứ “quốc lủi” cun cút chở từ quê Bắc Giang vào, thì uống, ờ, rượu thơm ngon thật, rõ là người kén rượu mời bạn văn, quý quá. Vừa thưởng rượu quê vừa nghe ca nhạc. Tôi cứ tưởng anh lại cho nghe tình ca Tây Nguyên, không phải, anh bảo đấy là những bài hát do con gái anh sáng tác. Tôi không thạo âm nhạc, nhưng bài hát của con gái anh sáng tác, lúc như đốt lửa rừng rực trái tim, lúc như thả nước mát rượi từ máng lần trên núi đá vào tâm hồn, tôi ngồi lịm im, giọt rượu Bắc Giang như ngọn lửa trắng đương đốt cháy tâm hồn tôi. Anh Cương lặng thầm nhấp rượu, vẻ mặt trầm buồn. Tôi ngó sang bên, Oanh ngồi lặng, mắt nhìn bình thản, thì lạ gì các người văn sỹ- chắc Oanh đương nghĩ thế, vui là biến đâu mất, mà buồn thì về nhà, rượu vít nghiêng cổ chai, thuốc lào lơ mơ khói, có khi đầu bốc lửa nhưng im như đá, lạ thế. Nhà thơ Vương Tùng Cương im như đá ư? Biết mà, anh Cương ơi, như chim gâu đôi di trú, anh và Oanh đã bay xa thành Thăng Long vào Đà Lạt, thăm thẳm góc trời, muốn lặng vơi những ký ức đau buồn, liệu có lặng vơi bao nhiêu nỗi đau buồn? Tôi bỗng nhớ lời bài hát của nhạc sỹ nào, nỗi niềm thì: Hãy hát lời lửa cháy bằng trái tim tình yêu/ Hãy hát lời tình yêu bằng trái tim lửa cháy/ Hãy hát lời lửa cháy bằng trái tim yêu thương/ Hãy hát lời yêu thương bằng lửa cháy trong ta. Thời gian “bóng câu” cửa sổ, rồi tình yêu và thi ca sẽ giúp anh vượt qua nỗi đau buồn. Thôi nhé, tôi về đây! Tôi và Quân ta-xi về, đêm xuống nhanh. Phòng vắng. Bạn văn Thế Quynh đâu rồi? Tôi cứ đi ra, đi vào hình như quên thứ gì? Ô không! Nghĩ vẩn vơ thôi! Cứ tưởng chỉ Vương Tùng Cương buồn, tôi cũng đương buồn đây. Bởi sực nhớ cái ngày xa rồi, lên Đà Lạt, ngỡ bị em Thanh bỏ rơi, một mình lang thang bên hồ, rừng thông, đồi cỏ, tóc dài bay bay gió…, đêm buồn, tôi hí hoáy viết thư cho em, giãi bày nỗi niềm, rằng: Mùa Hạ tụt lại dưới chân đèo Sông Pha để mặc anh lên núi, trái tim người lái xe đặt ngay trên vành lái, mùa Thu lạc đâu về rơi xuống cao nguyên, tất cả xanh từ ngọn thác Pren./ Thật bất ngờ anh gặp được em như Yasin5 tìm ra Đà Lạt, em là ngọn lửa ấm sáng cao nguyên những ngày giá rét, đủ cho anh nán lại đến vô cùng./ Nụ cười trên môi em làm ngực anh nổ bùng những hồi chuông từ quả chuông tim đỏ, đã lâu rồi lặng bỏ chưa có gì rung nổi một âm thanh./ Xin em đừng trách anh sao cứ nói những điều vơ vẩn, bởi trước em, anh không thể nghĩ nổi một lời nào cho thật hay cho rõ ràng cẩn thận, tất cả là thực là mơ như có như không./ Anh chợt vùng đuổi theo em khắp các triền thung chỉ thấy Đồi Cù xanh mướt mát, chỉ thy sương mờ muốn giấu đi nghìn ngọn tháp, những biệt thự nép mình trong tán biếc rừng thông./ Hãy đợi anh, em có nghe thấy không, hãy đợi anh bên bờ hồ Xuân Hương hay bên hồ Than Thở hay đỉnh Cam Ly ạt ào thác đổ, em có nghe thấy không, điểm đợi tùy em, không kịp rồi, Đà Lạt chiều cô đơn..., đến thung lũng Tình Yêu cũng lại không em, trái tim như văng ra giữa bầu chân không lơ lửng, anh đi lang thang vai chảy nắng vàng, tóc bay gió thoảng giữa thung lũng hình hypepol trải thảm cỏ mềm, anh lịm đi như tan hết vào em./ Con gái cao nguyên mắt xanh đến thế, vừa kịp thốt lên gió đã cuốn lời anh ném xuống đập Đa Thiện, tiếng em cười gió thổi bay cao giữa những chùm lá thông nhọn thì thầm xôn xao những lời tâm sự, anh ép tay lên ngực mình nén giữ chờ nghe em giọng nói ngọt ngào may chăng lẫn đôi câu xa xôi bóng gió, mà vẫn không, chỉ có tiếng thông vĩnh viễn rì rào./ Anh trở lại anh trong bất chợt mưa ào, cao nguyên vụt mông lung huyền ảo như tất cả em tất cả em trong màu đỏ áo, anh không giữ nổi mình nữa đâu./ Người bạn trai bên anh như những hôm nào, lặng lẽ nhìn anh nở nụ cười thông cảm, biết rằng không em, anh ấy đi bầu bạn, cho có hai nhưng không thể thành đôi./ Biết nói thế nào cho giản dị em ơi, anh với thơ anh thôi đành bất lực trước cao nguyên xanh với thung lũng Tình Yêu tuyệt đẹp..., mà không em..., như Lang Biang đứng một mình./

Ây dà!

Nhà thơ Vương Tùng Cương ơi!

Như Lang Biang đứng một mình!

Một sự cô đơn khổng lồ!

Ô, rõ là tôi đương một mình.

Các nghệ sỹ nhiếp ảnh Vũ Chiến, Hoàng Đô, Tiến Hùng, Trung Hiếu, Xuân Tình còn đương phiêu diêu mây ngàn, thác suối, cỏ hoa, chớp ảnh tít mù. Một mình tôi- một mình? Phải đi đâu chứ?           

Thành phố Đà Lạt -ảnh internet

Tôi lững thững xuống đường, biết rồi, Đà Lạt “3 không” và “4 có”, bây giờ tôi muốn ngắm Đà Lạt đêm, ngồi cafe Nhật Nguyên 03 Lê Đại Hành mà nhìn ra hồ Xuân Hương, mê phải biết. Gọi ta-xi. Ào đến. Ta-xi Quốc Tuấn mỉm cười chào, vừa nhấn ga vừa ướm lời, hỏi tôi đêm nay muốn ngủ khách sạn nào? Một sao? Ba sao? Năm sao? Tôi mỉm cười, nhìn mảnh catalo từ tay Quốc Tuấn đưa. Ai dà! Những 493 nơi ở có phòng nghỉ tốt! Một sao- Gold Star Hotel, Hải Long Vương Hotel, White Hotel Dalat. Hai sao- Dreams Hotel, Phương Vy Luxury Hotel, Lu Tan inn. Ba sao- Tulip Hotel, Nam Xuân Premium Hotel, Sen Vang Dalat Hotel. Bốn sao- MuongThanh Dalat Hotel, Dalat Plaza Hotel, Saphir Dalat Hotel, Ky Hoa Hotel Dalat. Năm sao- Dalat Edensee Lake Resort&Spa, Ana Mandara Vilas Dalat Resort &Spa, Binhan Vilage Dalat Resort. Nhiều nữa. Cứ vòng qua mấy khách sạn, ngắm tí. Ôi dà! Nhiều thế, ngủ ở đâu á? Toàn khách sạn đắt tiền. Vẫn kém phòng ngủ của ông Bảo Đại kia, tôi và Thế Quynh đặt, sáu triệu đồng một đêm, ời, chỉ đùa thôi, hãi bỏ cha! Nếu phải qua đêm, chắc tôi sẽ cố ngủ một đêm ở Nhà trăm mái của Kiến trúc sư Lữ Trúc Phương để mơ lên Thiên thai cùng các nàng Tiên, xuống “địa đàng” thăm Diêm Vương, rồi bay lên cung Trăng chơi với chú Cuội, hay ngủ một đêm ở nhà Hằng Nga- ngôi nhà kỳ dị tuyệt vời của bà Đặng Việt Nga để mơ về xửa xưa gốc gác hoang sơ mộc mạc thân thiện cùng muôn loài, cho sướng. Nói vậy chứ, tôi đây không nhiều tiền, vốn công tác ở Công ty Nghe Ngó Ngửi, xem tí thôi, cho khỏi thèm nhé. Cậu ta-xi nghe tôi lẩm bẩm, vẫn rõ ra là không có tiền, thì một vòng quanh hồ Xuân Hương lung linh thơ mộng, quanh thành phố ngàn hoa để nghe- ngó- ngửi, rồi về. Hì hì! Vẫn chưa đã! Một chiều, tôi rủ Xuân Tình vù Honda quanh thành phố, chậm thôi, lượn dẻo trên những đường phố sạch đẹp, qua những mái phố muôn vẻ xinh xinh, người người xe xe thong dong, bình thản. Tôi biết, Đà Lạt trên hai ngàn biệt thự kiến trúc Gothique Pháp nhưng không biệt thự nào giống biệt thự nào, đẹp lắm. Hiện tại nhiều biệt thự xập xệ đổ nát, tiếc ngẩn tiếc ngơ. Kia, cả ngàn ngôi nhà xây hiện đại trên đồi, ven thung lũng, cũng không cái nào giống cái nào, xây trên nền đất tự nhiên, tài thật. Quảng trường Lâm Viên ngan ngát hương hoa, rập rờn cánh bướm vàng- trắng- nâu- đen- hoa bay quanh lầu Bông hồng và Nhà hát Hoa dã quì, ríu rối cả không gian mơ. Honda vòng vèo mãi, qua nhà thờ, Nhà ga xe lửa, Trường Cao đẳng Sư phạm, Tranh thêu X.Q…, không thấy chú cảnh sát áo vàng nào, liền vòng về Chợ Đà Lạt và Chợ đồ cũ. Ơ, xe máy cứ để tự nhiên, không ai thu tiền, cũng không ai trông nom gì, yên lành thế chứ. Chợ đồ cũ, tôi vào, đi lướt, nghe ran: Năm mươi, năm mươi, năm mươi…, một trăm, một trăm, một trăm…, trăm năm mươi, trăm năm mươi, trăm năm mươi…, à, người bán đồ cũ xướng lên cái giá hàng của mình. Buồn cười! Xuống chợ lớn, chợ đông thế mà không ai chen đẩy, không người to tiếng, không chủ hàng làu bàu khi khách hỏi giá hàng mà không mua. Người tốt nết thật! Có lẽ do nơi đây cao vời, xa hẳn cuộc sống cuồng nhiệt xô bồ bụi bặm ngoài kia, lại được khí hậu mát lành, ngàn thông xanh dịu nắng, muôn hoa tươi tỏa hương thơm ngát không gian, và có lẽ, văn hóa bản địa thấm sâu vào mỗi người khiến cho người Đà Lạt trở nên điềm đạm, chân thật, hiền lành, quý người.

Ước gì, đất nước mình thành phố nào cũng như Đà Lạt!      

Sớm mai.

Sương như tuyết phủ trắng rừng thông, mịt mờ. Một lúc, nắng tỏa vàng. Rừng thông bỗng mông lung huyền ảo. Tôi với Thế Quynh dạo bộ đường Hùng Vương- con đường tươi mởn dãy Anh đào, mơ mơ hoa Cẩm tú cầu, con đường thênh thang êm nuột và sạch bóng, rồi vòng quanh đồi thông dinh Bảo Đại. Bình yên và trong lành quá thể! Ô, hiên nhà khách, bầy chim bồ câu đua nhau gù cù-cục-cù-cục-cù-cù-ù-ù-ù lẫn tiếng sơn ca líu ríu trên cành thông cao, quyện vào nhau, nghe như tiếng cồng chiêng Đăng Jrung Krajan Tham trầm hùng, nghe như thác đổ, như gió thổi, như thông reo, hay thế! Tia nắng rọi qua tán biếc thông, thếp rượi vàng thềm hoa Bồ công anh, tia nắng biến những giọt sương thành những hạt ngọc khảm long lanh lên chùm chùm hoa Cẩm tú cầu, đẹp mê hồn.

Giàng ơi!

Mai rời xa Lang Biang về Fansipăng, ai thầm nhớ ai, ơi xứ ngàn hoa Đà Lạt mến thương!

 

                                                                                      H.T.S

 

---------------

Chú thích:

1.Váy của các cô gái Tây Nguyên.

2. Trường ca Đam Sam, Xinh Nhã, Y Ban.

3. Huyền thoại Lang Bian.

4. Cây gạo.

5. Yasin- bác sỹ người Pháp, phát hiện ra Đà Lạt vào ngày 21-6-1893.

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter