• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Đêm lặng
Ngày xuất bản: 22/10/2018 1:06:32 CH

Truyện ngắn của Dương Thu Phương

Sẽ có một chuyến đi, không bắt buộc nhưng chị nghĩ là mình nên làm một cái gì đó. Không nhìn đồng hồ cũng biết trời đã chuyển đêm về sáng. Hít một hơi dài tự trấn an mình rồi bước ra khỏi phòng. Chạm tay vào khóa cửa khi chưa kịp chuẩn bị, cái lạnh làm người chị tỉnh hẳn ra.

Trời đông, màu lá vàng úa lẫn trong màn mưa tạo nên cảm giác mờ mờ hiu hắt, cái rét như vón cục khiến đôi khi chị cảm giác mọi thứ trở nên ngạt thở.

Cái đẩy người của một cô gái vội vã lên xe khiến cho bước chân còn lại đang nửa chừng vô tình trở nên dứt khoát, chiếc ba lô gọn lỏn trong cái choàng tay. Thế đấy, chị đã đi như thế, không vội vã, không mong đợi nhiều và cũng không tất tả như những người xung quanh.

Chuyến xe lăn bánh, ánh mắt chị thả trôi. Mọi thứ chẳng hẳn là xa lạ hay gần gũi nhưng vẫn là cảm giác về một sự đổi thay. Rõ ràng là đôi lúc chị thấy mình nhẹ bẫng. Có nhành cây lao đến, nó sẽ cào vào mặt chị, khuôn mặt đang hướng ra, nhưng không, còn cách một tấm kính. Chị buồn cười vì có lúc mình lơ đãng đến thế. Xe lắc lư, đôi lúc đẩy chị va đầu vào thành ghế, đôi lúc lại làm cả người chị như dựa hẳn vào người đàn ông bên cạnh rồi lại va vào kính xe, chuyến xe nhọc nhằn đi.

Chị nhướn mắt lên, mây là là trên đầu mang màu bàng bạc, thăm thẳm bên dưới là con suối, triền nương, là những mảnh người bạc phơ phất như đất đai. Những cây ngô mới chỉ vài ba lá thôi, hãy đang còn bé xíu nên chị có thể nhìn thấy cả những hốc đất vàng chới. Những triền nương chạy dài như cố sức bám theo ánh mắt luôn tiếc nuối, hay chị đang cố sức neo lại cái gì nơi đây.

“Bác tài ơi còn bao lâu thì xe về bến ạ?”. Chắc con bé sốt ruột muốn gọi người đến đón. Câu hỏi đơn giản ấy, rất vô tình lại để lại nơi chị nỗi thảng thốt. Chị có thật sự muốn đặt chân lại chốn này, nếu mẹ chị biết chị lên đây hẳn Người có vui?

Sẽ chẳng bao giờ chị dám đặt câu hỏi sao lòng người lại bạc đến thế, lại dễ đổi thay đến thế. Những năm còn hợp tác xã, mẹ chị đã qua được lớp vỡ lòng, biết câu chữ, biết tính toán, mẹ dạy trẻ con học và cả làm thư ký đội. Ai cũng quý gia đình chị, mọi người còn thỉnh thoảng cho chị củ khoai củ sắn vào những hôm chị ngồi trước hè đợi mẹ về. Nhà chẳng có nhiều nhưng bơ gạo trắng vẫn được mẹ thỉnh thoảng cho nhà bác Hạnh bên cạnh, nói là vay nhưng chẳng bao giờ bác trả được. Nhà bác có đến tận 7 miệng ăn, nồi lúc nào cũng sắn nhiều hơn cơm. Thế nhưng từ khi bố chị về, nhà chẳng những không có người vào ra như trước mà đến cả những người quen gặp trên đường họ cũng cố tình như không nhìn thấy. Mẹ chị cũng không còn làm giáo viên vỡ lòng, cũng chẳng làm thư ký đội. Rồi mẹ sinh thêm Thúy, vẫn một mình làm việc và chăm con bởi bố chị ban đêm thì vết thương hành hạ, ban ngày thì hoặc im lìm hoặc gắt gỏng, cáu kỉnh, nhiều lúc bố gọi mà chị chẳng dám lại gần. Mẹ vẫn thường ngồi khóc lặng lẽ. Sau này chị mới biết mẹ khóc vì thương bố, mẹ cũng không hiểu vì đâu mà tính tình của bố lại khác xa lúc bố chưa đi vào Nam và đặc biệt là khi chưa bị trả lại tuyến sau như bây giờ.

Vào một đêm, mưa rả rích và buồn, mẹ nghe thấy có người đang cố mở liếp cửa. Mẹ ra thì nhìn thấy bố. Mẹ và bố chưa kịp vui mừng sau 7 năm gặp lại nhau thì đội dân quân xã từ đâu đã ập ngay vào nhà. Đến bây giờ mẹ cũng không hiểu vì sao bố không về thẳng Ủy ban hành chính để trình báo và khi người ta vào kiểm tra thì bố cũng chẳng có tí giấy tờ nào trên người. Đến mẹ cũng không dám hỏi thì ai có thể làm bố mở miệng giải thích đây. Từ đó, bố chị trở thành người đảo ngũ. “Trong khi cả nước đang sục sôi chiến đấu thì có những người vì ham muốn tầm thường, lối sống ích kỷ cá nhân mà đi ngược lại chiến tuyến”, thỉnh thoảng trên chiếc loa rỉ sét cả gia đình chị vẫn nghe những câu như thế.

Cuộc sống đang đi như người ta đang kéo chiếc xe nặng trên con dốc trơn trượt, bố chị lầm lũi, mẹ chị lầm lũi và chị cũng một mình thui thủi.

Bố chị biết nghề mộc nên mỗi bận dựng nhà cửa người ta thường nhờ vả. Với lại, ông cũng không thích nơi quá đông người, dù cố tình làm ngơ nhưng những ánh mắt dò xét, nghi hoặc vẫn quặn lên nỗi đau vốn câm nín. Mẹ chị đi làm công điểm, chị cũng muốn giúp sức. Biết rằng công trẻ con chỉ bằng nửa công của người lớn, dù chị cấy nhanh và thẳng hàng, biết đi làm cỏ ruộng nhưng sau bao lần bác đội trưởng sản xuất bảo phải xem xét xem có được tham gia lao động không thì cuối cùng chị vẫn ở nhà. Năm đó, mẹ sinh thêm em Thúy, chị có thêm việc bế em.

Vẫn những mùa đông rét mướt và lê thê. Không gian cứ như bị kéo chùng xuống bởi màn sương dày đặc. Giá em Thúy bớt quấy khóc vào ban đêm, mẹ đỡ phải dậy nấu cháo để vắt lấy sữa và đỡ phải thò tay vào dòng nước giá ngắt để giặt quần áo thì có thể mẹ đã hay cười với chị hơn. Ngay cả khi mẹ nói, chuẩn bị gió mùa Đông Bắc tràn về, bố sẽ đan cho 2 chị em tấm thảm bằng rơm để cả bố chị và chị nghe nhưng giọng vẫn chỉ đều đều như thế. Và bố đã đan tấm thảm rơm bé bé xinh xinh cho 2 chị em, chỉ thế thôi, phần còn lại còn phải để cho trâu ăn.

Đó là những năm đã hình thành hợp tác xã sản xuất giai đoạn 2, gọi là hợp tác xã cấp cao, người ta đã kết hợp nhiều hộ sản xuất, một số ngành sản xuất vào với nhau, nông cụ, tài sản của hợp tác xã cũng được phân về cho từng hộ dân tự quản lý. Con trâu về với gia đình chị không chỉ là tài sản, nó còn là người bạn thân thiết nhất của bố. Nó trở nên béo tốt và dễ bảo hơn trong tay Người. Đã có lúc chị được cưỡi lên lưng trâu bằng và êm đến khó tả. Chị đã từng ngồi nhìn ngắm mãi cái dáng đi lửng thửng, đủng đỉnh của nó khi kéo chiếc trục đá trên sân để cho hạt lúa ra khỏi thân cây. Thế đấy, bao giờ trước khi bận đi đâu đấy một vài ngày, bố chị cũng kịp chuẩn bị cho nó một bữa tiệc rơm, một ít cỏ tươi, có thể là cả những thân cây chuối được thái nhỏ để nó không bao giờ phải đói. Về đến nhà là bố phải nhìn ngay vào chuồng trâu hoặc còn sớm thì đi qua đám đất có con trâu nhà mình đang buộc. Trâu nhà chị to béo nhất làng là thế nhưng gần tết năm đó chẳng hiểu sao lại bị sa xuống hố bom khi đang thả ngoài bãi. Người ta đồn là chính bố chị cố tình đẩy xuống để giết thịt. Bố chị không ăn không ngủ, người ông gầy xọp đi. Dạo ấy, ông không làm việc nhà cũng chẳng đi khi có người gọi vì việc này nọ. Ông thường ngồi ngoài vườn, nơi có cây rơm được xây cao bị khoét lỗ chổ hoặc bờ sông vắng người.

Năm chị lên 8, cái Thúy chưa đầy tuổi, trong một buổi đi đánh cá cùng với 2 người khác, thuyền đắm, nước chảy xiết, bố chị đã cố sức đưa hai người còn lại vào bờ nhưng chị cũng chẳng hiểu vì sao con rái cá của làng như bố chị lại mãi mãi không trở về. Ông chết mà không tìm thấy xác.

Tất thảy người dân trong làng bảo là bố chị tự tử, chỉ có lý do họ đưa ra là khác nhau mà thôi. Người bảo là do đảo ngũ nên xấu hổ, người bảo do giết trâu nên bị báo oán, người lại bảo vì mẹ chị không đẻ được con trai nên ông buồn.

Lo xong đám tang của bố, mẹ chị đã quảy chiếc quang gánh một bên đứa con nhỏ, bên kia ít nồi niêu, xoong chảo, gạo và bài vị bố, một tay dắt chị, cả nhà đã đi ra khỏi làng như thế.

Ngay cả trong đêm đó, chị cũng không thấy mẹ khóc, cái Thúy ngủ say trong đôi quang gánh khi nó dập dềnh, lắc lư còn chị cũng không dám khóc vì sợ người ta nghe thấy. Chỉ có âm thanh của những tiếng sỏi rỉ rải trong đêm nhưng chị đã ném nó cùng nỗi sợ hãi đêm tối.

Mẹ chị đến đây như là sự dừng chân giữa lúc mỏi mệt. Chẳng ai biết gia đình chị là ai, họ bận bịu đến mức cũng không có thời gian quan tâm đến chuyện riêng tư của người khác. Hai chị em cũng bận học, bận phụ giúp mẹ và bận lấy lòng bọn trẻ con xóm mới. Chỉ có mẹ càng mệt mỏi lại càng hay ngồi một mình. “Tôi biết ông vẫn ở đây, chỉ đường đi nước bước và bảo vệ chở che cho ba mẹ con. Ông sống khôn chết thiêng hãy cho tôi biết làm cách nào cho sự việc năm xưa sáng tỏ. Các con cũng đã lớn”. Mớ rau, con cá và đôi quang gánh đã giúp chị em chị vào đại học. Nỗi lo của mẹ chị không chỉ là kiếm đâu ra tiền cho các con ăn học mà nhiều đêm mẹ không thể ngủ vì lo hồ sơ thủ tục cho các con.

Đã vài lần chị có cơ hội đi nước ngoài nhưng “hồ sơ không rõ ràng”. Và đó hầu như còn là lý do của mọi lý do. Lâu dần, chị chấp nhận nó như người ta buộc phải làm vậy. Nhưng bóng tối vẫn loang dần trong đôi mắt u uất của mẹ. Chị thương.

Chuyến xe vẫn trôi đi cùng với những suy nghĩ mông lung. Chị đang chờ đợi điều gì sau bao nhiêu năm. Một ngôi nhà meo mốc hay những công trình công cộng cất xây lên trên đó. Cũng có thể là cái gì đó tồi tệ hơn cả đó nữa.

Năm đó, sau nhiều cố gắng, sau nhiều lần cơ quan tìm hiểu thẩm tra xác minh, trong hồ sơ của cái Thúy đã được ghi nhận lại. Bố chị trên đường hành quân vào Nam thì bị vướng mìn, rất nhiều người hi sinh. Bố chị bị thương nhưng càng điều trị vết thương càng nặng thêm nên được yêu cầu trả lại tuyến sau. Bố chị đã chết khi cứu người đuối nước. Sau này, vợ của một cựu chiến binh theo lời dặn của chồng đã tìm đến địa chỉ cũ của gia đình chị thăm nom, giải thích với chính quyền địa phương.

Chị chờ được, cái Thúy chờ được nhưng mẹ chị thì không có nhiều thời gian như thế. Ngày nhận được Quyết định Kết nạp Đảng của Thúy, chị đặt cuốn lý lịch lên ban thờ, làm mâm cơm cúng bố mẹ. Hai chị em đứng lặng lẽ nhìn lên như thấy được dòng nước mắt rỉ ra chạy theo những nếp nhăn. “Mẹ tin bố, nhiều người biết bố bị oan nhưng việc hư vô vẫn đang tâm giết chết một con người đang hiện hữu”.

Mọi chuyến xe đổ về bến, tất cả mọi người rồi sẽ đi về những nẻo đường khác nhau mà chẳng ai phải ở lại. Cuộc sống luôn là một dòng chảy. Chị cũng thế. Chị dừng chân trước cây gạo đầu làng nơi có vài bông hoa đỏ, hít một hơi thật sâu. Nắng ít ỏi hắt bóng ra phía sau triền dốc…

 

D.T.P

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter