• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Đêm trắng Đại Đồng
Ngày xuất bản: 11/08/2017 10:27:52 SA

    Truyện ngắn của Nguyễn Hiền Lương 

Vua Lê Cung Hoàng lẩy bẩy viết chiếu nhường ngôi cho Nhân quốc công- Tiết chế Thập tam đạo thủy bộ chư dinh Mạc Đăng Dung xong thì ngất xỉu. Tin vua nhường ngôi loang khắp kinh thành nhanh như lốc tháng 7. Tin đến đâu, dân chúng ở đó lại túm năm, tụm bảy thậm thụt bàn luận. Có người bảo Mạc Đăng Dung được vua ban cho nhiều bổng lộc thế mà làm phản. Có người lại dè môi, vặc lại:

- Vậy trở lại thời vua Uy Mục, vua Tương Dực nhé. Để đêm đêm lại nghe thấy tiếng la thất thanh của các mĩ nữ bị vua bắt vào cung hành lạc, thỏa mãn xong thì giết, hay là xem vua chiều nào cũng bắt nữ sử cởi truồng chèo thuyền ở Tây Hồ để ngắm. Mang danh là Đoan Khánh với Hồng Thuận mà đất nước loạn lạc, trộm cắp hoành hành, chết đói đầy đường, ngập chợ, đâu đâu cũng bốc mùi xú khí, chưa đủ sao? Có nhớ khi Trần Cảo phất cờ nổi dậy ở Quỳnh Lâm, nghĩa binh đồng loạt cạo đầu chỉ để ba chỏm tóc để quyết chiến, đánh đến đâu quan quân nhà Lê nơi đó rạp xuống như cỏ bợ gặp bão không?

Cứ thế, mỗi người mỗi lý:

- Nhưng khi Trần Cảo tiến đánh Đông Kinh, vua Chiêu Tông phải chạy trốn vào tận Thanh Hóa để giữ mạng. Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dương vội đem quân về kinh ứng chiến, đánh tan Trần Cảo, đón xa giá Chiêu Tông hồi cung cơ mà?

- Thì đúng là vậy. Nhưng tưởng dẹp được loạn là yên, ngờ đâu đại thần, võ tướng ỷ công dẹp loạn, quay sang xâu xé nhau, chia bè, kéo cánh, tranh ngôi, đoạt vị. Phái Lê Do tuyên chiến với phe Lê Chiêu Tông, huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt, đánh giết nhau còn hơn cả loạn Trần Cảo. Đăng Dung lại phải ra tay mới dẹp được loạn Lê Do.

- Nhưng vua cũng đã ban cho Đăng Dung là Nhân quốc công, giữ chức Tiết chế Thập tam đạo thủy bộ đấy thôi.

- Hì, tấn phong nhưng thấy Đăng Dung cầm nắm toàn bộ binh quyền trong tay lại sợ Dung làm phản, nửa đêm vua trốn khỏi kinh thành, xuống chiếu hiệu triệu quan quân hỏi tội Dung thì Dung mới phải ra tay nhưng vẫn lập Lê Cung Hoàng lên ngôi đấy chứ.

- Lập rồi sao giờ lại phế? Nhà Lê hay nhà Mạc, ai chính, ai tà cứ rối mù như canh hẹ.

- Hãi cảnh loạn lạc lắm rồi, giờ chỉ mong đất nước thái bình để yên ổn làm ăn, sinh sống. Nhà Lê hay nhà Mạc, nhà nào lo cho muôn dân, giữ được bờ cõi Đại Việt thì có tiếm ngôi cũng không phải là tà.

Khác với dân chúng, các giám sinh Quốc Tử Giám lại hoang mang lo không biết vua mới có cho các giám sinh thời Lê được học tiếp nữa không? Có người đã tính đến việc về quê làm thầy đồ gõ đầu trẻ. Cả trường đang nhốn nháo như ong vỡ tổ thì Công Công đến truyền quan Tế tửu và quan Tư nghiệp tiếp chỉ của Minh Đức Đế: Quốc Tử Giám vẫn theo nếp cũ, người thi Hội trúng ba kỳ thì sung vào Thượng xá sinh, trúng hai kỳ sung vào Trung xá sinh, trúng một kỳ sung vào hạng Hạ xá sinh. Mỗi xá 100 người, mỗi giám sinh được cấp 10 quan tiền một tháng để ăn học. Các kì thi vẫn tổ chức hàng năm để tuyển chọn người tài… - Tiếp Thánh chỉ xong, trong khi các giám sinh ai nấy đều hân hoan, phấn chấn hô vang: “Hoàng Thượng vạn tuế! Vạn vạn tuế!” thì Hương cống Nguyễn Hãng cúi đầu im lặng, nét mặt âm trầm. Hãng được tuyển vào học Quốc Tử Giám đã 3 năm, đang sôi kinh nấu sử chờ kì thi Hội, rồi học tiếp để thi Đình. Giờ thì sụp đổ, tan vỡ hết rồi. Nguyễn Hãng lạ gì Đăng Dung, xuất thân hàn vi, làm nghề đánh cá, vì đoạt nhất trong cuộc thi đấu võ dưới thời Uy Mục mà được sung vào đội Túc Vệ chuyên cầm dù theo vua, nhờ khôn khéo lươn lẹo mà được phong Đô chỉ huy sứ vệ. Tưởng thế đã là quá lắm, nào ngờ Dung còn tìm cách để vua Chiêu Tông cho làm trấn thủ Sơn Nam, phó Tả đô đốc. Về trấn thủ Hải Dương năm trước, năm sau lại được phong Minh quận công, rồi Nhân quốc công. Sang thời Lê Cung Hoàng, vua còn sai đình thần cầm cờ tiết, đem kim sách, áo mão thêu rồng đen, đai dát ngọc, kiệu hồng, lọng tía về tận quê Dung ở Cổ Trai, tấn phong Dung làm An Hưng vương, gia thêm cửu tích. Ăn lộc nhà Lê đến như thế mà nỡ ép Cung Hoàng phải gạt nước mắt xuống chiếu nhường ngôi, rồi giáng làm Cung Vương, biệt giam ở Tây Cung thì còn tư cách gì mà ra thánh chỉ, có đặt niên hiệu là Minh Đức, có ban lệnh đại xá thiên hạ cũng chỉ là nghịch thần, vô đạo, tiếm ngôi, có lập ra triều Mạc thì cũng chỉ là thứ ngụy triều…

Thấy Nguyễn Hãng đăm chiêu, buồn bã như mất hồn, bạn bè khuyên cố dự kì thi Hội rồi kiếm một chức quan nhỏ cho yên thân. Hãng cười lớn, lấy tay đập vào ngực, bảo: Vua đã vô đạo mà lại can tâm chen chúc vào đường công danh nhơ bẩn để mưu lấy sự giàu sang thì còn gì điếm nhục bằng. Ta thà quảy túi thơ xốc xếch, nằm võng tre, đi guốc gỗ, bữa vài lưng cơm lốc, tiêu dao tự tại ở nhà còn hơn vào chốn quan trường…Nói rồi Nguyễn Hãng bỏ ngay Quốc Tử Giám, về quê làng Dòng, phủ Lâm Thao, dựng một cái hiên nhỏ ở phía Đông nhà, gọi là Nại Hiên, lấy hiệu là Nại Hiên tiên sinh, nhẫn nại chờ vận hội để khôi phục nhà Lê, lúc nhàn rỗi làm văn chương thơ phú tiêu khiển và dạy học cho trẻ con làng Dòng.

Một sáng, Nguyễn Hãng đang dạy học, có người khách lạ tìm đến, kính cẩn trao một phong thư. Nguyễn Hãng mở xem. Là thư của Vũ Văn Mật, trấn thủ Tuyên Quang. Thư viết: Thưa tiên sinh, 2 anh em họ Vũ chúng tôi, ăn lộc vua Lê được coi sóc Đạo thừa tuyên Tuyên Quang, gồm 1 phủ, 5 châu, huyện. Từ khi nhà Lê bị mất ngôi, anh em tôi vẫn tự trị vùng này để giữ đất nhà Lê, chống lại nhà Mạc. Được biết tiên sinh là người văn hay chữ tốt, lại một lòng trung với nhà Lê, Văn Mật tôi kính mời tiên sinh lên Đại Đồng cùng mưu nghiệp lớn. Chẳng biết ý tiên sinh thế nào? Nếu tiên sinh có lòng, lên tới phố Cát Tường thì vào quán nước lão bà đầu phố hỏi thăm cô Tú sẽ có người đón rước tiên sinh vào thành…

Đọc xong thư Nguyễn Hãng mừng lắm. Ngày học ở Quốc Tử Giám, Nguyễn Hãng đã nghe danh 2 anh em họ Vũ, Văn Uyên và Văn Mật, ở làng Ba Động, Gia Phúc, xứ Đông, vì can tội giết chết tên quan địa phương tham tàn, ác bá mà phải trốn lên ngụ ở Khau Bầu, Đại Đồng. Tù trưởng Đại Đồng lúc đó là Đỗ Chẩn cậy thế, cậy quyền, tàn ác, coi dân như rác, dân trong vùng vô cùng oán ghét mà không làm gì được Chẩn. Văn Uyên liền tập hợp trai bản đánh chết Đỗ Chẩn. Dân bản suy tôn Văn Uyên làm tù trưởng thay Chẩn. Khi vua Chiêu Tông cho phép các tù trưởng miền biên viễn được mộ binh, tích lương, đắp thành để giữ vững địa bàn mình cai quản và sẵn sàng đem quân về giúp triều đình ứng phó khi có biến, Văn Uyên, Văn Mật dốc lòng, dốc sức tuân theo ý vua, chiêu tập tới mấy vạn binh, luyện tập tinh thông võ nghệ, tích trữ lương thảo, xây thành lũy dọc theo sông Lôi Thủy, Lô Giang, vô cùng kiên cố. Vua Chiêu Tông trong một lần đi thị sát thấy thế mừng lắm liền giao cho Văn Uyên giữ chức Đô Thống sứ Tuyên Quang, tước Khánh Dương hầu, Văn Mật làm phó cho Văn Uyên. Từ khi trở về làng Dòng, Nguyễn Hãng vẫn nghe ngóng chính sự, biết anh em họ Vũ không chịu theo Mạc. Đăng Dung đã hai lần cử tướng đem quân lên tiêu diệt họ Vũ, đều thất bại, đành để họ Vũ cát cứ Tuyên Quang, Hưng Hóa. Nguyễn Hãng cũng muốn lên trên đó tìm gặp Văn Uyên, Văn Mật nhưng còn chần chừ e ngại bởi nghĩ họ Vũ xuất thân nông dân, chắc gì đã ưa đám văn nhân. Nay được Văn Mật giãi tỏ tấm lòng, lại có ý trọng dụng, Nguyễn Hãng như cởi được tâm sự u uẩn bấy lâu vội bấm số thái ất chọn ngày lên đường. Đúng ngày hoàng đạo, chọn giờ tốc hỷ, Nguyễn Hãng vận bộ quần áo nâu, vấn khăn gốc đen, đội nón lá, đeo bị cói, một mình lên Đại Đồng. Đi mất đúng ba ngày thì đến phố Cát. Nguyễn Hãng vào quán lão bà ngồi uống nước hồi lâu mới hỏi thăm về cô Tú theo lời dặn của Văn Mật trong thư. Lão bà nhìn Nguyễn Hãng, thong thả nói: Bác hỏi cô Tú à?- Rồi đọc câu thơ: Có chồng năm ngoái năm xưa, năm nay chồng mất thành chưa có chồng. Vậy bác có muốn gặp nữa không?- Nguyễn Hãng thưa vâng, lão bà liền lấy chiếc quạt nan đang cầm trên tay gõ 3 cái xuống cái chõng tre, lập tức có một thanh niên từ nhà ngang chạy lên, cúi đầu cung kính: Dạ, kính chào tiên sinh, mời tiên sinh theo con vào trong thành gặp Gia Quốc Công. Nguyễn Hãng vái chào lão bà, theo anh thanh niên vào thành. Từ xa, Nguyễn Hãng đã nhìn thấy thành đóng trên 3 quả đồi cao, đằng sau là núi chập trùng, chạy dài, trước mặt là sông Lôi Thủy trong xanh, quanh co uốn lượn. Vào thành, Nguyễn Hãng thấy nhà cửa san sát, hàng quán sầm uất, cư dân đông đúc, nét mặt ai cũng tươi. Thấy Nguyễn Hãng mải mê ngắm cảnh, ngắm người, anh thanh niên khẽ thưa: Dạ, chắc ngày mai sẽ có người dẫn tiên sinh đi thăm thú, giờ Gia Quốc Công đang đợi tiên sinh… Nguyễn Hãng cười bảo: Sao Gia quốc công biết ta lên mà đợi? Anh thanh niên vẫn khẽ đáp: Dạ, thưa! Gia Quốc Công biết thể nào tiên sinh cũng lên, đã sai con ra đợi ở quán nước lão bà mấy hôm. Quán nước lão bà, chính là nơi đón tiếp hào kiệt bốn phương lên với Gia Quốc Công… Nguyễn Hãng thoáng bối rối, hỏi: Vậy lão bà nói với ta, cô Tú có chồng năm ngoái năm xưa, năm nay chồng mất thành chưa có chồng là có ý gì vậy?- Anh thanh niên khẽ mỉm cười: Dạ, đó là ám hiệu lão bà đặt ra để tìm người thực lòng đến với Gia Quốc Công. Cô Tú là chỉ Gia Quốc Công, vốn phù nhà Lê, nay nhà Mạc tiếm ngôi nhà Lê, thì cũng coi như gái mất chồng ạ. Nói rồi anh thanh niên chỉ tay bảo: Thưa tiên sinh, kia là dinh Đô Thống sứ, cũng là nơi Gia Quốc Công đón tiếp hào kiệt 4 phương. Theo hướng tay anh thanh niên chỉ, Nguyễn Hãng thấy một lâu đài bề thế bên bờ sông, trông chẳng khác nào cung vua, phủ chúa chốn kinh thành. Vừa thấy Nguyễn Hãng bước đến cửa dinh, một người đàn ông trung niên to khỏe, lực lưỡng vội chạy ào xuống chào, đón lên sập, mời ngồi rồi oang oang nói: Văn Mật tôi xin kính chào tiên sinh! Đặt chén nước trà nóng vào tay Nguyễn Hãng xong, Văn Mật giãi bày một mạch: Thưa tiên sinh, vừa tiếm ngôi xong, Dung đã huy động lực lượng lớn quan quân, rầm rộ tiến lên Tuyên Quang nhằm bắt anh em tôi quy phục. Lúc ấy quân Mạc mạnh lắm, anh em tôi phải rút khỏi thành Nghị Lang, về trấn Đại Đồng, châu Thu Vật này, để cho quân Mạc tiến lên tận châu Văn Bàn, Thủy Vĩ. Thấy Đại Đồng là đất đắc địa, chúng tôi liền cho xây dựng thành căn cứ phòng ngự. Chưa được bao lâu, Dung lại cử Mạc Phúc Hải mang hơn 2 vạn quân lên Đại Đồng hòng nghiền nát chúng tôi. Anh em tôi, dựa vào thế núi hiểm trở, quân sỹ nhiều người bản địa thông thạo đường rừng, nhử quân Mạc vào ổ phục kích mới bất ngờ dùng bẫy đá, hầm chông, tên nỏ tấn công, quân Mạc bỏ chạy, khi qua sông Lôi Thủy, chúng tôi cho phá đập, nước tràn xuống khiến mấy vạn quân Mạc tan tác. Công việc xây dựng Đại Đồng đang tiến triển thì anh tôi bị trọng bệnh mất, Văn Mật tôi nối quyền anh, tiếp tục xây dựng Đại Đồng vừa là thành lũy, vừa là thủ phủ, cũng là nơi giao thương, buôn bán của cả miền biên viễn phía Tây này. Người người kéo về Đại Đồng ngày một đông, không chỉ có dân bản địa mà dân các trấn miền xuôi chạy loạn, các thương nhân cũng tới đây buôn bán, làm ăn, sinh sống. Quân sĩ chúng tôi có 11 doanh, đóng tại các châu, phủ. Châu Phù Yên có doanh Phù Yên, châu Thu Vật có doanh Yên Thắng, châu Lục Yên có doanh An Bắc, châu Vị Xuyên có các doanh Bình Di, Bình Man, Trần Uy, Yên Biên, Nam Đương, châu Đại Man có doanh Nghi, châu Bảo Lạc có doanh Bắc Kiệm, Trung Mang. Nay mời tiên sinh lên đây…- Văn Mật chưa nói hết, Nguyễn Hãng đã nắm chặt hai tay, giơ lên ngang mặt, cúi đầu cảm kích: Đa tạ Gia Quốc Công đã có lòng đoái tới Nại Hiên tôi. Không biết Nại Hiên tôi giúp được gì cho tướng quân?- Văn Mật liền cười lớn bảo: Tiên sinh là người có chữ, xin tiên sinh mưu sự cho ta tính việc dài lâu. Trước mắt, tiên sinh hãy tức cảnh mà viết một bài phú theo thể quốc âm để cho hiền tài, hào kiệt bốn phương và bàn dân thiên hạ biết đến trấn Đại Đồng…

Tối ấy, Văn Mật làm tiệc cá Anh Vũ sông Lôi Thủy thết đãi khách quý. Khẽ  đẩy đĩa cá về phía Nguyễn Hãng, Văn Mật hỉ hả: Cá này quý hiếm lắm, nó sống ở những nơi nước xanh trong, lòng sông, suối phải có nhiều đá như sông Lôi Thủy hay suối Thia. Cá chỉ ăn rong rêu, nên môi dưới dày và hơi thụt vào, giống như mõm lợn, mình thì giống cá trôi nhưng vảy bạc hơn, khi gặp ánh nắng thì lấp lánh ánh xanh pha chút hồng, vây và đuôi có những tia đỏ trông rất đẹp. Thịt cá thơm lại có vị ngọt đậm, ăn xong, tiên sinh sẽ thấy người nhẹ nhõm, sảng khoái khác thường…

Hôm sau, Văn Mật cho gia nhân đưa Nguyễn Hãng đi thăm thú, vãn cảnh Đại Đồng, mang theo cả giấy điệp, bút, nghiên. Đứng trên thành, Nguyễn Hãng nhìn ra bốn hướng. Phía Tây là dãy núi giống hình con Voi nằm phủ phục, đầu chầu về tận cửa thành. Giữa núi có một dòng nước đổ xuống thành chín khúc thác tung bọt trắng xóa như một dải lụa bạch nổi bật lên trên màu thiên thanh bát ngát. Ba mặt Đông, Nam, Bắc thành là dòng Lôi Thủy uốn lượn hình Rồng, bao bọc lấy thành như một cái hào nước. Phong cảnh sơn thủy hữu tình lại đúng thế “Kim thành, thang trì”- thành đồng, hào nước- khắp nước Việt chỉ Đại Đồng mới có. Nét mặt Nguyễn Hãng đầy hứng khởi, mải mê ngắm nghía rồi bỗng nhiên phóng bút một mạch. Mỗi con chữ như một nét vẽ tài hoa họa lên bức tranh phong cảnh Đại Đồng buổi sớm mai vừa hùng vĩ, vừa tráng lệ: Non Xuân Sơn cao thấp triều tây/ Sông Lôi Thuỷ quanh co nhiễu tả/ Ngàn tây chìa cánh ph­ượng, dựng thửa h­ư không/ Thành nước uốn hình rồng, dài cùng dãy đá/ Đùn đùn non Yên Ngựa, mấy tr­ượng khoẻ thế kim thang/ Cuồn cuộn thác Con Voi, chín khúc bền hình quan toả … 

Cảm tác đang như sóng dâng trào trong lòng Nguyễn Hãng, bỗng có tiếng Văn Mật vang lên: Tiên sinh nghĩ sao khi Văn Mật tôi chọn đất này để tính kế dài lâu?- Nguyễn Hãng vẫn mải mê đắm đuối ngắm cảnh dưới thành, không hề biết Văn Mật đứng ngay sau. Quả là sầm uất, cửa hàng cửa hiệu san sát, đường ngang, lối dọc người, xe qua lại như mắc cửi, phía cuối thành, mới sớm mai mà chợ đã nhộn nhịp người bán kẻ mua. Đúng là một chốn đô hội, phồn hoa, trù mật chẳng kém gì nơi kinh kỳ, khiến Nguyễn Hãng lại hứng khởi vung bút: Xe dù ngựa dong đ­ường thiên lý/ Đủng đỉnh túi thơ, bầu rượu, nặng cổ thằng hề/ Dập dìu quần sả, áo nghê, dầu lòng con tý/ Diên đồi mồi, châu châu ngọc ngọc, nhiều chốn phồn hoa/ Viện thu thiên, ỷ ỷ la la, m­ười phần phú quý/ Xem phong cảnh chỉn đã khác th­ường/ Ngẫm tạo vật thật đà có ý… - Viết xong, Nguyễn Hãng mới quay lại, thấy Văn Mật, liền đưa bài phú vừa viết cho Văn Mật. Văn Mật vừa xem vừa gật đầu. Khuôn mặt tươi roi rói, tỏ vẻ vô cùng khoan khoái, hào hứng nói: Thưa Tiên sinh! Tiên sinh tả thiên nhiên, thành lũy, cuộc sống của dân chúng hay lắm, quả là danh bất hư truyền. Nhưng… - Đắn đo một lúc rồi Văn Mật mới ngập ngừng nói tiếp- Nhưng chắc là tiên sinh chưa viết hết? Thôi, giờ cũng đã muộn, mời tiên sinh về dinh nghỉ đã.

Chiều ấy, Nguyễn Hãng lại tha thẩn khắp thành nhưng không viết thêm được câu phú nào. Câu nói lấp lửng của Văn Mật “Chắc là tiên sinh chưa viết hết…” là có ý gì? Còn điều gì ở Đại Đồng mà Nguyễn Hãng chưa nói tới? Đêm xuống, Nguyễn Hãng trằn trọc không sao chợp được mắt, cứ thao thức với câu nói của Văn Mật. Lại nghĩ, vận nước giờ đúng là ở thế tam phân. Nhà Mạc chiếm Thăng Long, kiểm soát cả miền đồng bằng, duyên hải. Nhà Lê phải chạy về Lam Kinh, cố giữ đất Thanh- Nghệ. Còn miền biên viễn phía Tây trùng điệp này đang trong tay Văn Mật, Đăng Dung không chiếm nổi. Nếu Văn Mật phù Lê thì Đại Đồng sẽ là hậu cứ vững mạnh để giúp nhà Lê phục dựng. Niềm hi vọng của ta cũng sẽ là đất này, người này… Tiếng gà gáy canh 3 đổ dồn. Trời sắp sáng. Nguyễn Hãng bật dậy, mở cửa ra ngoài, nhìn ra phía Đông thành, mặt trời lấp ló sườn núi Cao Biền, hắt ra một vệt ánh sáng lấp lánh như dải Ngân Hà chạy dài tới chính giữa thành, cắt Đại Đồng thành hai nửa. Nguyễn Hãng giật mình, dụi mắt nhìn lại, sững sờ thốt lên: “Hoàng Đạo! Đường Hoàng Đạo...”. Chạy vội vào thư phòng, Nguyễn Hãng viết một mạch, chữ nọ gọi chữa kia, cứ như chảy ra từ ngọn bút: Thửa mắc/ Trời sinh Chúa thánh/ Đất có tôi lành/ Bói quẻ Kiền đòi thời mở vận/ Phép hào s­ư lấy luật dùng binh/ Đất ba phần, có thừa hai, chốn chốn đều về thanh giáo/ Nhà bốn bể vây làm một, đâu đâu ca xư­ớng thái bình/ Chín lần nhật nguyệt làu làu, cao đường hoàng đạo/ Nghìn dặm sơn hà chăm chắm, khoẻ thế vương thành/ Hình thế ấy khen nào cho xiết/ Phong cảnh này thực đã nên danh!

Viết xong, Nguyễn Hãng ngủ gục trên bàn lúc nào không biết. Văn Mật đến, thấy Nguyễn Hãng đang ngon giấc liền kéo giấy lên xem. Đọc đến đâu mừng đến đấy, đọc xong thì vỗ đùi cười lớn, làm Nguyễn Hãng thức giấc bật dậy. Văn Mật liền sai gia nhân lấy một cái thúng bạc trắng, ước độ 2000 lạng thưởng ngay cho Nguyễn Hãng. Sáng ấy đích thân Văn Mật đưa Nguyễn Hãng ngược sông Lôi Thủy lên châu Lục Yên, vào núi Hắc Y lễ Thần Vua Áo Đen, sang suối Tiên lễ Hoàng Y Tiên Cô. Hai vị Thần này được Ngọc Hoàng phái xuống giúp nhà Trần đánh giặc, vua Trần Nhân Tông đã cho lập đền thờ. Từ thời vua Lê Uy Mục, đền bị bỏ hoang. Văn Mật đã cho trùng tu để dân chúng đèn nhang sớm tối. Hàng năm vào đúng rằm tháng Giêng, dân mở hội ở Đại Kại, rước cá Rầm Xanh từ Ao Vua sang suối Tiên làm lễ thả từng đôi một. Nguyễn Hãng mê mẩn với phong cảnh suối Tiên. Giữa một vùng núi đất chập trùng, nhô lên một ngọn núi đá, từ chân núi phun ra một dòng nước trong xanh nhìn thấu tận đáy, cá Rầm Xanh từng đàn tung tăng bơi lội. Hai bên bờ suối cây cối tốt tươi, chim bay tới cả đàn, hót lảnh lót như tiếng đàn, tiếng sáo, vượn từng bày chuyền cành hú gọi đùa nghịch, bướm trắng, bướm vàng chao lượn như sao sa. Chiều, Văn Mật còn đưa Nguyễn Hãng thăm dinh Yên Bắc, thành Nghị Lang, thành Bắc Pha, ra võ trường Bến Lăn xem quân binh luyện tập, vào kho quân lương hang São, nơi Vũ Thị Ngọc Anh con gái Văn Mật cất giấu lương thực phòng khi xảy ra giao chiến. Được nhìn tận mắt binh lực của Văn Mật, Nguyễn Hãng không khỏi kinh ngạc.

Trên đường trở về Đại Đồng, dù hai bờ sông Lôi Thủy cảnh đẹp như tranh song Nguyễn Hãng chẳng còn tâm trí nào thưởng ngoạn. Văn Mật đưa Nguyễn Hãng đi lễ các đền, thăm thành quách, phòng tuyến, võ trường, kho quân lương là có ý gì? Phải chăng Văn Mật muốn biến miền biên viễn này thành vương quốc riêng để ngự trị dài lâu? Việc phù Lê, diệt Mạc, chỉ là cái cớ để ông ta toan tính cho riêng mình? Khổng Tử nói: Kẻ tiểu nhân chỉ lo nghĩ về bổng lộc, làm mọi cách để giành được bổng lộc cho bản thân mình quả không sai. Nếu thế thì ta sao có thể gửi gắm tấm lòng với nhà Lê vào kẻ tiểu nhân này. Tôi trung thà chết chứ không thờ 2 vua. Mặc cho người đời ca ngợi, ta đã coi việc Thái hậu Dương Vân Nga dâng Long bào cho Lê Hoàn là để được làm vợ, làm Thái hậu chứ đâu phải vì non sông xã tắc, thì sao ta có thể theo kẻ 2 lòng như Văn Mật. Tướng quân Nguyễn Kim cũng đã tìm được con vua Chiêu Tông là Lê Duy Ninh ở Ai Lao, đưa lên ngôi lấy hiệu là Lê Trang Tông rồi, ta còn ở đây làm gì?

Tảng sáng hôm sau, Nguyễn Hãng bỏ lại 2000 lạng bạc thưởng của Văn Mật, bí mật rời thành Đại Đồng, trở về Nại Hiên, bề ngoài tỏ ra vui thú với ruộng vườn, đèn sách nhưng trong lòng luôn đau đáu chờ vận hội để trổ tài kinh luân. Nhưng thay cho vận hội là các tin dữ từ kinh thành liên tiếp đổ về làng Dòng. Vừa lên ngôi, Trang Tông đã phải phong Nguyễn Kim làm Thái sư, cho Kim nắm giữ toàn bộ binh quyền. Trang Tông mất, con là Trung Tông lên thay được 8 năm thì yểu mệnh, không có con nối, Trịnh Kiểm liền đưa Lê Anh Tông, dòng dõi Lê Trừ, anh của Lê Thái Tổ lên ngôi. Nhưng khi Anh Tông muốn thoát khỏi họ Trịnh thì Trịnh Tùng liền giết Anh Tông, lập con út Anh Tông là Thế Tôn mới 5 tuổi lên ngôi để dễ bề nắm toàn bộ việc triều chính. Thấy cảnh vua Lê chỉ là bù nhìn, Nguyễn Hãng đau tựa đứt từng khúc ruột. Cả một đời đau đáu phù Lê, đến lúc gần đất xa trời, Nguyễn Hãng mới nhận ra thời hoàng kim của nhà Lê đã hết. Các vua từ Uy Mục, Tương Dực, Chiêu Tông, Cung Hoàng, đến Trang Tông, Anh Tông, Thế Tôn, đều kém tài, thiếu đức. Đất nước loạn lạc, lòng dân oán thoán cũng bởi từ đó, thì việc chiếm ngôi của Đăng Dung hay cát cứ một vùng như Văn Mật cũng là lẽ tất nhiên. Cuộc chiến giữa nhà Lê với nhà Mạc chưa biết hồi nào mới hết, nhưng đó chỉ là danh nghĩa, thực chất là tranh giành bổng lộc giữa họ Trịnh với họ Mạc mà thôi… Càng nghĩ, Nguyễn Hãng lại càng thấm thía cái đau của bi kịch trung quân, càng ân hận, tiếc nuối đã bỏ qua lời mời ở lại Đại Đồng của Văn Mật, đã thế lại còn lén đi, không một lời tạ biệt. Song còn một điều Nguyễn Hãng không hiểu, nếu hiểu còn ân hận bội phần, đó là Văn Mật xây dựng căn cứ Đại Đồng, cát cứ miền biên viễn phía Tây này đâu phải ôm mộng bá vương, đâu chỉ để chống Mạc hay phù Lê mà chính là làm tấm lá chắn thép miền biên ải chặn lũ giặc phương Bắc tràn sang. Văn Mật đã sớm nhận ra âm ưu của nhà Minh khi chấp nhận cả nhà Mạc lẫn nhà Lê, là để cho phe phái nội bộ tranh giành, đánh giết lẫn nhau, nhằm dễ bề thôn tính Đại Việt. Vì vậy ông đã lặng lẽ xây dựng hệ thống thành lũy kiên cố trải khắp biên viễn như thiên la, địa võng, khiến vua Minh cũng phải e ngại không dám đưa quân sang. Sau khi Văn Mật mất, con, cháu, chắt ông vẫn tiếp tục cai quản miền đất biên viễn, làm phên dậu cho đất nước. Đến năm 1699, Khoan Quận công Vũ Công Tuấn, chắt 5 đời của Vũ Văn Mật, vì bỏ lệ về kinh chầu mừng vua Lê, bị triều đình bắt về kinh trị tội, rồi đặt chức ra Lưu thủ, cử quan ở kinh thành lên trị nhậm vùng Đại Đồng, họ Vũ mới kết thúc gần 200 năm trấn ải biên viễn.

Họ Vũ không còn, Đại Đồng hoang phế dần, thành quách, phố xá, lâu đài hiu hắt, lụi tàn. Chỉ có lòng dân biên viễn nhớ tới công lao họ Vũ, họ gọi cung kính là các Chúa Bầu, lập đền thờ Chúa Bầu suốt từ Đại Kại, Phúc Khánh, Nghĩa Đô, đến Trung Đô, Bắc Hà. Còn Nguyễn Hãng, sau này được nhà Lê Trung hưng phong là Thảo mao dật sỹ, hết đời cũng chỉ là người học trò nghèo ẩn dật nơi nhà tranh. May là Nguyễn Hãng còn có đêm trắng Đại Đồng, để lại cho đời “Đại Đồng phong cảnh phú”, áng văn hay nhất về phong cảnh Đại Đồng, cũng là áng văn hay nhất, bay bổng nhất của cuộc đời và sự nghiệp Nại Hiên tiên sinh.

                                                                                                                                                                                  N.H.L

                                                                                                                

 

 

 

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter