• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Mẹ Hòa
Ngày xuất bản: 19/10/2017 2:37:09 SA

         Ghi chép của Minh Ngọc

 Cuối hạ đầu thu, tiết trời thoáng mưa, thoáng nắng. Đúng ngày lễ vu lan vương vít hương trầm ngan ngát, tôi vượt qua Mỵ, Ba Khe, đến Nông trường chè Trần Phú, huyện Văn Chấn tìm mẹ Nguyễn Thị Hòa- một trong 18 mẹ Việt Nam anh hùng còn sống của tỉnh Yên Bái. Nhìn mái tóc bạc phơ, ánh mắt nhiều phần lãng đãng, đôi tay gầy kín đồi mồi nổi chằng chịt gân của mẹ, tôi không khỏi xúc động. Người đàn bà nhỏ bé, đôn hậu đã sống gần 9 thập kỷ, trải qua 3 cuộc chiến tranh khốc liệt đến nay vẫn đứng đây, bình thản, nắm tay tôi thật chặt như thể tất cả tình cảm của mẹ quấn quyện trong cái bắt tay nồng ấm.

Mẹ ốm liền hai tháng chỉ sau một đợt cảm cúm. Sức mẹ bây giờ chỉ như ngọn đèn trước gió. Những câu chuyện mẹ nói với tôi ngắt quãng bởi những hồi ức đan xen, những lúc ngồi nghỉ, uống tạm bột ngũ cốc để lấy sức…

Mẹ sinh năm 1930 tại thôn Mộc Xá, xã Cao Dương, huyện Thanh Oai (Hà Tây cũ) trong gia đình có năm anh em, 3 trai, 2 gái. Vừa tròn 14 tuổi, mẹ đã được gả cho nhà họ Vũ. Nhà ông Vũ Văn Cổn có 3 anh em trai nhưng anh cả và ông Cổn đều đi cách mạng, nhà chỉ còn 1 em nhỏ nên về nhà chồng mẹ trở thành lao động chính. Ông Cổn nhỏ người nhưng đẹp trai, lanh lợi, nụ cười tươi rói. Lúc lấy mẹ, ông mới 16 tuổi nhưng đã bí mật đi cách mạng, làm liên lạc. Ai cũng bảo vợ chồng Hoa- Cổn đẹp nhất làng. 20 tuổi mẹ sinh con đầu lòng, mẹ đặt tên Vũ Văn Tuấn. 22 tuổi mẹ sinh con trai thứ hai đặt tên Vũ Văn Phàn. Tối ngày mẹ ở ngoài đồng nên việc chăm sóc con cái mẹ đều nhờ bố mẹ chồng. Con cái còn nhỏ, ốm đau suốt nên mẹ gầy tọp, người lúc nào cũng chỉ trên dưới 30 cân. Các cháu cả ngày lê la đất cát, bẩn bà nội lại bế ra chiếc ao tù trước cửa lau rửa, tắm giặt thành ra đều bị bệnh ngoài da. Mẹ bảo: “Ôi chao! Cái thằng Tuấn hồi nhỏ nó ghẻ ghê lắm! Ghẻ từ chân lên đến đầu, quần áo dính đầy mủ, khóc cả ngày lẫn đêm. Cả người chỉ còn mỗi hai con mắt”. Ban ngày mẹ đi làm đồng, đêm về lại chong đèn dầu ngồi khêu ghẻ cho con. Ánh mắt lần theo ký ức, mẹ thong thả: “Thằng thứ hai bị chàm khắp mặt mà không dám mang đến nhà thương, chỉ ở nhà tự chữa, nhưng càng bôi thuốc chàm càng loang mạnh. Ông lý trưởng trong làng thương tình nhận là vợ con dẫn đi mới được chữa”.


Mẹ Hòa cùng hai con gái

 

 Năm 1953, lính Pháp lúc đó đóng quân ở ngã ba Vác, cách làng Mộc Xá chừng 2 km, lập Bốt Vác. Mẹ mang bầu cô con gái thứ 3 khi mới 24 tuổi. Có lần mẹ đi tiếp tế cho Việt Minh, một bên thuốc, một bên vải, trên rải phân trâu gánh qua sông, lúc quay về gặp lính Pháp bêu đầu Việt Minh ở đầu làng mẹ sợ quá vứt cả quang gánh chạy nhưng làng bị rào quanh không về được, mãi sau mới chui được vào làng. Còn ông Cổn ngày ngày đóng giả làm ăn mày đi lê la khắp nơi để dò la tin tức. Một lần nhìn thấy ông, mẹ về nói với mẹ chồng: “Mẹ ơi, lúc nãy con nhìn thấy anh Cổn ăn mặc rách rưới đi vào bốt xin ăn, trông khổ lắm mẹ ạ”. Mẹ chồng thở dài, xót xa: “Cứ thế này, trước sau nó cũng chết mất thôi”. Mấy hôm sau ông Cổn tranh thủ về thăm vợ con, gặp đúng lúc lính đi tuần, ông phải nhảy xuống ao bèo trốn. Bị đỉa cắn từ chân đến đầu nhưng ông vẫn cắn răng chịu đựng, đến lúc lính đi khỏi mới dám nhảy lên bờ. Dứt đỉa ra máu chảy khắp người, hai vợ chồng nhìn nhau chảy nước mắt… Thế rồi một hôm mới ở đồng về, thằng ở trước chăn trâu cho nhà họ Vũ nay đi lính ở Bốt Vác hớt hải chạy về báo: “Ông Cổn bị bắn chết rồi, bà mau ra mà mang xác về”. Anh trai ông mới hy sinh chưa đầy 4 năm, giờ lại đến ông. Để bảo toàn tính mạng, bố chồng mẹ cùng con trai và hai cháu vội chạy về Hà Nội, nhà chỉ còn hai người đàn bà. Mẹ chồng mẹ ngất lên ngất xuống. Người trong làng không ai dám cùng đi nhận xác ông Cổn. Mẹ vừa khóc vừa chạy đi gọi hai cậu con nuôi ra bốt. Mẹ kể: “Ông ấy nằm sóng soài bên giếng. Máu thấm đen cả bộ quần áo nâu mặc trên người. Đạn bắn xuyên đùi phải ông ấy. Giấy tờ mất hết chỉ có tấm ảnh vợ con bị vứt bên cạnh”. Giọng mẹ đều đều như thể đang bị ký ức nhấn chìm: “Thằng ở nó bảo, khi ông ấy bị thương, bị lính Pháp đánh, ông ấy chỉ nói “Đánh tao chết tao cũng không liếm gót giày của thằng Tây”. Thêm một trận đòn thù, thấy ông ấy gục xuống, chúng mới bỏ đi. Thằng ở lúc bấy giờ mới dám mon men đến lay gọi. Ông ấy mở mắt chỉ kịp dặn: “Tao chết, về bảo với vợ tao đừng có ở vậy, đi lấy chồng đi, hẵng còn trẻ lắm” rồi tắt thở. Ba mẹ con tôi khiêng xác ông ấy về, mang ra cánh đồng chôn. Huyệt đầy nước, một thằng đứng lên áo quan ấn, một thằng xúc đất hất xuống, mãi mới chôn được”. Những ngày sau đó mẹ chồng và mẹ liên tục bị quân lính đánh đập, tra khảo. Mỗi lần hỏi là một lần đòn thù giáng xuống. Chúng đá, chúng đạp, chúng tát, bắt mẹ khai cái thai trong bụng của ai, có phải đang mang thai của Việt Minh không. Mẹ chỉ yếu ớt chống trả: “Không, tôi có thai với anh xích lô trong làng”. Chúng nện gót giày vào bụng mẹ quát: “Mày nói láo”. Sau khi đập phá đồ đạc, lục tung mọi thứ trong nhà không tìm thấy thứ gì chúng mới bỏ đi. Tháng Chạp năm ấy, mẹ sinh hạ chị Vũ Thị Mỹ. Cuộc sống vốn khốn khó càng trở nên khốn khổ. Mẹ vay thóc, làm hàng sáo sống qua ngày.

Năm 1954, sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương nhường chỗ cho Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam, bố chồng mẹ mới dám đưa con trai cùng các cháu trở về. Nhà chồng khổ cực, không có gì ăn, giục mẹ đi bước nữa. Dù đói khổ nhưng nước da mẹ lúc nào cũng trắng hồng, lại thêm khuôn mặt xinh xắn, mái tóc đen dày dài đến gót chân khiến nhiều người đàn ông để ý. Lúc bấy giờ ông Chủ tịch Huyện Thanh Oai đánh tiếng hỏi mẹ về làm lẽ nhưng mẹ từ chối. Sau một người đàn ông làng trên đã lấy vợ nhưng không có con cũng vật nài: “Lấy tớ, con tớ nuôi cho” nhưng mẹ vẫn không nghe. Trong lòng mẹ vẫn vẹn nguyên hình ảnh của ông Cổn. Mẹ tự nhủ sẽ ở vậy nuôi con quyết không đi bước nữa. Nhưng nhà chồng nói không được, quay ra đuổi mẹ, chỉ giữ lại hai thằng cháu trai. Mẹ cắp cái thúng đựng mấy bộ quần áo, dắt tay con gái về nhà bố mẹ đẻ. Sau, ông Thái Văn Thả, còn gọi Tư Vỹ là cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết làm việc tại Hà Nội nhưng đóng quân ở làng, biết hoàn cảnh của mẹ mới nhờ người nói chuyện. Bố chồng mẹ thấy thế thì động viên: “Con còn trẻ, con cứ đi bước nữa”. Nhìn ông Vỹ cao to, trắng trẻo, cũng là bộ đội lại nghe nói ông chưa có gia đình nên mẹ đồng ý. Mẹ cưới năm 1961 thì sau 9 năm mẹ sinh liền 3 cô con gái: Thái Thị Hương, Thái Thị Kim Thanh, Thái Thị Ngọc Lan. Mẹ cùng ông Vỹ vất vả nuôi dạy 4 cô con gái. Ông Vỹ xin cho mẹ ra làm công nhân xây dựng ở Hà Nội nhưng mẹ không đi. Mẹ bảo “Tôi vất vả đồng ruộng quen rồi, không làm công nhân được”.

Năm 1967, con trai cả của mẹ vừa tròn 17 tuổi. Tuấn nói với mẹ muốn đi bộ đội. Mẹ bảo: “Bố hy sinh rồi, con không phải đi nữa. Mẹ sẽ gắng nuôi con ăn học”. Tuấn đáp: “Không, con phải đi để trả thù cho bố”. Khuyên con không được, mẹ ngậm ngùi tiễn con lên đường. Tuấn đi rồi, bạn gái Tuấn nói với mẹ: “Mẹ ơi, con thấy anh Tuấn lấy máu ở ngón tay viết đơn tình nguyện xin đi bộ đội đấy mẹ ạ”. Mẹ chỉ biết lấy tay gạt nước mắt. Tuấn đi biền biệt, không tin tức. Sau 3 năm bất ngờ mẹ nhận được tin con trai mẹ đã hy sinh trong chiến trường phía Nam mà không tìm thấy xác. Mẹ đau đớn, thấy đầu óc mình mê muội, không biết gì nữa. Hai cuộc chiến đã lần lượt lấy đi hai người đàn ông thương yêu của mẹ.

Năm 1970, theo phong trào xây dựng kinh tế mới, mẹ, ông Vỹ cùng 4 cô con gái chuyển lên Nghĩa Lộ làm túp lều ở tạm. Năm 1972, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhà bị bom cháy hết, gia đình mẹ sơ tán chuyển về Ao Luông. Năm 1975, miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, cả gia đình lại quay về Nghĩa Lộ dựng hai gian nhà lợp gianh để ở. Ông Vỹ lúc này mới nói cho mẹ biết đã có vợ con ở trong Nam nên muốn quay vào đó và bảo mẹ đi cùng. Mẹ không nghe vì còn con cái, rồi mộ ông Cổn ngoài này nên năm 1976 ông Vỹ chuyển công tác về UBND huyện Bến Tre ở một mình, cũng không về với bà cả. Từ ngày ấy bặt tin ông Vỹ. Mẹ lại cùng 4 cô con gái bươn chải. Từ nhỏ đến lớn, các con gái của mẹ chưa một lần biết đến cơm trắng, chỉ sắn với bo bo, đi học nhiều hôm đói quá bị ngất bên đường, cô giáo phải đưa về ăn cháo khoai lang với sắn. Là một trong những học sinh giỏi nhất của Trường cấp I, II Hoàng Liên Sơn, được cử đi dự trại hè toàn quốc rồi đi thi học sinh giỏi của tỉnh nhưng Lan, con gái út của mẹ sau khi học xong cấp III vì không có tiền học tiếp nên phải đi làm công nhân cho nhà máy chè Trần Phú. Sau nhờ làm việc tốt, Lan được nhà máy cử đi học. Còn Thanh, cô con gái thứ 3 dù học giỏi thứ 2 của trường cấp III Nghĩa Lộ nhưng sau khi tốt nghiệp cũng đành phải đi học 12+2 để hàng ngày từ thị xã đạp xe về nhà cho gần… Ngoài giờ học, 4 cô con gái lại cùng mẹ hái chè, cắt gianh, làm nón sống qua ngày. Cuộc sống lần hồi trôi qua…

Các con dần trưởng thành, đứa đi học, đứa đi làm, mẹ ở nhà một mình vò võ. Đến năm 1989, mẹ chuyển về Văn Chấn ở cùng chị Hương, cô con gái thứ 2. Nhà ở khu tập thể chật chội, dột nát, cuộc sống vẫn vô vàn khó khăn. Sau 46 năm chồng mất và 26 năm con trai cả hy sinh, năm 1997 nhân kỷ niệm 50 năm ngày thương binh liệt sỹ mẹ đã được hưởng chế độ thân nhân liệt sỹ. Năm 2006 mẹ được Nhà nước cấp cho 120m2 đất tại khu vực Nhà máy chè Trần Phú cùng 12 triệu tiền hỗ trợ xây nhà. Các con mẹ thế chấp sổ lương, vay thêm 50 triệu xây nhà cho mẹ. Năm 2007 chị Mỹ bị ung thư rồi mất. Con gái anh Phàn biếu 20 triệu xây thêm cho mẹ gian bếp và nhà vệ sinh khép kín. Đầu năm 2017, lãnh đạo huyện đến thăm, mẹ bảo: “Mái nhà giờ nứt, dột hết cả, mẹ chỉ mong có tiền sửa sang lại”. Các anh nhất trí, ngay sau đó chỉ đạo huyện cấp 20 triệu sửa sang mái nhà cho mẹ. Mắt mẹ lấp lánh vui. Nhìn sức mẹ ngày một yếu, các con gái của mẹ ngỏ ý đón mẹ về ở cùng nhưng mẹ chỉ tâm nguyện: “Nhà nước quan tâm, xây nhà cho mẹ, mẹ phải ở đây để hương khói cho bố và anh con”.

Năm 2015, mẹ chính thức được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” vì đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Được Đảng, Nhà nước quan tâm, cuộc sống của mẹ đã vợi bớt những khó khăn. Hàng tháng mẹ đã có một khoản tiền để lo liệu cuộc sống. Những ngày lễ tết, các đoàn thể đến thăm, động viên khiến mẹ vui hơn rất nhiều. Cuộc đời truân chuyên, vất vả của mẹ giờ hạnh phúc trong niềm vui xum vầy con cháu. Ba cô con gái của mẹ giờ đều làm giáo viên. Hai cô giáo viên mầm non, một cô giáo viên tiểu học. Chị Hương, chị Lan ở quanh khu Nhà máy chè Trần Phú, thường xuyên chạy đi chạy về chăm sóc mẹ. Anh Phàn hiện giờ ở Hà Nội, chị Thanh ở Than Uyên, những ngày lễ tết đều đặn về thăm mẹ. Chỉ có điều mỗi lần xem ti vi, đến chương trình “Nhắn tìm đồng đội” mẹ lại tắt đi. Đôi dòng nước mắt mờ đục lại chảy. Mẹ bảo “Tôi xót ông Cổn, xót thằng Tuấn lắm. Chẳng biết đến bao giờ mới tìm được thằng Tuấn đây…?”.

Ánh mắt mẹ vời vợi nhớ thương, chất chứa niềm mong chờ, tìm kiếm.

Ngoài hè, cái nắng tháng 9 vẫn hanh hao, quay quắt…

M.N

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter