• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Mộng kẻ sỹ
Ngày xuất bản: 24/10/2016 1:58:36 CH

 Truyện ngắn của Quang Bách

 

      Chiều thu. Gió sông tạt ngang triền đê mát rượi. Hết tiết học trưa ngày thứ bẩy, như thường lệ, Bổng từ nơi trọ về nhà lấy gạo cho một tuần học mới ở trường cấp hai phố huyện. Thương bố mẹ tuổi cao, kinh tế gia đình cũng chẳng dư dật gì, thế mà vẫn quyết tâm cho Bổng đi học và lo ăn mặc cho năm đứa em lít nhít. Trong khi đó bạn bè cùng trà lứa với Bổng không đứa nào được tiếp tục học lên sau khi tốt nghiệp lớp bốn những năm hoà bình lập lại, 1954. Nghĩ vậy nên Bổng quyết tâm học tập và năm nào cũng đạt danh hiệu học sinh gương mẫu.

      Ông Phó Tiền là người căn cơ, quyết đoán, có trách nhiệm với gia đình, dòng tộc. Ông nuôi hoài bão muốn cho các thế hệ con cháu thông tuệ, có bằng cấp, danh vọng nên rất coi trọng việc học hành. Bổng được bố đặt niềm tin bởi tính nết hiền lành, chăm chỉ, nói năng lưu loát. Đi họp phụ huynh, ông hả lòng hả dạ khi con mình lên nhận phần thưởng. Ông quyết định đầu tư việc học hành cho con. Muốn vậy phải có người thay Bổng quán xuyến mọi nhẽ từ nấu cơm đến trông em khi bố mẹ vắng nhà. Thế là việc lấy vợ cho Bổng được quyết đáp một cách vô cùng nhanh chóng sau buổi họp gia đình.

      Lẫm về làm dâu nhà Bổng ở tuổi mười chín, cái tuổi phơi phới, ngồn ngộn tình yêu. Trong khi đó Bổng mới mười ba, con trai đang thời vô lo, vô nghĩ. Với sức ép của bố mẹ hai bên, cộng thêm hủ tục làng quê khi con gái về nhà chồng, buộc Lẫm phải theo khuôn phép. Còn thực tế cuộc sống vợ chồng khiến Lẫm buồn chán đến nẫu nà gan ruột. Về tuổi tác, Bổng chỉ là đứa em út trong gia đình Lẫm, chưa biết thế nào là tình cảm vợ chồng. Bản năng người con gái mười chín tuổi nhiều lúc khiến Lẫm nổi loạn về tính cách. Nỗi ham muốn về thể xác khi nghĩ mình là gái có chồng làm Lẫm quên đi trách nhiệm dâu thảo, vợ hiền. Lẫm trở nên buông thả trước những lời ve vãn, tán tỉnh của cánh đàn ông trong đó có Giáng, người cùng họ với chồng. Biết rằng hành động và suy nghĩ ấy là có tội lớn, thế nhưng Lẫm không thể vượt lên được chính mình. Gần một năm làm vợ nhưng Lẫm vẫn là con gái. Nỗi niềm này chỉ riêng Lẫm biết. Ân hận. Dày vò. Ham muốn. Lẫm muốn nhấn chìm nó, băm nát nó bằng việc hùng hục lao nước gầu sòng từ mương vào ruộng; hoặc dậm chân nhấn cối giã gạo liên hồi; hay thả những vòng tròn tay xay lúa tít mù ở gian cuối nhà vào mỗi buổi tối.

 Giáng là đứa lông bông, học hành kém cỏi, lười nhác, thích ăn diện nhưng lại có duyên tán gái. Nhiều cô trong làng sa vào lưới tình của hắn một cách dễ dàng bởi sự nhẹ dạ, cả tin.

 Mùi về làm vợ Giáng khi chưa học xong lớp một. Lúc cưới nhau cả hai cùng mười sáu tuổi. Hai năm sau đẻ đứa con đầu lòng. Khi con Vẻ bây giờ chưa được một tuổi thì Mùi có mang đứa thứ hai. Khi đẻ lại vẫn là con gái. Ông nội đặt tên là Vui. Ông bảo con gái ngoan ngoãn thì bố mẹ vui vẻ gấp trăm lần khi đẻ con trai mà lớn lên lêu lỏng, chơi bời, hư hỏng. Giáng chán đời vì không có con trai. Hơn nữa lại bị bạn bè khích bác rằng sẽ không có người nối dõi nên càng lao vào con đường cờ bạc, trai gái, rượu chè.

Đang lúc duyên phận hẩm hiu, bố mẹ đẻ, bố mẹ chồng phong kiến, hà khắc, Lẫm đã bị Giáng làm cho ngã lòng một cách dễ dàng. Hàng ngày Lẫm đều có lý do khi đi làm cỏ chè, cỏ sắn, lúc đi bắt sâu lúa hoặc nhổ cỏ, be bờ... Vì thế mới có cớ vắng nhà.

  Một đêm trăng mùa hạ. Ông Phó Tiền đi ăn giỗ ở làng bên về muộn. Qua cầu Mộc, tới vạt ngô mới trổ cờ lá xanh mơn mởn. Trời không có gió mà sao chòm ngô gần giữa ruộng lại lay động? Cùng lúc ông nghe được tiếng cười rúc rích. Lũ kẻ trộm chia đồ ăn cắp hay trai gái trong làng có đứa làm điều bất minh? Ông nghĩ vậy và tiến thẳng vào ruộng ngô. Trời! Không tin vào mắt mình nữa. Ông lặng người đi khi biết đó là thằng Giáng và Lẫm, con dâu mình. Hai đứa nhất loạt quỳ xuống vái như tế sao xin ông tha tội. Ông không nói gì, nhổ một bãi nước bọt trước mặt chúng, quay lưng đi thẳng. Ông quyết định không tha cho lũ gian phu, dâm phụ. Lễ yết cáo tổ đường dòng họ Bùi Hữu, do chính ông Bùi Hữu Tiền làm trưởng họ được thi hành ngay.

  Gia tộc họ Bùi Hữu vai vế, kỷ cương nhất làng. Trai, gái, dâu, rể trong họ phải nhất tề tuân theo những quy định nghiêm ngặt vốn có từ bao đời nay. Trong đó, dâu họ quan hệ bất chính với trai họ phạm tội loạn luân phải chịu hình phạt nặng nề nhất. Xưa thì con gái gọt gáy bôi vôi. Con trai đầu trần chân đất, đeo mo nang có hai chữ "loạn luân" trước ngực. Cả hai bị trai đinh trong họ dẫn đi quanh làng, vừa đi vừa đánh phèng phèng để mọi người nhận mặt kẻ đồi bại. Từ sau cách mạng, hình phạt cho tội danh này có phần được nới lỏng, song vẫn rất nghiêm khắc. Bố mẹ Giáng phải đích thân sắm sửa lễ chay, lễ mặn quỳ trước bàn thờ tổ đường. Giáng và Lẫm cùng quỳ gối cúi đầu bên cạch bà Phó Tiền có đứa con dâu hư thân mất nết.

  Sau hồi chuông thỉnh, ông Phó Tiền khăn xếp áo the chỉnh tề, vòng tay trước ngực, hắng giọng, cao lời: "Kính lạy tổ đường! Hôm nay, ngày... tháng... năm... con là Bùi Hữu Tiền trưởng họ Bùi Hữu làng Thái, kính cẩn trình tâu: Trai đinh họ tộc Bùi Hữu Giáng phạm tội vợ chồng bất chính với dâu họ Hoàng Thị Lẫm. Chiểu theo luật tộc tôn nghiêm, hiện con đã triệu các tội nhân cùng kẻ sinh dưỡng về quỳ trước tổ đường để lĩnh nhận phạt hình ...

 Hôm sau, ông bác ruột Lẫm và một số người đại diện nhà gái đem cơi trầu sang tạ lỗi với gia đình ông Phó Tiền vì có đứa con hư hỏng và xin phép được đưa Lẫm về nhà dạy dỗ.

*     *

*

      Từ ngày vợ về với mẹ đẻ, mỗi chiều thứ bẩy ở nhà Bổng cảm thấy một sự thiếu vắng, trống trải rất khó tả. Chiếc giường đôi như rộng thêm. Mùi hương bồ kếp toả ra nồng nàn từ mái tóc dài óng ả, xoã tràn đôi bờ vai tròn trịa của Lẫm như còn vương lại, đưa Bổng về nỗi nhớ nôn nao, mơ hồ, xa vắng. Những cử chỉ ân cần của Lẫm mỗi khi Bổng từ nơi trọ học trở về nhà sao mà nhẹ nhàng, êm ái, làm tan biến đi sự mệt nhọc sau khi đi bộ cả quãng đường dài gần hai chục cây số. Sự dịu dàng của Lẫm có thể coi như đó là tình yêu của người vợ đối với chồng, tình thương của người chị với em và nó có gì đó giống như sự quan tâm, săn sóc của người mẹ với con. Chưa có tình yêu mạnh mẽ của người đàn ông đối với vợ song Bổng đã cảm thấy mình có tình yêu, tình thương với Lẫm. Hình ảnh Lẫm mặc áo nâu non, đội nón lá cọ, vác cuốc trên vai, quần sắn qua đầu gối để lộ bắp chân trần tròn lẳn đã khắc ghi vào tâm trí Bổng những dấu ấn khó quên.

      Vắng Lẫm, mọi sự trở nên bề bộn. Vợ chồng ông Phó Tiền "chân nam đá chân chiêu" mà vẫn không hết việc đồng, việc nhà. Khi Lẫm còn ở đây, đi làm về, bà Phó có điều kiện nghỉ ngơi vì sự tận tuỵ, chịu khó không nề hà bất cứ công việc gì của con dâu. Xử sự với Lẫm như vừa rồi đành là lề thói của họ tộc vốn khắt khe, chặt chẽ từ bao đời, nay không thể làm khác. Thế nhưng bà vẫn canh cánh trong lòng về nỗi thương nhớ, đôi lúc cảm thấy oan trái cho đứa con dâu tội nghiệp. Gái có chồng mà đi ngoại tình là lỗi của Lẫm. Song bà thấy mình có lỗi, chồng mình có lỗi. Ông Phó nếu không quá đam mê, hy vọng, cầu toàn vào sự học hành của con, không quá sỹ diện với dân làng về mộng kẻ sỹ đối với con mình thì đâu đến nỗi dẫn đến cưới xin theo sự sắp đặt của cha mẹ giữa Bổng và Lẫm. Nhiều lúc bà còn trách cứ cả cô, dì, chú, bác đã không tỉnh táo trước mâm xôi, đĩa thịt mà ngăn gián vợ chồng bà hãy khoan tính chuyện hôn nhân cho con cái khi chúng còn thơ dại.

      Ở nhà bố mẹ đẻ, tâm trạng Lẫm rối bời. Nỗi ân hận về lỗi lầm không ngớt dày vò tâm can người con gái nhẹ dạ, thêm vào đó lại phải chứng kiến nỗi ủ dột của cha mẹ và gia đình vì mình là đứa con hư hỏng. Tội của Lẫm không chỉ ngoại tình mà còn là gái chửa hoang bởi cái bụng ngày một dềnh lên. Lẫm không muốn giết con nên kiên quyết không chịu uống thuốc tra thai. Sự bướng bỉnh ấy khiến cơn giận trong đầu bố, như lửa đổ thêm dầu. Ông tuyên bố từ con vì không còn mặt mũi nào nhìn thấy hàng xóm láng giềng. Nhiều đêm liền ông đem điếu đóm, ấm tích hãm nước chè tươi từ sập gụ ra manh chiếu rách đầu hè. Ánh trăng thượng tuần làm loang lổ nền sân gạch Bát Tràng. Tiếng dế kêu sương nỉ non, khoan nhặt. Rặng tre đầu ngõ xào xạc lá, kẽo kẹt cây bởi từng cơn gió nồm nam đầu hạ. Ngậm se điếu, bật lửa châm mồi thuốc, rít hơi dài, chiêu ngụm nước chè xanh đặc quánh rồi nhả khói thuốc ngoằn ngoèo dưới mái hiên, giọng ông trầm nhưng rõ:

      - Bu con Lẫm đâu, ra tôi bảo đây!

      Nghe gọi, mẹ Lẫm đưa tay quệt vội quết trầu trên khoé mép, đứng dậy bưng cả mẹt lạc đang bóc dở ra hè, ngồi thỏng chân xuống sân, đợi câu nói của chồng:

      - Mảnh đất giáp rặng tre, tôi chặt xoan dựng gian nhà cho con Lẫm. Bà chuẩn bị nồi niêu, bát đĩa, thóc gạo để nó ở riêng. Làm thế tôi và bà cùng bớt khổ khi phải nhìn thấy loài nghịch tử. Nhưng quan trọng hơn là để nó yên tĩnh nỗi lòng mà đi đến chỗ mẹ tròn con vuông.

      Bà Phó uể oải đứng dậy, ra góc sân nhổ quết trầu, trở lại với miếng bã trầu đỏ sẫm trên tay:

      - Tuỳ ông định liệu. Đã đến nước này tôi cũng chả biết mình phải làm gì!

      Gian bán mái, hai cột trước cao, hai cột sau thấp, lợp rạ, xung quanh thưng phên long mốt gọi là nhà hoặc lều đều được. Trên nền đất gồ ghề, góc bên phải chôn bốn cọc, đặt lên những mảnh tre ken lại thành giát, trải manh chiếu sờn làm giường. Góc bên trái là bếp đun với ba ông đầu dâu bằng đá chụm đầu đỡ nồi mỗi khi nổi lửa. Quần áo ngắn dài vắt lộn xộn trên cây xào buộc xuôi mái. Hai mẹ con Lẫm sống ở đây. Rặng tre um tùm như bức rào ngăn cách với thế giới bên ngoài. Thằng bé mới gần chín tháng tuổi mà đã lẫm chẫm biết đi. Hình như được trời phú, đói nghèo lam lũ, bữa đói bữa no, bất kể trời mưa, trời nắng mẹ địu con mò cua bắt ốc, mót sắn, tìm khoai... dãi dầu từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều mà thằng bé cứ việc ăn, việc lớn, chẳng nhức đầu sổ mũi bao giờ. Lẫm đặt tên nó là Côi. Đầy đủ họ tên: Hoàng Văn Côi. Với ý nghĩa côi cút, đơn côi, mồ côi. Lẫm hận mình, hận đời, quyết sống độc thân tự lực nuôi con, không thèm quỵ lụy, nhờ vả bất kỳ một ai, kể cả bố mẹ đẻ ra mình. Thằng Côi thông minh, chẳng bao lâu đã biết gọi mẹ, nói được một từ, hai từ, ghép được câu, nhận biết được mọi hiện tượng, sự vật xung quanh... Hàng ngày trừ lúc đi kiếm ăn, khi trở về hai mẹ con lại ríu rít, trò chuyện, nói cười, gian nhà ấm cúng hẳn lên.

      Ông Chút, bố Giáng và ông Phó Tiền tuy cùng tổ họ nhưng chỉ bằng mặt mà không bằng lòng với nhau từ lâu. Chuyện Giáng vi phạm điều cấm kỵ của họ tộc khiến ông Chút phải quỳ trước bàn thờ tổ đường làm ông Phó Tiền hả lòng hả dạ. Lại một lần nữa ý định cho con học hành đến nơi đến chốn để cả làng, cả họ không ai bằng mình của ông lại thêm phần hun đúc. Ông bán trâu, bán lợn cho Bổng tiền thuê trọ, tiền ăn uống, sinh hoạt, tiền mua sắm ở tại phố huyện, mỗi học kỳ chỉ về thăm nhà một lần, thời gian còn lại là để đầu tư cho chuyện học hành.

      Bổng không dám trái lời bố mẹ. Song suy nghĩ của mình về những điều bố dạy, những việc bố làm có gì như chưa phải. Phấn đấu học hành để trở thành người giỏi giang, xây dựng cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc, giúp đỡ được nhiều người xung quanh bớt khó khăn, góp phần làm cho làng xóm, quê hương ngày càng tiến bộ là điều tốt. Còn như bố nói, lấy sự học cao hiểu rộng để coi thường người khác, khinh miệt những kẻ dốt nát, nghèo đói, xa lánh những mảnh đời bất hạnh, hoàn cảnh éo le. Hoặc mãn nguyện trước sự thua kém, bĩ cực của những người vốn có thù hằn hiềm khích với mình thì như là tự đánh mất đi lòng tốt, điều thiện và tiến dần đến những điều ác trong cuộc sống thường ngày.

      Trước hoàn cảnh của Lẫm, Bổng thấy mình là người kém cỏi, yếu đuối, nếu không nói là hèn. Người con gái đơn độc trước bao hủ tục nặng nề của làng quê đang kêu cứu, thế mà với danh nghĩa là chồng, là người được học hành tử tế lại khoanh tay đứng nhìn. Bổng tự xấu hổ với chính mình. Tia sáng loé lên trong đầu. Phải làm gì để giúp mẹ con Lẫm. Ít nhất cũng được lời an ủi để Lẫm vơi đi nỗi khổ, nỗi buồn.

      Bổng quyết định không học cấp ba mà xin thi Trung cấp Lâm nghiệp, ngành Kiểm lâm- Mặc dù kỳ thi tốt nghiệp cấp hai Bổng đỗ loại giỏi với số điểm tối đa ở tất cả các môn thi. Trong danh sách đặc cách vào lớp tám của trường cấp ba trên tỉnh Bổng đã có tên. Sau hai năm, tốt nghiệp sẽ xin về công tác ở Trạm Kiểm lâm một huyện miền núi, rồi đưa mẹ con Lẫm lên cùng. Nghĩ vậy, nhưng để trở thành hiện thực là một điều rất khó khăn. Không dễ dàng lay chuyển được ý định của bố quyết tâm đầu tư công sức, tiền của để mình học xong cấp ba, thi đỗ vào một trường Đại học danh giá. Hôm nhận bằng tốt nghiệp Đại học ông sẽ mổ bò khao làng.

      Vững tin vào hai lý lẽ đã sắp xếp sẵn trong đầu như bài văn nói. Thứ nhất, vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ ngày một già yếu, các em lớn dần, nhu cầu ăn mặc học hành tốn kém nên việc xin đi học chuyên nghiệp, rút ngắn thời gian bố mẹ phải nuôi là chính đáng. Thứ hai, ra trường, được về công tác tại cơ quan nhà nước và nhất định sẽ được cử đi học Đại học. Như vậy ý định của bố vẫn thành hiện thực. Bổng xin phép bố mẹ được nói tất cả ý định của mình. Bà Phó thương con, vả lại có ông Phó ngồi đó nên chưa dám nói gì. Với ông Phó thì đây là một bất ngờ. Bởi phương án này ông chưa bao giờ nghĩ tới. Hết cấp hai, học Trung cấp hai năm, ra trường văn hoá vẫn hết cấp ba mà lại được nhận làm việc tại cơ quan nhà nước rồi vẫn được cử đi học Đại học. Như vậy thời gian gia đình phải nuôi sau ba năm học cấp ba, cộng ba năm học Đại học, vị chi tất cả sáu năm mà hiện tại chỉ phải nuôi hai năm. Tốt quá còn gì! Ông lại càng tự hào về con vì sự tính toán thông minh của nó. Tuy nhiên, cũng phải có một câu để tỏ rõ oai phong làm bố. Một thoáng suy nghĩ, giọng ông trầm nhưng rõ:

      - Nếu thi Trung cấp trượt thì có được tiếp tục học cấp ba không?

      - Chắc chắn được chứ ạ, hiện con đã có tên trong danh sách đặc cách vào lớp tám trường cấp ba trên tỉnh rồi mà.

      Thế là việc học hành của Bổng chuyển sang phương án rẽ ngang. Sau buổi nói chuyện, Bổng thấy đầu óc nhẹ nhõm hẳn đi.

*     *          

                                                                  *

      Ngày tháng trôi. Mẹ con nhà Côi Lẫm dựa vào nhau mà sống. Cứ tưởng hai thân phận này sẽ gắn kết cho đến khi mẹ già, con lớn ở gian lều bên rặng tre quê hoang hoải này. Ai ngờ lại có người thứ ba đến chen vào cuộc đời họ.

      Chiều ấy, khi cơn mưa mùa thu nặng hạt đã qua. Cây lá như vừa được thau rửa bụi bặm. Nắng thu vàng nhạt. Trời thu xanh trong. Rặng tre lả ngọn sát mái lều. Thân tre khít vào nhau phát ra tiếng kêu ken két mỗi khi cơn gió thu ùa qua. Lẫm sững sờ trước sự xuất hiện của Bổng. Côi ngơ ngác trước người khách lạ nó chưa gặp bao giờ. Chủ khách nhìn nhau. Không gian lặng tờ. Ai cũng như chờ đợi câu nói của người đối diện. Xác định được vị trí của mình, Bổng lên tiếng trước:

      - Tôi đến thăm mẹ con Lẫm, mong được bỏ qua mọi chuyện, và...

Lẫm nghẹn ngào cắt ngang lời Bổng:

- Có gì đâu anh, vào nhà đi, trước sau thì chúng mình cũng có cuộc gặp gỡ thế này mà...

Chiếc giường tre ọp ẹp. Bổng ngồi phía đầu. Lẫm ngồi phía cuối. Thằng Côi tựa lưng vào cửa, mắt mở to nhìn hai người không chớp, chân di qua, di lại trên nền nhà không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Giộng Bổng trầm, ấm, đủ nghe:

- Tôi đã tốt nghiệp Trung cấp Kiểm lâm và được phân công về công tác tại ngành Kiểm lâm tỉnh Khao Lai giáp biên giới. Một ngày nên nghĩa. Dù sao chúng mình cũng đã là vợ chồng, có hỏi, có cưới... Tôi đã suy nghĩ kỹ, quyết định đến đây nói với Lẫm rằng tôi yêu em và đưa em cùng con lên lập nghiệp nơi tôi công tác. Biết rằng sẽ còn rất nhiều khó khăn, gian khổ nhưng một khi đã có tình yêu, tình thương với nhau, chúng ta sẽ vượt qua được hết. Mọi quá khứ để lại phía sau, nhìn lên phía trước mà sống. Lẫm tin tôi nhé!

Bổng tiến lại ngồi sát bên Lẫm. Chiếc giường chòng chành. Lẫm định ngồi dịch lên nhưng không còn chỗ. Bổng nắm bàn tay chai sạm của Lẫm. Lẫm rủn người, phản ứng tự nhiên định rút tay ra. Song không hiểu vì quá xúc cảm hay vì bàn tay Bổng nắm quá chặt mà Lẫm vẫn để nguyên như thế. Giọng Lẫm rụt rè, pha chút e ngại:

- Không được đâu, Lẫm có lỗi, không đáng để anh đối xử vậy!

- Đã bảo đến bây giờ, hai chúng mình sẽ không còn ai có lỗi lầm gì cả. Lẫm là vợ tôi. Thằng bé là con tôi. Ba chúng ta là một gia đình.

- Thế còn bố mẹ, anh chị em, nội ngoại hai bên và họ mạc, hàng xóm láng giềng nữa, họ đâu để yên- Giọng Lẫm ngập ngừng, sợ hãi.

Bổng lắc nhẹ bàn tay Lẫm, sát vai vào bờ vai phủ mái tóc dài buông xoã của Lẫm:

- Tôi suy nghĩ kỹ rồi, dân gian có câu "Hổ không bao giờ ăn thịt con", cho nên không bố mẹ nào nỡ đối xử tàn tệ với con. Bây giờ các cụ chưa hiểu, chưa thương thì sau này sẽ hiểu, sẽ thương. Còn anh em, họ mạc, hàng xóm láng giềng, mặc kệ tất cả! Bởi vì "Cười ba tháng chẳng ai cười ba năm". Người nhà quê mình ai cũng biết câu ấy mà!

Gió chiều thu lướt ngang qua cửa. Gian nhà trở nên thoáng mát hơn. Bổng kéo thằng Côi đứng sát trước mặt hai người. Thằng bé ngoan ngoãn ngả vào vòng tay nối liền bởi hai bàn tay đang truyền hơi ấm cho nhau của Bổng và Lẫm. Tất cả không nói gì. Hình như họ đang tận hưởng niềm vui hạnh phúc.

 

                                                                                                              Q. B

 

 

 

 

 

                                                                                    

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter