• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Nhớ mãi Xa La Vông
Ngày xuất bản: 19/09/2017 1:42:04 SA

Hồi ký của Hoàng Tương Lai

     Bà mẹ bản Ban                                  

Tháng 8 năm 1971, trên cao nguyên Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng (Lào). Những cây thông còn sót lại sau bom đạn, trải qua một mùa mưa giờ bắt đầu xanh lá. Bầu trời cao nguyên, những đụm mây vẫn còn sũng nước. Xa xa, tiếng bom lẫn pháo vẫn nổ rền từng chập. Đơn vị tôi (Trung đoàn 174, Sư 316) hành quân qua thị xã Xiêng Khoảng. Lau lách trùm lên mái nhà cùng những bức tường đổ nát. Hố bom chi chít thành những ao chuôm đầy nước. Cứ ba mươi phút lại có một loạt bom tọa độ trút xuống các cao điểm. Đơn vị phải chạy qua giữa hai loạt bom đó để đến được các điểm chốt ở Tây Cánh Đồng Chum.

Sau một đêm, lúc thả bộ, lúc xốc ba lô mà chạy thở cả ra tai, đơn vị đến một cánh rừng thì trời hửng sáng. Một bà mẹ ra đón, dáng gầy gò chắc đã gần sáu mươi tuổi, tấm váy xanh có nhiều miếng vá khác màu trùm đến mắt cá chân, tấm khăn màu hồng đã cũ cũng nhiều miếng vá vắt chéo từ vai qua ngực. Đôi vai gầy, đôi cánh tay nhăn nheo hầu như không còn cơ bắp; mái tóc đã lốm đốm bạc búi lại sau gáy. Mẹ nhìn đoàn quân vội vã, mệt mỏi. Mẹ nói tiếng Lào với đồng chí giao liên như ra lệnh: “Cho đơn vị tản ra, đào hầm trú ẩn ngay rồi hẵng nấu cơm ăn. Trời quang như thế này là lũ máy bay đến ném bom đấy”.

Cả đơn vị làm theo qua lời dịch của đồng chí giao liên. Tất cả bắt tay vào đào hầm, đào bếp Hoàng Cầm và nấu cơm ăn sớm. Xế trưa, hai máy bay trinh sát loại  OV10 nom như hai chiếc bừa sắt, bừa đi bừa lại trên đầu chỗ trú quân. Liền đó có bốn chiếc T28 ào đến ném mấy loạt bom xuống cửa rừng. Nhờ có hầm trú ẩn tốt nên chỉ có ba đồng chí bị thương nhẹ. Thì ra, mẹ đã biết ngay từ lúc ra cửa rừng đón bộ đội. Ở đó có bãi cỏ rộng lại lầy, đồng chí giao liên đã nhắc, nhưng vừa mệt vừa buồn ngủ, chiến sỹ ta cứ lấn cỏ mà bước đi. Con đường được mở rộng, lũ máy bay trinh sát biết ngay là có đoàn quân vừa qua đây. Mọi người thầm cảm ơn mẹ.

Cánh đồng Chum - ảnh internet

Hỏi về mẹ, anh Hoàn giao liên bảo: “Mẹ bản Ban đấy!”. Vì mẹ ở bản Ban đến nên anh em quen gọi là mẹ bản Ban, mẹ ở cùng đơn vị hơn năm nay rồi. Chồng và con trai mẹ vào bộ đội Pa Thét Lào đã hy sinh ở quanh đây khi địch nống ra Cánh Đồng Chum. Mẹ bị lạc người con gái đã lớn tuổi. Không biết xác chồng, xác con ở đâu giữa bời bời khói đạn, mẹ ở vậy cùng các chiến sỹ nơi cửa rừng này. Mẹ giúp các chiến sỹ nhặt củi, hái rau rừng, ăn lương khô cùng các chiến sỹ. Về tiếng nói thì chỉ có các chiến sỹ người Thái, người Tày là hiểu được phần nào để giao tiếp với mẹ. Từ đó mẹ trở thành người dạy tiếng Lào cho bộ đội. Chỉ còn vài chiếc răng ở cửa, hai má hõm vào, mẹ thong thả dạy: “Xăm pa ky là đoàn kết; xăm pai là chào mạnh khoẻ; sấc tu là thằng giặc; A mê ri ca là Mỹ; Sấc tu A mê ri ca là thằng giặc Mỹ; phuốc hau là chúng tôi; nắc lốp là chiến sỹ; pốt poi là giải phóng; khóp chay là cảm ơn…”. Cứ thế ngày học lấy dăm ba câu. Mệt, mẹ nghỉ, lại quay ra dạy múa Lăm Vông: “Tay đưa lên trước ngực, khép các ngón tay vào, đưa lên, đưa lên như thế. Chân bước đi lùi lại, quay người, nhìn vào nhau, như thế được rồi. Con phải bước và múa theo nhịp trống. Con trai vòng tay múa rộng hơn con gái”. Những ngày ở cửa rừng, các chiến sỹ được mẹ chăm sóc, vỗ về, khi thì nắm lá rừng bỏ vào nồi xông chữa lành cơn sốt, khi ngủ mẹ đến từng võng rém màn cho từng chiến sỹ, tấm áo nào rách, chiếc khuy nào đứt, mẹ giành đơm vá lại.

Những tiếng Lào mẹ dạy cho, mọi người đã có thể bập bõm chuyện trò với mẹ. Nhìn về phía Cánh Đồng Chum, mẹ thong thả kể, đôi mắt già nua ngấn lệ: “Đời mẹ cực lắm. Lớn lên lúc nào cũng thấy bom đạn, đánh nhau. Hồi ở Long Chẹng, Vàng Pao định bắt chồng mẹ theo Phỉ. Mẹ theo chồng cùng con trốn ra vùng giải phóng. Tưởng yên, giặc lại đánh ra. Chồng và con bị lũ giặc Vàng Pao giết khi trong bụng mẹ đang có mang. Rời bản Ban, mẹ trốn vào các hang đá, mẹ ăn bắp chuối rừng, ăn quả sung thay bữa. Bom đạn riết quá khi bụng mang con ngày một lớn, mẹ nhắm mắt bốc cả giun đất trong hang đá để ăn. Đứa con gái đẻ ra khóc được ba ngày thì chết vì mẹ không có sữa. Giặc đến lại chạy, bị vắt cắn, muỗi đốt, váy áo chẳng còn, mẹ lạc con gái lớn của mình trong dịp ấy, con gái mẹ tên là Xa La Vông. Mẹ thấy xấu hổ khi gặp bộ đội các con đến. Có một người chắc là chỉ huy, người ấy nói được tiếng Lào, người ấy cho mẹ vải làm váy áo, cho kim chỉ để khâu vá. Đời mẹ chả biết chữ, chỉ thuộc mấy bài hát từ thời còn con gái…”. Đôi mắt u buồn của mẹ, những giọt nước mắt đùng đục già nua lăn trên đôi má gầy tóp. Mẹ mếu máo: “Mẹ gặp các con, ai cũng tốt, ai cũng gọi là mẹ”. Anh Hoàn giao liên kể: “Anh hùng quân đội Đèo Văn Khổ, Tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn nay mai các anh sẽ đến là người cho vải mẹ đấy và còn nhận làm con nuôi của mẹ”.

Chiều tối ấy, tôi vào rừng đỡ mẹ vác củi. Đang đi, bỗng có vật gì vướng vào chân như sợi lạt rồi thấy buốt nhói ở cẳng chân. Bỏ vác củi nhìn xuống, thấy một con rắn xanh ở dưới chân mình chỉ nhỏ bằng ngón tay đang lao vào bụi. “Con bị rắn cắn rồi!”. Mẹ quay lại nặn bóp chỗ máu vừa rỉ ra rồi mẹ xé vạt khăn buộc chặt lên phía trên chỗ rắn cắn. Cố vác được củi về đến hầm thì tôi thấy người nóng bừng bừng, chỉ còn nhớ mang máng là lúc đó mẹ lấy một hạt gì đó cho tôi nhai nuốt rồi đắp vào chỗ đau. Ngủ thiếp đi một giấc dài trên võng, khi tỉnh dậy tôi thấy người toát mồ hôi và chỗ rắn cắn không còn sưng đau nữa. Đồng chí y tá đơn vị nói: “Nếu không có thuốc của mẹ thì anh giờ đã… chứ đơn vị chịu không có loại thuốc để chữa rắn cắn khi đang hành quân, quay trở lại bệnh viện ở Đông Cánh Đồng Chum chắc không kịp. Mẹ đã chữa cho bao chiến sỹ bị như anh rồi. Anh gặp may đấy”. Lúc đó, tôi chỉ biết chắp tay mà khóp chay! Khóp chay! (cảm ơn) mẹ.

Tạm biệt mẹ! Chúng tôi tiếp tục leo dốc để đến những chốt ở tít tắp xa kia. Trước mắt chúng tôi là những cao điểm 1978, 1800, 1516, 1608 rồi Phu Pha Xay cao hai ngàn một trăm mét so với mực nước biển. Theo tay mẹ chỉ: Dãy tít mờ xa ở phía mặt trời lặn kia là Xạm Thông- Long Trẹng, bọn giặc Vàng Pao ở đấy bắn pháo rồi cho quân đánh ra vùng giải phóng của ta.

Đúng là thiên nhiên kỳ vỹ của nước bạn Lào quanh Cánh Đồng Chum đã kiến tạo sẵn những căn hầm bằng đá đồ sộ, vững chắc tựa pháo đài. May mắn cho những chiến sỹ tình nguyện chúng tôi được ăn ở, mân mê từng nhũ đá lúc nghỉ ngơi sau mỗi trận đánh chặn bước quân thù. Những hang đã có sẵn tên như Nậm The ở gần viện 139, rồi hang Nậm Xiêm, Nậm Thuội. Cũng có thể nói, chúng tôi đã tiến hành một chuyến du lịch kỳ thú và mạn phép tạm thời đặt tên cho những hang động kỳ vỹ tây Cánh Đồng Chum của nước bạn Lào tươi đẹp nhưng đầy bom đạn này, những hang Toa Tàu, hang Rừng Sặt, hang Chuột, hang Trung Đoàn, hang C1, hang viện 139. Trong những tháng ngày xa nhà đi làm nhiệm vụ quốc tế, chúng tôi được bà mẹ bản Ban chăm sóc, thương yêu coi như con nên chúng tôi ai cũng quý và nhớ mẹ.

     Nhớ mãi Xa La Vông             

     Tháng 3 năm 1973. Sau hai năm giúp bạn Lào đánh đuổi bọn phỉ Vàng Pao cùng ngụy Viên Chăn ra khỏi Cánh Đồng Chum (Xiêng Khoảng), đơn vị chúng tôi giao lại chốt cho bạn rồi rút ra thị trấn Khang Khay để củng cố.

 Rừng ban đã rụng hết lá, xuân đến thi nhau đơm những nụ hoa trắng muốt. Trên ngọn thông già phơ phất những mảnh dù trắng của địch còn sót lại. Hiệp định Viên Chăn đã có hiệu lực, hoà bình đã trở lại trên đất nước Triệu Voi. Những căn nhà sàn, nhà đất lợp cỏ tranh dựng sát nhau kề bên quốc lộ tạo nên cái phố nhỏ: Thị trấn Khang Khay. Những lá cờ có hình trăng tròn ở giữa tung bay trên những nóc nhà của thị trấn. Bà mẹ bản Ban đã về dựng nhà kề bên thị trấn. Mẹ đã may được bộ váy áo mới, viền váy có thêu hoa văn như những bộ váy áo của các cô gái Lào. Mẹ đã tìm được mộ chồng cùng mộ con trai và đã nhận lại con gái mà bà con nuôi hộ giờ đã thành cô gái, trông mẹ vui và khoẻ ra nhiều.

Dân bản đón chúng tôi như những người thân trở về, nhà nào cũng mời bằng được bộ đội đến thăm nhà và hễ đến là được mời cơm rượu. Cơm nếp ở đây được các mẹ, các cô gái đồ thật khéo, thật dẻo. Xôi được nắm thành từng nắm nhỏ, đựng trong chiếc “ép khảu”, khách chỉ việc cầm ăn, chấm với gia vị muối ớt, gọi là “Chin khảu chầm cheo”. Mỗi nhà dựng một chòi giữa nương hay phần ruộng của mình. Trong chòi để thóc lúa, rượu gạo, thức ăn, hết lại ra lấy, chả ai lấy nhầm của ai bao giờ.

Do có chút vốn liếng về tiếng Lào, nên đơn vị thường cử anh em chúng tôi vào bản để quan hệ tiếp xúc với dân, từ việc mua thực phẩm đến việc giúp dân dựng nhà, sửa đường, dựng lớp học. Các Nai tà xẻng (Chủ tịch xã) đón tiếp chúng tôi cởi mở, thân tình như con em trong nhà vậy. Có lần Nai tà xẻng thị trấn Khang Khay vỗ vai tôi:

- Ở đây làm rể Lào nhé, để tôi làm mối và tổ chức đám cưới cho!

Tôi chỉ biết vò đầu bứt tai mà thưa:

- Chúng con chỉ sợ các noọng sjao Lào chê bộ đội sốt rét nhiều, không lấy thôi!

- Hôm nào tôi giới thiệu cháu Xa La Vông cho anh, xinh nhất Khang Khay này đấy! Nhà chỉ có hai mẹ con thôi.

Chả nhẽ La Vông là con của mẹ bản Ban năm nào....

Thị trấn Khang Khay tuy nhỏ, nhưng chỉ mới vài tháng sống trong hoà bình mà dân bản lánh giặc xưa kia giờ đã trở về khá đông đúc. Những căn nhà sàn, nhà đất lợp cỏ gianh dựng san sát nhau. Cỏ gianh ở đây được mọi người cắt về phơi khô treo lên từng túm. Các cô gái dùng cây vót nhọn làm lược chải, việc đánh gianh cần một hom dùng dây quấn rất cầu kỳ và đẹp. Những tấm gianh được các cô gái Lào dệt đưa lên mái, không cần mè, buộc luôn vào dui, hàng nối hàng tăm tắp, tạo nên những mái nhà xinh xắn riêng có của đất nước Triệu Voi.

Chúng tôi thường hay đến thăm mẹ bản Ban. Giờ mẹ cũng về sống ở thị trấn Khang Khay gần bản Ban này. Xa La Vông nghe tiếng tôi nói cùng mẹ ngoài ngõ, cô ào ra, chắc đang nấu rượu bên bếp ra nên đôi má cô ửng đỏ. Mới vài tháng, nay gặp lại, Xa La Vông rực rỡ như một nàng tiên trong bộ váy áo của người Lào Lum.

Lần đầu biết Xa La Vông là hôm tôi cùng Trần Hùng được đơn vị cử đi đón xe gạo vượt cầu Khang Khay, ở đó đã có một tổ các nữ du kích bạn giúp đỡ. Cầu Khang Khay ngắn, chỉ dài gần bốn sải tay bắc qua con suối nhỏ trước khi vượt Cánh Đồng Chum để vào các chốt của đơn vị. Chiều ấy, tôi cùng Hùng kiểm tra lại cầu, thấy an toàn, đang loay hoay tìm chỗ đào lấy chiếc hầm trú ẩn để canh gác chờ xe qua, bỗng máy bay địch ào đến, chúng chúc đầu xuống chỗ chúng tôi mà trút bom. Trong khói bom mù mịt, đất cát bay rào rào, cả hai chúng tôi được hai cô gái Lào kéo vào chiếc hầm mà các cô đã đào tự bao giờ. Sau loạt bom, chúng tôi ra khỏi hầm thì chiếc cầu đã bị bom hất đi đâu mất. Đang lúng túng chưa biết khắc phục ra sao thì có tiếng xe tải của ta sắp đến chỗ cầu. Đúng là xe chở gạo thật. Những hai xe Din ba cầu, chất đầy gạo và lá nguỵ trang. Nhớ đến trung đoàn ở Tây Cánh Đồng Chum đã cả tuần nay chỉ có bánh luơng khô nấu cùng nõn chuối rừng mà giữ chốt, giờ được hai xe gạo là sống rồi. Nhưng cầu bị bom phá mất, biết làm sao. Chần chừ, lúc nữa lũ “con ma” quay lại thì cả hai xe gạo cũng đi tong. Bỗng hai cô gái Lào nữa xuất hiện. Chúng tôi chụm đầu vào hội ý chớp nhoáng. Chiếc xe gạo đi đầu quay đầu xe, lùi đến chỗ chiếc cầu vừa bị bom làm bay mất mà trút cả xe đầy những bao tải gạo xuống đó. Chiếc xe thứ hai vượt qua có cả mười hai đôi tay của bốn cô gái Lào và hai chúng tôi cùng xúm vào đẩy. Xe gạo vượt qua. Chiếc xe không cũng ào qua rồi đứng lại. Chúng tôi cùng lội xuống bùn mà moi từng bao gạo để khiêng lên xe. Trời đã tối hẳn, nửa xe gạo cùng bùn ở lòng suối nhão nhoét, không vớt lên nổi. Thôi xe phải lên đường, kẻo lúc nữa lại dính toạ độ của lũ B57 trút bom xuống Cánh Đồng Chum. Chả biết mệt và đói, cùng bốn cô gái Lào, chúng tôi bắc lại xong cầu thì trăng cuối tháng cũng vừa lên. Bỗng có tiếng ì ì rất nặng trên đầu rồi tiếng rít của bom toạ độ. Chúng tôi lao vào hầm. Sau loạt bom nổ, chúng tôi vọt ra. May quá cầu vẫn còn nguyên. Nhưng Trần Hùng và cô gái nữa cùng hầm không thấy đâu. Bị bom vùi hầm rồi- linh tính của một người lính trận mạc mách cho tôi điều đó. Tôi cùng ba cô gái Lào bới mãi mới tìm được Hùng và cô gái Lào ấy. Bới được hai người lên, chúng tôi cứ ghé tai Hùng và người con gái Lào mà gào mà lay gọi. Khuôn mặt hai người vẫn tươi roi rói mà trái tim đã ngừng đập. Chôn cất hai bạn xong, một cô gái Lào chỉ vào bắp chân phải rớm máu của tôi, cô nói tiếng Lào: Ải chếp tin lai bấu?... (Anh đau chân lắm không?...). Vì công việc diễn ra chóng vánh quá, lại quá đau xót đồng đội, chắc là đất đá lúc bom nổ bắn vào cẳng chân phải của tôi, giờ mới thấy đau nhói, bước đi không nổi chỉ chực khụy xuống, đất trời quanh tôi quay tít. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang nằm trong căn nhà lá giữa rừng thông. Cô gái Lào lúc ở Cầu Khang Khay đang chườm thuốc nơi bắp chân phải cứng đơ, nặng trịch của tôi. Tôi vịn vào hàng rào tập đi chực ngã, cô gái đưa bờ vai cho tôi vịn, có bờ vai để vịn tôi tự tin hơn, bước chắc chắn hơn. Gần tháng, chân lành, tôi tạm biệt bố mẹ cùng cô gái Lào. Tôi chỉ biết chắp tay: Khóp chay pó mé, khóp chay noọng sjao Xa La Vông lai…! (Cảm ơn bố mẹ, cảm ơn em gái Xa La Vông nhiều lắm…!) rồi ra đường nơi cầu Khang Khay để đón xe về đơn vị ở Tây Cánh Đồng Chum. Xa La Vông tiễn tôi ra tận cầu Khang Khay, em cùng tôi đến mộ Trần Hùng và cô gái Lào, hai chúng cùng cúi vái người đồng đội và cô gái Lào nằm cạnh  nhau. Em kể mà mắt đẫm lệ: Em bị lạc mẹ, nhà anh đến nghỉ đắp thuốc là nhà bố mẹ đã đón em về nuôi. Tôi hứa sẽ tìm mẹ giúp em, em khóp chay (cảm ơn) tôi đến ba lần. Đợi cả nửa buổi mới có xe vào, lúc tôi lên xe, em đưa tay lên vẫy mãi. 

Dịp đón tết Bun Pi May (Tết năm mới của Lào) vừa rồi, tôi được dân bản cùng Xa La Vông mời múa lăm vông. Quanh những đống lửa đốt lên cạnh những chiếc chum đá, đi theo tiếng trống bập bùng, tay đưa bên tay, mắt nhìn vào mắt, khuôn mặt Xa La Vông như nửa vầng trăng lấp ló, mái tóc cài bông hoa chăm pa ngan ngát hương. Bất giác, tôi nhìn về phía Tây Cánh Đồng Chum nhớ đến bao đồng đội ngã xuống nằm lại nơi cửa rừng, vội quay đi lau nước mắt. Lần gặp mới nhất với Xa La Vông là dịp Bun Hót Nặm gần chiếc cầu bom đánh năm trước ở gần thị trấn Khang Khay này. Chúng tôi cứ đứng nguyên để các cô té nước vào người ướt từ đầu đến chân. Rồi đến lượt chúng tôi vục nước té lại các cô, váy áo cũng ướt hết. Chúng tôi vui sướng vì được tưới tắm cái mát lành cho nhau trong ngày vui cổ truyền khi đất nước hoa Chăm Pa đã hết bóng thù.

Mẹ bản Ban lần ấy đã chúc phúc, buộc chỉ vào cổ tay chúng tôi. Bà đặt tên cho tôi là Khăm Thương Lai. Cái tên ải Khăm Thương Lai mà Xa La Vông hay gọi nghe quen như một thành viên trong gia đình của mẹ bản Ban vậy.

Đơn vị bước vào huấn luyện khẩn trương để chuẩn bị về nước nhận nhiệm vụ mới. Bẵng đi bốn tháng không được ra thăm mẹ bản Ban, thăm em Xa La Vông ở thị trấn Khang Khay. Một chiều thứ bảy, mẹ của Xa La Vông ra tận đơn vị xin phép đón tôi lại nhà chơi, nói em Xa La Vông vừa theo học lớp y tá ngắn hạn ở Việt Nam về. Xa La Vông ra tận cổng nhà đón tôi. Thấy Xa La Vông mặt tươi như hoa, tôi chào em bằng tiếng Việt, nhưng em chỉ lắc đầu và nói tiếng Lào với tôi (Chắc em muốn thử xem tôi đã nói được nhiều tiếng Lào chưa). Xa La Vông rất vui, sôi nổi và nhanh nhẹn hẳn ra. Mẹ mời tôi ở lại ăn bữa tối vì em mới đi xa về. Đã lâu không uống rượu, nay được mẹ cùng Xa La Vông mời, chối mãi, phải nhấp từng tý một rồi cũng hết gần bát rượu lúc nào không biết. Thấy tôi chếnh choáng, mẹ của Xa La Vông không cho về và thu dọn chỗ ngủ cho tôi.

Tiết trời tháng ba rồi mà về đêm vẫn còn se lạnh. Trăng cuối tháng trải khắp sân nhà. Sương nhè nhẹ rơi trên mái gianh. Tôi thiếp đi lúc nào không biết.

… Cùng mấy anh em trong đơn vị tôi được đi chuyến máy bay từ Bun Sa Vẳn ra Hà Nội. Từ Hà Nội lại ngồi trên chuyến tàu tốc hành lên Yên Bái. Chiếc tàu thuỷ đưa tôi vượt hồ Thác Bà về chân núi Ngàng quê tôi. Mùa gặt, cánh đồng như tấm thảm vàng trải dài theo chân núi. Bước theo bờ ruộng còn thơm mùi rơm rạ, cả nhà tôi ùa ra đón, tất cả mừng rỡ sau bao năm biền biệt xa cách. Khi tay đã cầm tay, em gái rồi cả người yêu mình nữa bỗng oà khóc. Ơ, anh chỉ vài bận bị sức ép bom, người có sao đâu! Làng xóm, bố mẹ các em đều mạnh khoẻ, vẹn nguyên cả. Mà ơ kìa, lại cả Xa La Vông nữa, em đến đây bao giờ, mà sao em trên tay cầm những bông hoa chăm pa đến cho anh, quê anh gọi là hoa đại mà. Vài cánh cò trắng vẫy vẫy bay mải miết về phía núi Mông Sơn…

Con gà trống vỗ cánh “pộp... pộp...” cất tiếng gáy sang canh tôi mới choàng tỉnh giấc. Mình đang nằm trên gối đệm. Cạnh đó mẹ bản Ban đang thiêm thiếp. Trăng sắp lặn, rọi chiếu vào nơi tôi đang nằm. Vài sợi tóc dài vương trên má. Tôi giật mình. Trời ơi! Xa La Vông nằm ngay cạnh tôi. Gối đầu em kê sát gối đầu tôi. Mà kìa, em vẫn thức, đôi mắt mở to chớp chớp, đôi vai trần, tấm khăn hồng vòng chéo từ vai qua ngực, hơi thở nhè nhẹ nồng ấm.

Nhớ lần trên chốt cùng anh hùng quân đội Đèo Văn Khổ, anh kể: Tục tiếp khách ở đây, nếu mình cùng trang lứa với con gái thì bố mẹ sẽ cho con gái tiếp chuyện. Nếu khách nghỉ lại qua đêm cũng thế. Họ quý mình, nhưng nếu mình lạm dụng thì họ chả bao giờ tin nữa. Mẹ của Xa La Vông đã đặt tên cho mình, nhớ những lần đến nhà, mẹ bỏ đi làm cả buổi để mình nói được nhiều chuyện cùng Xa La Vông. Ánh mắt của Xa La Vông nhìn mình khác lắm. Mẹ đã buộc chỉ vào cổ tay cho mình, đã coi mình là anh của  Xa La Vông, hay còn muốn hơn thế nữa.

- Anh Khăm Thương Lai vừa mơ gì thế?- Lúc này Xa La Vông mới nói tiếng Việt. Thì ra đi học lớp y tá ở Nghệ An, em đã học và nói khá sõi tiếng Việt, lại pha chút nhẹ nhàng của xứ Nghệ.

Tôi kể lại giấc mơ của tôi về quê, về hồ thuỷ điện Thác Bà, về di tích Đá Bàn nơi Chủ tịch Xu Pha Nu Vông đã từng ở và làm việc ngay cạnh quê mình. Tôi dặn nàng có dịp nào sang Việt Nam nhớ thăm Thác Bà, thăm di tích Đá Bàn nơi quê tôi. Xa La Vông nói:

- Em nhớ rồi, nhớ từ hôm tiễn anh ra cầu Khang Khay, anh đã kể cho em nghe về căn nhà sàn, về mẹ anh lưng đã còng cũng mặc váy như người Lào, lúc ấy anh nói tiếng Lào chưa sõi lắm, đúng không. Nhưng anh Thương Lai à! Em ao ước được đến quê anh. Giờ em xin nói thật ý nghĩ  của lòng em với anh nhé. Biết Khăm Thương Lai sắp về Việt, mẹ cùng Xa La Vông muốn Khăm Thương Lai ở đây có được không?- Giọng Xa La Vông tha thiết, nhẹ nhàng nói chỉ đủ cho mình tôi nghe. Đắn đo, ngập ngừng vì tấm lòng tốt của em, mãi tôi mới nói thành lời:

- Em Xa La Vông! Cảm ơn lòng tốt của em, cảm ơn mẹ cùng dân bản đã chở che giúp đỡ bộ đội tình nguyện đuổi hết giặc. Nay hoà bình rồi, Khăm Thương Lai cùng bộ đội phải về nước để nhận nhiệm vụ mới…

Đôi vai trần của Xa La Vông rung lên.

Trời đã hửng sáng. Tôi và Xa La Vông vẫn bình tĩnh giữ cái khoảng cách nho nhỏ trong sáng đó.

Chào mẹ bản Ban. Tạm biệt Xa La Vông. Tạm biệt! Một đất nước Lào cùng Xa La Vông xinh đẹp vẫn mãi trong tôi.

 

                                                                   Cánh Đồng Chum tháng 4/ 1973

                                                                         Yên Bái tháng  7/ 2017

                                                                                    H.T.L

 

 

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter