• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Về vùng quả ngọt chè ngon
Ngày xuất bản: 03/01/2017 2:28:01 SA

  Bút ký của Hải Đường

Theo quốc lộ 37, xe đổ hết đèo Mỵ là đến ngã ba, một đường đi đèo Lũng Lô, một đường đi thị xã Nghĩa Lộ. Từ ngày xửa, ngày xưa, trong chiến dịch Lý Thường Kiệt, chiến dịch Lê Hồng Phong rồi đến chiến dịch Tây Bắc Điện Biên Phủ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều người đã qua đây, dù chỉ một lần đã ghi đậm trong ký ức mình cái ngã ba này. Nơi đây được gọi với cái tên quen thuộc Ba Khe. Ngã ba đường mang tên ấy bởi đây là đất của thôn Ba Khe, xã Cát Thịnh- một xã nổi tiếng thời chống Pháp với đội du kích Cát Thịnh, đây cũng có đỉnh núi Hồng nơi dân quân dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay phản lực Mỹ năm nào.

Anh bạn, người sinh ra và lớn lên ở Nghĩa Lộ dẫn giải cho tôi tường tận, từ tên núi, tên khe, đến tên mỗi cung đường, gắn liền với chiến tích của một thời đánh giặc. Tôi nhìn vào mắt anh thấy lạ lắm, dường như có lửa bốc lên từ sâu thẳm của lịch sử. Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết của anh viết về vùng đất này trong những năm tháng đầu tiên của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Anh đã đào bới, lật tung từng tầng đất làng, đất bản để tìm ra những hạt vàng, hạt ngọc đã vùi sâu dưới tầng câm của đất và tầng dày của thời gian. Dưới con mắt anh, mỗi ngọn cỏ, gốc cây, mỗi tên người, tên bản cứ long lanh sáng mãi.

Trước chuyến đi, trở lại vùng ngã ba, tôi có gọi điện cho anh, hỏi anh để thẩm định một vài sự kiện bởi lẽ chỉ có những con người vốn nặng lòng với nơi đây mới nhớ hết được. Vâng, đúng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, những anh bộ đội có mặt trong cuộc chiến sinh tử ở Điện Biên đã chuyển sang xây dựng nông trường trồng cà phê, trồng lạc, trên vùng đồi lòng chảo Mường Thanh, một bộ phận không nhỏ trở về vùng đồi Cát Thịnh, Tân Thịnh, Thượng Bằng La, Văn Chấn khai hoang, vỡ đất trồng chè, thai nghén cho sự ra đời của Nông trường chè Trần Phú sau này.

Những khát khao thầm lặng của những người nông dân cầm súng đánh giặc là được trở về cuốc đất, trồng cây, đã trở thành hiện thực. Dăm năm sau những người lính ấy có gia đình, có vợ, có con, có căn nhà bình dị ở dưới chân đồi, phía trên là những hàng chè đồng mức như những bậc thang lên đến đỉnh. Những ngôi nhà tranh, vách đất quét vôi trắng, đằng trước là vuông ao nuôi cá, sau nhà là vườn cây, phía trên là chè đã trở thành khuôn mẫu của làng quê mới, đơn sơ mà hạnh phúc. Và nơi đây đã trở thành quê hương của người lính tự khi nào cũng không ai biết.

Từ khi có những anh bộ đội trở về cuốc đất, trồng chè, đồng bào các dân tộc từ chỗ chỉ biết làm nương, cấy lúa, trồng khoai đã biết chuyển sang trồng chè theo những bậc thang, đồng mức. Chè của nông trường và chè của dân nối tiếp bên nhau tạo nên một vùng chè rộng lớn hàng trăm héc ta. Phong trào khai hoang, vỡ đất trồng chè đang lên, tỉnh Nghĩa Lộ đón hơn một vạn bốn nghìn người từ xuôi lên cùng xây dựng vùng kinh tế mới. Tôi đã nhiều lần tháp tùng đoàn cán bộ của tỉnh về tận huyện Hưng Hà, Kiến Xương, Vũ Thư của tỉnh Thái Bình và về nhiều huyện của tỉnh Hà Nam, Ninh Bình đón người lên xây dựng kinh tế miền núi, mà chủ yếu là trồng chè. Cuộc chuyển dân chưa khi nào là một công việc dễ dàng, nó là cả một cuộc cách mạng đầy khó khăn và phức tạp. Thế nhưng không hiểu làm sao mà cuộc vận động ấy lại có sức cuốn hút đến như thế. Ngày này, tiếp ngày kia, xe này, tiếp xe kia, đầy người, rực rỡ cờ bay tiến lên miền núi. Ngồi cùng xe, nhìn những lá cờ đỏ sao vàng bay trong gió sớm của đồng bằng sông Hồng, tôi cứ tự hỏi: Có phải những con người kia, những gia đình kia rời nơi chôn rau, cắt rốn của mình để ra đi, vì bát cơm, manh áo hay vì một điều gì thiêng liêng, cao cả hơn nhiều. Phải chăng đấy là tình yêu Tổ Quốc. Mà Tổ Quốc chính là đất và nước của mình. Anh bộ đội và người dân địa phương, người miền núi và miền xuôi đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau xây dựng vùng kinh tế mới. Người gắn bó với người trong tình người. Đất gắn bó với người bởi tình người dành cho đất, bắt đầu từ hạt mồ hôi nhỏ vào lòng đất.

Nông trường quốc doanh đầu tiên ra đời với hơn bốn trăm héc ta chè, khởi nguồn từ những anh bộ đội ở chiến trường trở về cuốc đất, vỡ hoang. Hơn mười năm sau, ngày 8.3.1967, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra quyết định thành lập Thị trấn nông trường Trần Phú. Thế là vỏn vẹn ngần ấy năm, một vùng đất hoang vu, rậm rạp mà mọi người vẫn quen gọi là vùng Ba Khe đã trở thành thị trấn đông vui, sầm uất.

Người Bí thư Đảng ủy Trần Phú năm xưa mà tôi còn nhớ, nói một câu chắc nịch: Như một tất yếu, có một vùng nguyên liệu lớn, phải nghĩ đến một ngành công nghiệp chế biến. Được sự giúp đỡ của Liên Xô về công nghệ, thiết bị, chuyên gia, sự nỗ lực rất lớn của nhân dân trong tỉnh, nhà máy chế biến với công suất 43 tấn chè búp tươi một ngày được xây dựng. Và nhà máy được khánh thành đúng ngày 19.5.1975, kỷ niệm 85 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhà máy chè Trần Phú có qui mô, công suất vào loại bậc nhất vùng Đông Nam Á, một cái mốc lịch sử khởi đầu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, cho sự gắn kết giữa nông nghiệp với công nghiệp ngay từ đầu, từ cơ sở. Người giám đốc đầu tiên của nhà máy lớn nhất ngành chè Việt Nam là tiến sỹ Nguyễn Kim Phong. Vợ ông là kỹ sư sinh hóa được đào tạo cùng ông ở Liên Xô, cùng làm việc ở nhà máy này. Chưa từng thấy ai say đắm, tâm huyết với ngành chè như ông. Từ cách nói đến từng cử chỉ đầy tính cách Nga của ông trong buổi mời khách thưởng thức hương vị chè Trần Phú, khiến người nghe ngây ngất, nhận ra tiềm năng to lớn của ngành chè. Cho đến bây giờ, vùng chè của tỉnh đã lên tới 16.000 héc ta và một mạng lưới công nghiệp chế biến có mặt ở khắp các địa bàn từ vùng thấp đến vùng cao. Nhìn qui mô rộng lớn của ngành chè, tôi chợt nghĩ đến công lao mở đường của những người lính từ chiến trường trở về cuốc đất, đến cả vợ chồng ông giám đốc đầu tiên của nhà máy.

Lần này trở lại, xe xuống hết đèo Mỵ là đến thị Trấn nông trường Trần Phú. Phố xá, cửa hàng, cửa hiệu sầm uất. Đường phố, đường làng rải nhựa, thảm bê tông phẳng phiu rộng rãi, xe vào, xe ra nhộn nhịp. Gần 60 năm đi qua, những nương chè vẫn còn đó, đẹp như những bậc thềm xanh dâng lên đến tận đỉnh đồi. Những nương chè bát ngát, mênh mông còn đó, nhưng không mấy ai nhắc đến lịch sử phát triển của cây chè trên vùng đất này. Hẳn không phải ai đó đã lãng quên đi một quá khứ không thể nào quên nhưng có lẽ cây chè đã đi vào cuộc sống hàng ngày của hàng vạn người dân, như cơm ăn, nước uống. Hơn thế nữa phải nhìn về phía trước mà đi tới. Đó là qui luật muôn đời của cuộc sống.

Người ta đang nói nhiều đến vùng cây ăn quả mà trung tâm là Thị trấn nông trường Trần Phú. Từ thị trấn nông trường đến xã Nghĩa Tâm, Thượng Bằng La, Minh An, Bình Thuận bên cạnh đồi chè là những vườn cây ăn quả. Ở đây cam có, quýt có, bưởi có, chanh đào có, nhưng nhiều hơn cả vẫn là cam. Những tháng cuối trên đồi chè đã nảy búp xanh mướt mát, dưới thung lũng và cả ven đồi màu vàng cam của cam, của quýt đang dâng lên dưới nắng thu thật đẹp. Cảnh quan đã thay đổi, đường đã rải nhựa rộng thênh nhưng tôi vẫn còn nhớ và tự tìm đến được nhà ông Nguyễn Chí Thống, ông Nguyễn Văn Thông. Hai cái tên từa tựa như nhau cũng lại có vườn cam ở chân đồi giống như nhau. Ngày ấy ông Thống là gia đình đầu tiên tôi đặt chân đến. Cũng chẳng phải vì lời mời chào, tôi đến vì nhìn thấy vườn cam đẹp. Hình như vào thời điểm muộn hơn bây giờ một chút, cam trong vườn đỏ ối. Vườn không rộng, có khoảng hơn chục cây thôi nhưng quả thì sai lúc lỉu. Sai đến nỗi mỗi cành phải có một cây sào nứa chống lên. Mỗi một cây cam phải cần đến một bó nứa to mới đủ làm cây chống. Từ cái nhìn lạ lẫm ban đầu, khi ông nhận ra tôi không phải anh lái buôn, cũng không phải người có vẻ gì đáng ngần ngại. Ông hái mấy trái cam cầm ở tay, mời tôi vào nhà. Mỗi trái được bổ làm sáu miếng bày lên cái đĩa sứ đầy ụ. Ông đưa cái đĩa cam bằng cả hai tay lên trước mặt: Ông ăn thử xem thế nào. Vỏ cam dày nhưng xốp, múi thì vàng ươm, mọng nước và mềm. Tôi bảo ông: Ăn được, vừa ngọt, vừa rôn rốt chua, đặc trưng của loại cam sành đấy. Tôi đi rất nhiều nơi, nếm nhiều loại cam từ Phú Hộ đến Vinh, đến Bố Hạ... nhưng chưa thấy đâu cam lại sai, quả lại mọng nước ngon ngọt như ở đây. Trong trò chuyện bên đĩa cam, ông đã đoán biết được tôi làm công việc gì bởi ngồi với ông hơi lâu, hỏi ông nhiều điều cặn kẽ. Ông Thống bảo tôi:

- Đây đích thực là đất của cây cam rồi, ông ạ. Làm sao để nơi đây không chỉ là vùng chè mà còn là một vùng cam lớn.

Ông Thống không phải là người bản sứ nhưng đã gắn bó với vùng đất này bao nhiêu năm, dồn vào đây bao công sức, trí lực và cả ước mong mới tìm ra được một cây trồng đích thực và có triển vọng mở ra một vùng sản xuất lớn.

Không biết có phải từ mấy chục cây cam trĩu quả của mấy gia đình ông Thông, ông Thống mà nghe nói ở khu bên kia có mấy cậu thanh niên đang bỏ công, bỏ của ra để xây dựng trang trại trồng cam qui mô lớn hơn nhiều. Vườn cam của ông Thống, ông Thông có ý nghĩa như vườn cây khởi nghiêp.

Bí thư Huyện đoàn Văn Chấn khẳng định với tôi rằng, trong phong trào thanh niên lập nghiệp ở Thị trấn nông trường Trần Phú có nhiều mô hình rất triển vọng. Bí thư Đoàn dẫn tôi đến nhà Nguyễn Quang Kiên ở khu trung tâm hay gọi là khu nông trường bộ. Đến nơi, mấy người hàng xóm nói là Kiên đã vào ở hẳn khu trang trại, căn hộ của bố mẹ Kiên đã bán cho người khác.

- Tuổi trẻ bây giờ say lập nghiệp và táo bạo như thế đấy. Vừa hôm nào nói là sẽ bàn với bố mẹ bán nhà lấy tiền vào khu trong xây dựng trang trại trồng cam. Bây giờ đến cậu ta đã bán nhà rồi.

Chúng tôi phóng xe vào khu trang trại của Kiên. Nơi đây chỉ cách nông trường bộ chưa đầy hai kilômét nhưng là khu đất rậm rạp không mấy ai ngó tới. Kiên thấp, bé nhưng rất nhanh nhẹn và hoạt bát. Thấy có khách Kiên chạy về, mồ hôi ướt đầm lưng áo. Kiên nói với Bí thư Huyện đoàn.

- Từ hôm bán nhà vào đây đã trọn một trăm ngày. Thế là em kè xong toàn bộ khu đất trồng cam. Anh ra xem.

Nguyễn Quang Kiên khoe với Bí thư Đoàn như thế. Thì ra một trăm ngày qua Kiên đã moi tìm tất cả những hòn đá mồ côi vương vãi ở mọi nơi đưa về kè đất thành từng bậc, từng bậc, vì cây ăn quả lâu năm phải thâm canh, chăm bón. Trang trại của Kiên đã có gần bốn trăm cây cam, mấy chục cây hồng Bảo Lương, hơn 100 cây quả khác, Kiên dẫn chúng tôi đi mãi vẫn chưa hết khu trang trại. Anh còn tiếp tục trồng, đến khi định hình không biết sẽ là bao nhiêu gốc cam, gốc quýt. Đấy là mồ hôi, công sức tuổi trẻ thấm đậm vào đất để cây trái bén rễ, nảy mầm, sau năm năm sẽ cho mùa hái quả. Nhưng cái lớn hơn là ý chí và sự táo bạo của tuổi trẻ, anh đã bán sạch nhà cửa, vật dụng, tất tần tật những cái gì có tiền, để đầu tư cho trang trại.

Từ những ngày khởi nghiệp đầu tiên của Nguyễn Quang Kiên, của Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Chí Thống, đến nay đã hơn ba mươi năm. Bây giờ thì vùng ngoài gồm 8 xã, một thị trấn của huyện Văn Chấn đã trở thành một vùng cam có qui mô diện tích và sản lượng lớn mà trung tâm là Thị trấn nông trường Trần Phú. Đến các vựa cam ở Trần Phú bây giờ như gia đình ông Phạm Văn Bằng, Đỗ Văn Bản, Phạm Xuân Thắng... không còn là chuyện khó vì đường nhựa, đường bê tông dẫn đến tận nhà, xóm nào cũng có những hộ gia đình mỗi vụ thu hoạch, xuất bán từ dăm, bảy đến hơn chục tấn quả. Thị trấn nông trường Trần Phú có gần 1000 hộ trồng cam với diện tích gần 420 héc ta mỗi vụ xuất bán trên 3.000 tấn quả. Những vườn cam đã cho thu hoạch đạt từ 10 đến 12 tấn quả một héc ta.

Trở lại vùng cam, chuyện trò với lãnh đạo huyện, được biết Văn Chấn đang triển khai đề án phát triển vùng cây ăn quả có múi 9 xã và thị trấn giai đoạn 2016- 2020 với mục tiêu trồng mới 1.455 héc ta để đưa diện tích cây ăn quả có múi lên 2.500 ha, sản lượng hàng hóa hàng năm đạt từ 15.000 đến 20.000 tấn/ năm, tổng vốn đầu tư cho dự án 335 tỷ đồng. Khởi đầu của dự án là xây dựng trung tâm giống chất lượng cao có qui mô 3.000 mét vuông ở Thị trấn nông trường Trần Phú. Thì ra cái dự án đầy hấp dẫn này lại được khơi dậy từ tình yêu đất đai, sức sáng tạo, ước mơ và cả nỗi nhọc nhằn của những cá thể nông dân như Nguyễn Chí Thông, Nguyễn Quang Kiên, Nguyễn Văn Thông cách đây gần ba mươi năm. Vai trò quan trọng của người lãnh đạo ở đây là biết nắm bắt thực tiễn sinh động từ mỗi cá thể nông dân, biết tổng kết thực tiễn để có chủ trương, chính sách thúc đẩy thực tiễn phát triển nhanh hơn, đúng hơn theo qui luật của kinh tế thị trường.

Cách đây chưa phải đã lâu, cam, quýt Văn Chấn mới bày bán ở chợ Mường Lò, ven quốc lộ 32, 37. Bây giờ cam Văn Chấn đã tràn ra thành phố và đi những đâu nữa theo những chuyến xe ca, xe tải trên đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai. Những năm đầu, không ít người buôn bán ở thành phố, phải mượn tiếng cam sành Lục Yên áp lên cho cam Văn Chấn. Vài năm trở lại đây đã khác xa rồi, cam sành Lục Yên mỗi ngày một vắng bóng, chất lượng không còn giữ được như xưa. Cam Văn Chấn đã kiêu hãnh mang đúng tên mình trên mọi ngõ ngách của thị trường bởi chính chất lượng và sản lượng của nó. Cam Văn Chấn màu sắc đẹp, vỏ dày nhưng xốp, múi vàng mọng nước và mềm có vị ngọt đặm rôn rốt chua. Chất lượng ấy đã đủ sức đánh bạt nhiều loại cam vốn có tiếng ở nơi này nơi khác, vì những loại cam kia vỏ mỏng và dai, múi cũng dai nhiều khi người ăn phải nhả bã. Cam Văn Chấn tự thân đang làm cho mình trở thành nổi tiếng.

Nói chuyện với lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật của huyện, càng hiểu các anh đang rất say sưa với đề án phát triển vùng cây ăn quả có múi, một vùng nông nghiệp hàng hóa lớn, có giá trị cao. Hai mục tiêu ngắn hạn của đề án là xây dựng trung tâm giống cây trồng có chất lượng cao cung cấp cho dân với nhiều loại giống quý và sớm tìm cho cam Văn Chấn một thương hiệu đích thực. Muốn có một vùng sản phẩm chất lượng cao, trước hết phải có giống cây trồng chất lượng cao phù hợp với chất đất, đó là một hướng đi đúng. Nhưng nói đến giống cây trồng ở vùng cây ăn quả này hình như đang có vấn đề khi tôi đến những gia đình có nhiều cam nhất ở đây. Gia đình ông Trần Văn Vàng ở khu 8 được mệnh danh là trung tâm cam của thị trấn nông trường, mỗi vụ có tới chục tấn hàng hóa. Vườn của ông trồng từ cam sành đến cam Đường Canh, cam Sen, gần đây lại đưa cam Valencia vào trồng. Và cũng nghe nói người ta cũng đang muốn đưa cam Vinh, cam V1, V2 gì nữa vào tập đoàn giống cây trồng ở thị trấn Trần Phú. Mỗi loại giống có một chất lượng riêng và có giá trị riêng, chẳng hạn như cam Đường Canh có giá gấp đôi cam sành, cam chanh. Nhưng không vì thế mà biến vùng cam Văn Chấn trở thành một trại thực nghiệm về giống cây ăn quả có múi. Làm như thế rất có thể nó làm cho vùng cây ăn quả có qui mô hàng hóa lớn không còn là vùng hàng hóa lớn có giá trị cao và trở thành vùng sản phẩm hỗn tạp, không còn tiếng tăm ở thị trường. Ta lấy vùng vải thiều Lục Ngạn làm gương. Hãy lựa chọn, giữ lấy bằng được ở đây một, hai giống cam có chất lượng cao để làm thương hiệu cho hàng hóa lớn.

Nhớ, có một lần hỏi một lãnh đạo ở đây là triển vọng khi nào cam Văn Chấn có thương hiệu đích thực và có một chỉ dẫn địa lý cho vùng cam. Tôi nhận được câu trả lời: Văn Chấn đang nỗ lực để trong tương lai gần có được một thương hiệu đích thực cho cam. Về vùng chè, vùng cam có nhiều chuyện lý thú để bàn, để nói. Cái buổi trưa cuối năm ,cam trong vườn đang vàng lên dưới nắng trong câu chuyện bàn về thương hiệu, tự dưng tôi lại thấy thương và tiếc cho cam Văn Chấn. Chỉ dăm bữa, nửa tháng nữa thôi cam Văn Chấn lại được đổ đống, lăn lóc ở nơi cổng chợ, vỉa hè nơi ngã ba, ngã tư đường phố. Người mua lúc nào cũng đông, xúm xít trèo lên bới chọn. Nhìn mà sướng, nhưng lại chạnh lòng thương cho cam, cho những người nông dân đã đổ bao nhiêu mồ hôi, trí lực, tiền của cho cây cam. Thương cho những con người chân chất đáng yêu còn chập chững chưa biết bơi vào biển cả thị trường. Hàng hóa thị trường ăn nhau ở giá trị cao thấp. Giá trị của hàng hóa là lao động được kết tinh trong mỗi sản phẩm hàng hóa đã đành, nhưng còn một thứ giá trị rất lớn được tạo nên trong quá trình lưu thông hàng hóa lại chưa được tính đến. Làm sao lại không phân loại hàng hóa ngay từ gốc, đâu là loại 1, loại 2, loại 3... ;đâu là hàng thải loại; đâu là cam sành, đâu là cam Đường Canh... Thị trường hàng hóa là minh bạch, mỗi loại cam một loại giá, mỗi giống cam một giá. Và cũng làm sao không đóng thùng, đóng gói, làm bao bì cho từng loại hàng hóa. Chao ơi học buôn, học bán là đây; thương hiệu hàng hóa là đây; giá trị hàng hóa cũng lại là đây. Có thể dán cho mỗi quả cam một cái tem mang tên Văn Chấn và cả tên và loại sản phẩm. Chẳng sợ mất công đâu, tất cả đều làm nên giá trị.

Không hiểu sao, tôi lại thích thú bàn thảo về vùng cam Văn Chấn đến thế. Rồi cũng đột nhiên tôi lại nhớ đến chị bán hàng rong trên hè phố Hà Nội. Vào mùa nhãn, chị gánh toòng teng một gánh nhãn lồng Phố Hiến, trên cái mẹt có cái đĩa sứ trên đĩa có mấy quả nhãn được bóc khoanh rất khéo nửa phần vỏ bên trên để lộ ra cùi nhãn trong như ngọc lung linh trong sắc nắng thủ đô. Tôi dõi nhìn theo chị suốt trên dọc phố Hàng Bông. Chả mấy bà, mấy chị bỏ qua được gánh hàng rong của chị. Nhìn các bà, các chị xúm quanh gánh nhãn tôi thầm khen: Chị hàng nhãn kia mới khéo làm sao. Những quả nhãn bóc khoanh nửa vỏ, mát trong như thạch, long lanh như ngọc, ấy là thương hiệu, lời mời chào dành cho nhãn lồng Phố Hiến rồi đấy. Cam Văn Chấn cũng đẹp và ngon lắm chứ, vỏ màu cam, ruột vàng ươm mới nhìn đã thấy ngọt ngon nơi đầu lưỡi.

 

                                                                                           H.Đ 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter