• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Bạn hàng xóm
Ngày xuất bản: 16/06/2017 3:36:34 SA

 Truyện ngắn của Quang Bách

 

      Tôi trở lại xóm Ngầu vào một ngày tháng ba nắng ấm. Con ngõ hẹp chỉ đủ cho hai người đi bộ tránh nhau bây giờ là đường bê tông rộng 3m. Hai bên đường, những ngôi nhà cao tầng sát liền nhau. Nhờ có số nhà theo sự chỉ dẫn qua điện thoại của người quen, tôi mới đến được nhà hàng xóm cũ.

      Ông Lận ngỡ ngàng khi nhận ra tôi. Sau cái bắt tay, cả hai chúng tôi ôm choàng lấy nhau, cái ôm đầy chia sẻ nỗi niềm.

      Ông về ở tại khu tập thể này trước tôi bởi sau khi hết nghĩa vụ quân sự những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước, được nhận vào làm nhân viên thu mua ở nhà máy Đường Rượu. Còn tôi, là rể của nhà máy vì có vợ làm công nhân ở đây. Hôm gia đình tôi chuyển nhà đến làm hàng xóm sát vách với ông, còn được ông ra khuân giúp đồ đạc. Dần dần chúng tôi trở nên thân thiết, tuy nghề nghiệp của tôi và ông khác hẳn nhau. Ông là nhân viên Phòng Nông vụ chuyên đi thu mua mía. Còn tôi là giáo viên cấp I, dạy học cách nhà chưa đầy 2 cây số, sáng đi tối về. Đàn ông ở khu tập thể thì nhiều song chỉ có tôi với ông là bằng vai, phải lứa vì cùng năm sinh, tính nết nhiều điểm tương đồng. Những đêm mùa hạ nóng như rang, như luộc, tôi và ông thường mang ghế ra sân ngồi uống nước chè, chuyện phiếm. Có lẽ tin tôi là thầy giáo nên khi kể chuyện về mình ông không hề dè dặt, ý tứ. Có những chuyện nếu ở cương vị như tôi đem kể với người ruột thịt của mình vẫn còn e ngại thế mà ông kể với tôi cứ hồn nhiên, bình thản như không. Những lần như thế, tôi hoàn toàn thụ động, đóng vai người nghe. Giọng ông đều đều, nhỏ nhẹ nhưng trầm, buồn.

      Lấy vợ 7 năm mà không có con, ngại ngùng về chuyện khám xét nên vợ chồng ông âm thầm chịu đựng. Vợ ông, bà Dền người nhà quê chính gốc. Ông bà nên duyên vợ chồng là do ông xuống Hợp tác xã nông nghiệp quê bà mua mía cho nhà máy. Dần dà ông xin được cho vợ chân dọn dẹp vệ sinh nhà xưởng. Chẳng biết có phải do hơi ngọt mía đường mà bà ngày một béo lên hay không. Nhưng rõ ràng khi còn là cô Dền xã viên Hợp tác xã, 19 tuổi, nặng 42 ki lô gam thế mà chỉ sau mấy năm lấy chồng, trở thành công nhân lại là cô Dền cân nặng đến 56 ki lô. Có điều lấy chồng đã lâu mà chẳng thấy có con. Cánh công nhân cùng ca kíp thường thì thầm to nhỏ, con bé này béo quá có khi bị "điếc" rồi. Mỗi lần nghe được lời xì xèo bàn tán ấy, tâm trạng Dền như có lửa bỏng, dầu sôi.

      Tình cảm yêu thương dành cho vợ của Lận không thiếu. Rửa bát, nấu cơm, quét nhà thậm trí giặt giũ cả quần áo để Dền có điều kiện nghỉ ngơi sau mỗi ca làm việc. Đặc biệt là lời ăn tiếng nói, cách ứng xử trong quan hệ vợ chồng và mọi người trong gia đình nhà vợ, Lận chẳng để mất lòng ai. Bố mẹ vợ tỏ ý hài lòng bởi con gái mình đã tìm được nơi trao thân gửi phận tử tế. Mỗi lần con gái và con rể về thăm nhà, niềm vui của các cụ lại tăng lên gấp bội lần.

      Điều làm Lận khổ tâm nhất là sự bất lực về chức năng đàn ông của mình. Nằm bên vợ thấy thẹn thùng, ngượng ngập. Nhiều đêm mất ngủ bởi thương vợ, giận mình. Nhìn Dền nén lòng chịu đựng sự thèm muốn bản năng để tươi cười với chồng, lòng Lận như có muối sát. Chỉ muốn hò hét, đập phá cho hả dạ. Có những đêm bằng cử chỉ thân thiện, Dền chủ động tạo dựng hiện trường, kiên trì khơi gợi, đánh thức bản năng đàn ông của chồng. Nằm yên giả vờ đang ngủ say, Lận nghe rõ cả tiếng thở dài vô vọng của vợ.

      Nỗi khổ ở nhà đã làm Lận nẫu nà gan ruột. Thế mà đến cơ quan gặp bạn bè đồng nghiệp, người thân tình thì thật lòng tâm sự, chia sẻ nỗi hiếm muộn, kẻ xấu bụng, thích chọc ghẹo thì bê bai, dè bỉu kích động nhằm chia rẽ tình cảm vợ chồng khiến nỗi buồn khổ lại như châm chích vào da thịt. Khổ nhất là mỗi lần về thăm quê nội, quê ngoại. Họ hàng thân thích hai bên ai cũng quan tâm, hỏi han chuyện sinh đẻ. Lận thương nhất bố mình, khi ấy ông cụ đã ngoài 70 tuổi, mòn mỏi đợi chờ có đứa cháu nối dõi tông đường. Nhìn bố, Lận thấy mình đúng là đứa con bất hiếu.

      Tất cả những dày vò, trăn trở thúc ép Lận phải tìm ra được lối thoát.

      Đêm ấy trăng muộn. Sân trước gian tập thể ánh sáng lờ mờ. Đàn muỗi vo ve, thỉnh thoảng lại đốt nhoi nhói vào tay, chân gây ngứa ngáy khó chịu. Trời cao xanh, không một gợn mây. Gió im phắc. Ngột ngạt. Bức bối. Tôi và Lận vẫn uống hết ấm trà nhãn hiệu Hồng Đào, mới được mậu dịch phân phối theo bìa mua hàng.

      - Có chuyện này tôi muốn nhờ ông giúp.

      Giọng Lận ngập ngừng, lưỡng lự. Vòng vo tam quốc một hồi khá lâu, cuối cùng thì mọi chuyện kể của Lận đã đến được với tôi. Người tôi nhồn nhột như có hàng trăm con kiến đang bò, hàng chục con muỗi đang đốt khi giọng Lận trở nên quyết đoán, mạch lạc.

      - Tôi nhờ anh, bằng mọi cách giúp vợ tôi có con.

      Cứ tưởng mình nghe nhầm. Tôi nghiêng tai chạm hẳn vào mặt bạn nói như quát :

      - Hả... ! Anh bảo cái gì...?

      - Bằng- mọi- cách- anh- giúp- vợ- tôi- có- con.

      Tôi sững người, mắt trợn tròn, mồm há hốc. Nếu là ban ngày thì người ngồi đối diện thấy mặt tôi đỏ lừ vì xấu hổ và tức giận. Nhưng sau khi nghe Lận kể hết lý do, đặc biệt là nếu có một đứa con nối dõi thì sẽ cứu sống được bố mình qua khỏi bệnh tật hiểm nghèo, lòng tự trọng của tôi cũng nguôi ngoai dần. Thương Lận nhiều hơn giận và nghĩ rằng cách đề xuất của Lận cũng có lý. Tôi có thể giúp Lận bằng nhiều cách cơ mà.

      Khu tập thể ngày ấy dùng bã mía đun bếp là chủ yếu. Chất đốt này được sử dụng vừa có lợi cho nhà máy, vừa có lợi cho công nhân. Bởi nhà máy giải phóng được một lượng lớn phế thải, còn công nhân không phải bỏ tiền mua củi. Do vậy, cứ chiều thứ bẩy hàng tuần, cổng bảo vệ nhà máy mở cho các gia đình trong khu tập thể vào nơi ép mía, khuân bã về đun bếp. Nhiệm vụ của những người gác cổng rất nặng nề, vừa phải giữ trật tự an ninh, vừa phải quản lý tài sản, thành phẩm của nhà máy. Nhân viên bảo vệ có tên là Chàng được coi là mẫn cán, cánh tay đắc lực của Ban Giám đốc.

      Quy định chung, tất cả mọi người khi đem bã mía qua cổng bảo vệ đều phải dừng lại để kiểm tra. Riêng tôi, mỗi khi vác bó bã mía cồng kềnh trên vai vừa đến đầu cổng đã được Chàng vẫy tay cho đi. Tò mò vì sao mình lại được đặc ân ấy. Một lần đi qua, nhân lúc Chàng ngồi một mình trong phòng bảo vệ, tôi mạnh dạn vào làm quen. Câu chuyện giữa chúng tôi cởi mở, chân tình. Không hiểu sao tự nhiên Chàng lại kể chuyện riêng của mình với tôi như người đã quen biết từ lâu. Được hỏi vì sao tôi không phải dừng lại để kiểm tra khi vác bã mía qua cổng bảo vệ, câu trả lời của Chàng thản nhiên khiến tôi đến ngỡ ngàng "Vì tôi không muốn kiểm tra anh, thế thôi!".

      Tự nhiên tôi thấy Chàng có cái gì đó hay hay. Thế là chúng tôi quen nhau. Những lúc không phải trực bảo vệ, Chàng thường hay đến nhà tôi uống nước chè. Ông Lận hàng xóm liền vách, vì thế mà dễ dàng nhập cuộc. Bộ ba chúng tôi trở nên thân thiết. Những ngày lễ tết, trừ Chàng là hộ độc thân, còn lúc thì gia đình tôi, lúc thì gia đình ông Lận đều có những bữa cơm thân mật mời nhau. Tất nhiên lúc đó vợ tôi hoặc vợ ông Lận phải thủ vai đầu bếp.

      Đêm nào cũng vậy, mỗi khi soạn bài hay chấm bài xong, tôi có thói quen thường dành cho mình một không gian riêng ngay tại bàn làm việc. Ở đây mọi dự định, suy nghĩ, hành động trong cuộc sống, tôi thường suy luận, phán đoán, tính toán đến hiệu quả để quyết định cho mình một hướng đi đúng. Tôi nhớ rất rõ thời điểm ấy, đã có mấy đêm liền tôi đem việc vô cùng tế nhị mà Lận nhờ ra tự bàn luận, đánh giá, cân nhắc để đi đến quyết định cuối cùng, có nên giúp bạn không? tôi tự chia mình ra làm hai con người, một đưa ra giả định, một phản biện lại giả định đó. Giả định thứ nhất: Mình trực tiếp giúp bạn- bị loại trừ ngay, vì tôi tự thấy rằng bình thường mình cũng không có khả năng làm điều đó, huống chi Lận lại là hàng xóm thân tình. Một cái phẩy tay, giả định này không cần mời người phản biện! Giả định thứ hai sẽ nhờ một người khác giúp đỡ Lận. Đây là một việc làm khó, chỉ cần sơ sẩy một chút là sẽ làm ơn nên oán. Gia đình, họ hàng nhà Lận mà biết sẽ không tha cho mình. Thế nhưng nghĩ đến hình ảnh Lận tội nghiệp, thân hình tiều tụy, khuôn mặt đăm chiêu, giọng nói trầm buồn tôi lại không đành lòng. Phản biện ở giả định này đã đưa tôi đến quyết định giúp Lận.

      Nếu không có tôi thì mối quan hệ giữa Dền và Chàng sẽ chẳng bao giờ có. Hoặc nếu có cũng chỉ ở mức độ là người cùng làm việc ở nhà máy. Sự gặp gỡ ngẫu nhiên giữa hai người làm nảy sinh trong tôi ý định thực hiện việc Lận nhờ. Có một lần sau bữa rượu ở nhà Lận, cả ba chúng tôi đều chếnh choáng hơi men. Tôi rủ Lận sang nhà ông Phó Giám đốc ở dãy tập thể bên kia chúc mừng con trai ông ấy hôm sau lên đường nhập ngũ- Buổi chiều bà vợ sang mời tới dự liên hoan bánh kẹo động viên cháu. Chàng không được mời nên ở nhà đùa vui với lũ trẻ nhà tôi. Đêm mùa hạ, ngày 14, trăng vàng nhễ nhại, lênh loang trên nền sân trước nhà tập thể. Dền loay hoay với đống bát đĩa, mâm chậu, áo trễ xuống hở cả vai và vồng ngực nõn nà. Mái tóc đen, dài óng mượt búi không kỹ chảy tràn xuống cổ. Chàng dẫn con bé út nhà tôi đến cạnh phuy nước, múc hộ Dền thêm mấy gáo vào chậu. Cũng vì thế mà tình cảm giữa người đàn ông xa vợ lâu ngày với người đàn bà rất yêu chồng nhưng lại không được chồng bù đắp bằng tình yêu bản năng nảy sinh. Và sau đó là những buổi hẹn hò, những cuộc cho nhận tự nguyện mà không hề gặp một trở lực nào. Tôi biết. Lận cũng đã biết. Nhưng cả hai đều không nói được gì, thậm chí còn cầu mong cho sự việc được êm thấm, có kết quả.

      Tin Dền có thai làm cả họ tộc nhà Lận vui mừng. Bố Lận từ chỗ ốm liệt giường tự nhiên khỏi bệnh, đầu óc minh mẫn, ăn uống, đi lại bình thường như cũ. Ông cụ cười nói vui vẻ, ai đến chơi cũng khoe rằng mình đã có cháu đích tôn, mặc dù chưa biết là trai hay gái. Mấy bà cô, ông chú của Lận thì vui mừng ra mặt vì cả chi họ, hậu duệ cùng đời với Lận chỉ có một mình Lận là trai nay đã giải quyết được nỗi lo tuyệt tự. Mẹ Lận biết tin con dâu có thai, đi bộ mấy chục cây số từ quê lên khu tập thể nhà máy xem có thật không. Khi đã "mục sở thị", bà về xoay xỏa làm chục mâm cỗ, trước kính gia tiên, sau mời bà con nội ngoại đến ăn mừng.

      Tình cảm vợ chồng giữa Lận và Dền mặc dù đã có sự chuẩn bị rất kỹ lưỡng về mặt tâm lý trước khi sự việc có thể gọi là trái với luân thường này xảy ra, thế nhưng cả hai vẫn bị hẫng hụt. Lận cảm thấy tội bất hiếu của mình như ngày một lớn dần lên. Còn Dền lúc nào cũng day dứt vì là kẻ phản bội chồng. Cả hai đã có nhiều đêm cùng thức trắng.

      Dền sinh con trai ở bệnh viện thị xã. Mẹ khỏe, con khỏe nên chỉ 3 ngày sau khi sinh là được xuất viện. Thằng bé nặng 3 cân 7, tóc xanh rì, miệng luôn tóp tép đòi ăn, chân tay cứng cáp trông đáng mặt đàn ông từ bé. Hôm đón nó về, cả nhà vui như tết. Ông bà nội nhờ hai thanh niên trong xóm, khỏe mạnh, có xe đạp tốt đèo lên tận nơi thăm cháu. Ông đặt tên là Lê Văn Được. Và bảo "Thế là được tất cả. Vui lắm. Người khỏe hẳn ra, hết bệnh tật rồi!".

      Vợ chồng Dền Lận quý con như vàng. Cu Được hay ăn chóng lớn. Sáu tháng tuổi đã đi nhà trẻ cơ quan. Buổi sáng ăn bột ở nhà. Trưa mẹ đến nhà trẻ cho ăn. Tối một đĩa bột đầy, chơi đùa chán rồi ngủ khìn khịt với bố. Dền trở nên rảnh rỗi. Ngày nào cũng vậy, sau lúc tan ca đều có một khoảng thời gian dài để nghỉ ngơi. Cơm nước, tẳm rửa, giặt giũ cho con có chồng giúp đỡ. Vì thế, Dền đúng nghĩa với lời khen của mọi người xung quanh "Gái một con trông mòn con mắt".

      Thế rồi cứ mỗi khi hết ca, Dền thường về muộn. Khi thì với lý do bể nước làm lạnh bình ngưng rượu còn ấm nên tranh thủ giặt chiếc áo và đôi giầy, đôi tất bảo hộ. Khi thì bó thêm vác bã mía để chiều thứ bẩy chồng đỡ vất vả... Qua lời nói, cử chỉ, hành động của vợ, Lận đã láng máng nhận ra đó là lý do để Dền có thời gian gần Chàng. Thương vợ và vì sự yên vui hạnh phúc gia đình khiến Lận bỏ qua tất cả. Ngoài công việc cơ quan, về nhà Lận lại càng hết lòng với vợ con. Cứ khoảng vài ba tuần, Lận lại cho thằng Được về thăm ông bà nội. Thằng bé trở thành tài sản vô giá của gia đình, họ tộc. Nhìn bố từ cõi chết trở về Lận càng yên phận làm con.

 Bé Được sắp 26 tháng tuổi thì Dền lại có thai. Tin ấy, vào một đêm, khi vợ chồng con cái nằm chung một giường, Dền đã bình tĩnh nói nhỏ vào tai chồng. Lận nén tiếng thờ dài, xoay người nằm nghiêng, vỗ vào lưng thằng Được khi nó cựa mình. Ngoài sân, trăng thượng tuần soi ánh sáng lờ mờ xuống nền đất gồ ghề. Gió nam nhè nhẹ thổi qua chấn song cửa sổ khiến không khí gian buồng mát dịu, mà sao giấc ngủ không đến nổi với Lận.

Lần sinh nở thứ hai của Dền không thuận lợi. Ngay từ lúc có dấu hiệu chuyển dạ đã được đưa đến bệnh viện thị xã. Song vì thai đôi, hơn nữa Dền lại mắc chứng suy tim lâu ngày mà chưa được phát hiện, chữa trị nên bệnh viện phải vất vả lắm mới được mẹ tròn con vuông sau khi mổ cấp cứu. Cặp song sinh là hai bé gái, mặt mũi sáng sủa, khỏe mạnh. Ông nội đặt tên đứa chị là Hạnh, đứa em là Phúc. Gian nhà tập thể của vợ chồng Dền Lận lại một lần nữa đầy ắp tiếng cười. Họ hàng nội ngoại từ quê đồng loạt lên thăm, người chục trứng gà, người cân gạo ngon... ai cũng hỷ hả vì gia đình, họ tộc thêm con, thêm cháu, có nếp, có tẻ. Các bạn cùng xưởng, cùng phòng của bố mẹ hai cháu người này cân đường, người kia hộp sữa thân ái chúc mừng. Công đoàn nhà máy dành một suất trợ cấp khó khăn cho mẹ các cháu. Thế nhưng những lời chúc mừng, những món quà chân tình ấy chỉ đến được với các cháu sau những ngày tháng mới sinh. Tiếp theo là nỗi cực nhọc, vất vả của vợ chồng Dền Lận trong một gia đình công nhân đông con thời bao cấp. Nhà liền vách nhau, nhìn Lận cứ sáng sớm gò lưng bên chậu tã lót, áo quần, nhìn Dền tất tả, vội vàng cháo bột cho con và nhất là những tiếng khóc hờn dai dẳng của trẻ nhỏ, tôi thực sự chạnh lòng, và ái ngại với hoàn cảnh của họ.

Không biết có phải vì quá vất vả hay vì suy nghĩ nhiều mà bệnh tim của Dền ngày một tăng. Sức khỏe giảm sút nhanh chóng. Nhiều lúc ngất lịm, mặt mày tím tái nếu không có sự hỗ trợ kịp thời của mọi người xung quanh thì đã rất nguy hiểm. Nhiều lần đi khám bệnh, bác sỹ khuyên cần có thời gian nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, ăn uống đủ chất để đảm bảo sức khỏe. Thế nhưng hoàn cảnh gia đình như vậy đáp ứng làm sao nổi. Lận buồn. Dền buồn. Chỉ còn cách là dồn tất cả tâm trí, sức lực cho việc nuôi nấng con cái, cố giữ cho nhịp sống bình yên của gia đình.

Khó khăn chồng chất khó khăn. Cùng lúc nhà máy Đường Rượu phải giải thể vì làm ăn thua lỗ. Cán bộ, công nhân được bố trí nghỉ hưu, nghỉ mất sức, hoặc hưởng chế độ thôi việc một lần tùy theo số năm tham gia công tác. Dền Lận cũng như vợ tôi chỉ xếp vào diện hưởng trợ cấp thôi việc một lần. Số tiền ít ỏi đó đủ sống cho vợ chồng con cái trong thời gian không lâu. Cũng may, gian nhà tập thể theo chủ trương chung thì mọi người vẫn được sử dụng cho đến khi có quyết định thanh lý.

Thời điểm ấy Lận và tôi càng trở nên thân thiết, gắn bó chia sẻ với nhau. Riêng Chàng thì đã cao chạy xa bay, trôi dạt về phương nào không ai hay biết. Vợ tôi và Dền rủ nhau đi các nơi mua rau, mua cá về bán ở chợ thị xã. Thời buổi khó khăn, lời lãi nhỏ nhoi, nhưng không thế thì chả biết làm gì. Lận cùng mấy người có sức khỏe thành lập đội đào đất thuê. Chỗ nào có việc là làm. Vất vả, cực nhọc gắng chịu, miễn sao có tiền nuôi sống vợ con. Người xưa có câu "Tối lửa tắt đèn có nhau" song giữa tôi và Lận còn hơn thế. Bởi vì chúng tôi có sự đồng cảm, đồng tình trên cả mức bình thường. Tôi có thu nhập ổn định, cộng với tiền chạy chợ hàng ngày của vợ nên đời sống gia đình không mấy khó khăn. Có chút ít dư dật, vợ chồng tôi đều dành giúp đỡ gia đình Lận Dền. Hiểu được tình cảm chân thành ấy nên mối quan hệ giữa hai nhà càng thêm thân thiết. Cứ tưởng khó khăn đắp đổi qua ngày rồi mọi việc sẽ trở nên ổn thỏa, ai ngờ Dền lại đột ngột qua đời sau cơn đau tim dữ dội. Cảnh gà trống nuôi con, Lận âm thầm vượt hết khó khăn này đến khó khăn khác. Sự trợ giúp của nội ngoại hai bên hầu như không có gì bởi ông bà nội ngoại của các cháu đều đã qua đời, anh em mỗi người mỗi phận nên chẳng nhờ vả được ai. Thế nhưng ở đời vẫn còn lẽ công bằng. Trời phú, ba đứa trẻ Lận nuôi hình như rất ít khi váng đầu sổ mũi. Ăn ngủ lăn lóc như bí như khoai mà cứ lớn, cứ khỏe.

Sau chiến tranh Biên giới năm 1979, cháu Được học lớp 6, cháu Hạnh, cháu Phúc học lớp 3 thì tôi có quyết định chuyển về quê dạy học. Gian tập thể của gia đình được giao cho một công nhân độc thân hiện đang ở một gian ngăn đôi với bạn.

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, cả hai lần chuyển đến, chuyển đi của gia đình tôi đều có sự khuân vác đồ đạc giúp của Lận. Tôi nhớ rất rõ, khi xe ô tô tải chuyển bánh, tôi và Lận, người trên xe, người dưới đất còn nắm chặt tay nhau. Cả hai nước mắt nhạt nhòa.

Thời gian trôi nhanh. Mới đấy mà đã gần 40 năm xa cách. Ngồi cùng Lận trên mảnh đất thấm đẫm một thời gian khó tôi càng hiểu thêm ý nghĩa của thuyết nhân quả. Người gieo hạt nào thì sẽ được cây và quả ấy. Lận ngày xưa gian nan vất vả, bây giờ thành ông Lận, cụ Lận an nhàn sung túc. Tóc râu bạc trắng. Ở tuổi ngoài 70 mà mỗi khi nói cười hai hàm răng còn đều rưng rức. Dáng đi nhanh nhẹn, khỏe mạnh. Ai cũng bảo ba đứa con ông có hiếu. Thành đạt, giàu có mà vẫn không quên công lao nuôi dạy của bố, không quên khu tập thể xóm Ngầu, nơi mình đã sinh ra, lớn lên trong vòng tay nhân ái của mọi người. Tết nào ba người con của ông Lận cũng đưa cả gia đình về ăn tết với bố. Anh Được là Giám đốc Lâm trường, chị Hạnh cán bộ Ngân hàng, chị Phúc giáo viên cấp III, theo ông Lận kể, lần nào về nhà cũng hỏi thăm vợ chồng tôi.

Sáng ấy khi tôi và ông Lận đang ngồi bên ấm trà nói chuyện về thời bao cấp thì có 3 cụ trong Chi hội Người cao tuổi phố đến báo cáo với Chi hội trưởng Lê Văn Lận số tiền vận động ủng hộ bà Nhi mắc bệnh ung thư. Một cụ nói với tôi "Không có ông Lận đứng ra tổ chức quyên góp thì chắc gì bà Nhi tứ cố vô thân mắc bệnh ung thư còn sống được đến hôm nay".

Câu nói của người khách không quen biết khiến tôi càng thêm kính trọng, khâm phục lòng nhân ái đã đồng hành từ thời trai trẻ đến lúc tuổi cao, sức yếu của người hàng xóm đồng tuế với mình.

 

                                                                                           Tháng 5 năm 2017       

                                                                                     Q.B

 

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter