• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Nam Cường tìm về Văn hóa
Ngày xuất bản: 23/11/2018 2:03:47 SA

 

Ký của Hà Lâm Kỳ

 

   Những năm 80 thế kỷ trước, ai có dịp đặt chân đến xã Nam Cường (thị xã Yên Bái), cảm giác như lạc vào “Cánh đồng hoang”. Một xã ven thị, đơn độc, nghèo xác. Ngày nắng đã phải lội vào làng, còn mùa mưa dông, sông Hồng dâng, nước ứ đọng bốn mặt đường đều trở thành đồng chiêm trũng. Nông dân thu được cân lúa về sân kho là cả một sức lực chạy đua cùng trời đất.

   Lui về trước đó, chiến tranh phá hoại, Nam Cường nằm trong mục tiêu quân sự, tan hoang dưới đạn bom giặc Mỹ. Dân sơ tán đi các ngả chỉ còn cán bộ xã và dân, kiên cường quân bám trụ phục vụ chiến đấu bảo vệ sân bay, nhà ga, thị xã. Chú rể tôi, ông Hoàng Văn Thuận, cán bộ Ban Tuyên huấn tỉnh và là tự vệ cơ quan cũng hy sinh trong trận bom bi ngày 7 tháng 7 năm 1967. Địa bàn Nam Cường ngày chưa chia tách, chỉ riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, có đến cả trăm chiến sĩ tự vệ và người dân anh dũng ngã xuống. Xã Nam Cường được Đảng, Nhà nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Lễ thả chim câu cầu bình an tại lễ hội đền Mẫu phường Nam Cường

   Đạn bom qua đi, lụt lội kéo dài. Nam Cường cái nghèo cái khó đeo bám như không thể bứt lên được. Làn gió đổi mới đến. Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XV (ngày 6 tháng 3 năm 1991) được xem như khởi động tư duy đột phá “Phát động quần chúng nêu cao ý chí tự lực tự cường” trên các phương diện có thể. Đảng bộ xã day dứt trước những lá phiếu của Đảng viên và sự tín nhiệm của nhân dân. Đường hướng cho kinh tế đã được phác họa, cho an ninh cũng được bàn thảo đến. Nhưng với Bí thư Đảng ủy Đỗ Ngọc Lân, đêm đêm vắt tay lên trán, liệu Văn hóa có là mắt xích để toàn dân đồng lòng khởi động đổi mới? Ý tưởng khác lạ “Nam Cường tìm về cội nguồn Văn hóa” như một sự thôi thúc khác thường đối với vị Bí thư kiêm Chủ tịch xã. Đảng ủy và tập thể lãnh đạo trăn trở, bàn luận, để rồi người dân dần nhận thức ra, đồng lòng.

   Người Nam Cường có quê gốc từ Giao Thủy và Xuân Trường tỉnh Nam Định. Nhóm cư dân lang bạt kỳ hồ lên tụ cư ở làng Cường Lỗ, tiến cử tá điền Phạm Khắc Vinh đầu đơn lên Chánh sứ xin lập xã. Thấy hợp với chính sách “di cư doanh điền” của Toàn quyền Đông Dương, chính quyền thực dân khuyến khích. Cường Lỗ hợp được ba mươi tư hộ. Năm 1916, xã Nam Cường ra đời, và tá điền Phạm Khắc Vinh- một thủ chiêu phong trào Cần Vương Tây Bắc do Hiệp thống quân vụ Đại thần Nguyễn Quang Bích lãnh đạo, được suy tôn đứng đầu “Nam Cường xã, Trấn Yên phủ”. Nhưng chỉ năm sau, cụ Phạm Khắc Vinh qua đời ở tuổi 76. Tri ân, Hội đồng hương lý Nam Cường cho lập ban thờ cụ Phạm Khắc Vinh và tôn cụ làm Thần hoàng làng. Năm 1933, dân cư xây dựng đền Mẫu, Hương lý về Phủ Dầy xin chân nhang Liễu Hạnh, đặt bài vị xin thờ vọng. Trước đấy, ngày cư dân Nam Định đặt chân lên Cường Lỗ, đã có các hộ phật tử làm nghề buôn bán sơn tràng, lập Am cầu may. Khi Nam Cường được thành lập, Am được các Phật tử tu đắp thành chùa nhỏ, mong an lành làng ấp nơi rừng thiêng suối độc. Chùa Nam Cường có từ đó.

   Đình, đền, chùa Nam Định hiện hữu trên đất Yên Bái từ rất sớm (trước năm 1933), và đều do bàn tay ông cha- những bần cố nông tha hương tụ cư lập ra, để rồi làm nên một Nam Cường hôm nay, cớ gì hậu sinh lãng quên? Bí thư Đỗ Ngọc Lân và Đảng ủy xã quyết định đặt ra chủ trương khôi phục các di tích văn hóa tâm linh trong bối cảnh chưa phải các cấp, các ngành quản lý đồng tình. Một “Hội nghị Diên hồng” trong xã được tổ chức, và chính tiếng nói “Diên hồng” Nam Cường ấy, trở thành chỗ dựa cho sự hình thành bước đi tìm về văn hóa cội nguồn, làm động lực cho bước bứt phá đi lên của Nam Cường.

   Nam Cường sớm đến với cách mạng. Ngày 16 tháng 8 năm 1945 “Đội thanh niên cách mạng” được thành lập do Ngô Triệu Huy làm đội trưởng. Đội làm nhiệm vụ tuyên truyền vận động, thuyết phục hào lý ủng hộ Việt Minh. Lý trưởng Ngô Văn Điều cùng kỳ hào lý dịch nhận ra chính sách mà ngả theo Việt Minh. Từ đây, Nam Cường trở thành chỗ dựa tin cậy của kháng chiến. Năm 1951 Đại hội lần thứ II Đảng bộ tỉnh Yên Bái diễn ra tại Nam Cường với sự bảo vệ của những người dân. Năm 1952-1954 các lớp bình dân học vụ “diệt giặc dốt” của tỉnh cũng mở ở Nam Cường. Thành viên lớp học ngày ấy, nhiều người trở thành nổi tiếng như Giáo sư, Bác sĩ, Anh hùng Lao động Nguyễn Tài Thu, Kỹ sư Anh hùng Lao động Nguyễn Hải Thoại. Mạch nguồn hiếu học đó được nuôi dưỡng để hôm nay Nam Cường có hàng chục Cử nhân, Thạc sĩ, có ba Tiến sĩ, một Phó Giáo sư.

   Một Nam Cường tự hào như vậy, khi người dân hiểu rõ, họ trở nên tự tin tự trọng. Những ý kiến trái ngược trong quan niệm, trong nhận thức giữa lớp cao niên với lớp trẻ, người dân chân đất với cán bộ hưu trí; thậm chí, lãnh đạo cấp trên với lãnh đạo địa phương, dần được tháo gỡ. Thế là một cuộc vận động hoàn lại hiện vật Đình, Đền, Chùa có ghi nhận công sức sưu tầm gìn giữ trong chiến tranh, được nhân dân đồng tình, tự nguyện, hiến tặng. Dân xã cũng ủng hộ việc dỡ nhà kho hợp tác, trả lại toàn bộ khung nhà nguyên bản đình làng xưa thờ Thần hoàng Phạm Khắc Vinh làm vật thể di sản. Rồi một chủ trương lớn: Nhà dân góp phần hiến đất, quy hoạch, xây dựng Nghĩa trang liệt sĩ, Trường học, Đình, Đền, Chùa và khuôn viên hồ nước... Với ý tưởng tạo nên một quần thể thiết chế văn hóa tâm linh và sinh thái cổ- kim, giành cho mọi người dân hướng tới một địa chỉ du lịch toàn cảnh ở khu vực đô thị- ngoại ô thành phố.

   Dưới tán cây cổ thụ góc chùa, chị Đoàn Thị Oanh, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường Nam Cường hào hứng kể chuyện. Người phụ nữ tứ tuần có tiếng giỏi giang và ưa nhìn, mỉm cười:

   - Còn nữa anh ạ. Ngày ấy (1991) Bí thư “em” nói ra miệng: “Tôi mơ ước, người dân Nam Cường mặc áo trắng làm kinh tế!”. Bí thư nói vui, không mấy ai hiểu. Nhưng chỉ đến nhiệm kỳ sau, chủ trương đột phá về phát triển kinh tế và an ninh xã hội của Nam Cường được Đại hội XVI (tháng 11 năm 1993) biểu quyết với quyết tâm rất cao.

   Nam Cường không có lợi thế về tài nguyên và thương mại. Đất đai chuyển giao dần cho các phường vừa lập và khu quân sự. Sản xuất độc canh chỉ đủ ăn. Một hướng du lịch mới được “bung” ra: Sản xuất gạch ngói, nung vôi, xưởng mộc, máy xay xát, máy cày đồng... Ngoài ra tận dụng diện tích chằm lày nuôi cá; diện tích hoang lẻ trồng khoai tây, và diện tích đồi trọc, trồng cây bột giấy... Một vùng sản xuất và dịch vụ được hoàn thành. Các công ty thu mua sản phẩm tìm đến. Lấy ngắn nuôi dài. Người dân có việc làm thêm yên tâm, tin tưởng. An ninh ổn định. Đường liên thôn xóm được mở rộng chờ cấp phối. Lãnh đạo xã tự tin, bàn tính chủ trương tự mình “ngói hóa Nam Cường”. Những năm 90, ngoại thị, Nam Cường “vượt rào” cơ chế quản lý, được xem như điển hình của tự thân vận động, để đến hôm nay, toàn phường, người dân no đủ, có phần dư dả.

   Tháng 7 năm 1997, Đài bia liệt sĩ, một công trình tri ân bậc nhất thị xã được khánh thành trước sự mãn nguyện của người dân. Khi Nam Cường chủ động tạo được đà phát triển kinh tế, cũng là lúc các thiết chế tâm linh lần lượt được đặt móng xây mới theo quy hoạch thay thế “nhà” tạm xưa. Đình, Đền, Chùa ở Nam Cường giờ đây đã là Di tích lịch sử Văn hóa cấp tỉnh và là điểm đến cho khách viếng thăm. Với các thế hệ hậu duệ Thần hoàng Phạm Khắc Vinh, và các Phật tử, thì quần thể văn hóa tâm linh: Đài liệt sĩ- Đình- Đền- Chùa, là cụm thiết chế tín ngưỡng khép kín an bình, tĩnh tâm, và suy ngẫm hiếm có trong lòng một thị xã tỉnh lỵ miền núi.

   Chợt thấy tôi như có ý muốn rõ hơn, chị Đoàn Thị Oanh dừng chân dưới thềm Nghĩa trang Liệt sĩ, ngoảnh lại.

   - Anh thấy không, dưới chân mỗi tấm bia mộ là một gốc mẫu đơn đại đóa, ý niệm vong linh các liệt sĩ luôn được ở bên người mẹ thân yêu, là của Bí thư Lân.

   Tôi khẽ gật đầu, nhẹ bước. Rồi như thuận miệng, chị Oanh nói tiếp:

   - Còn việc thả đôi chim bồ câu đẹp nhất về hướng Nam trong Lễ hội hạ điền đầu xuân, vừa mang hàm ý cầu an (phóng sinh), vừa là thông điệp tâm lý, chim sẽ bay về quê hương Nam Định xa xôi, thay lời nhắn nhủ...

   Tôi buột lời:

   - Tìm về cội nguồn văn hóa để giáo dục thế hệ là đây, chứ đâu cứ phải là những đại lễ to tát ồn ào?

   Chị Oanh dường như đồng tình, vừa nhẹ bước, vừa dịu lời:

   - Với phường Nam Cường, còn nhiều việc làm hay anh ạ. Bây giờ không một người dân nào phát ngôn trái ngược nữa rồi. Vì họ thấy đúng, họ thấy cần và cùng nhau hưởng lợi.

   Trầm ngâm giây lát, giọng chị Oanh nhẹ nhàng:

   - Con đường vào phường đã mang tên cụ Phạm Khắc Vinh như một sự ghi ơn. Lễ hội đua thuyền đầu xuân trên hồ xã, là nhằm nhắc nhở con cháu luôn nhớ về vùng quê sông nước Nam Định. Những câu đối ở nghĩa trang, ở trường học, ở cửa Đền, cổng Chùa... có lẽ, con cháu Nam Cường dù có đi xa những đâu, chắc cũng không quên Nam Định, Yên Bái; quê hương thứ nhất thứ hai, nơi đầy ắp ký ức về thế hệ ông bà và cha mẹ mình. Em tin như thế!

   Tôi dường như bị thuyết phục hoàn toàn, chỉ biết khẽ gật đầu, bắt tay vị nữ Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường mà lòng cảm phục người dân, cảm phục lớp cán bộ lãnh đạo tiền nhiệm, kế nhiệm, họ đã làm được những điều tưởng như không thể: “Người dân, mặc áo trắng làm kinh tế”, một quyết đoán đón đầu cuộc cách mạng bốn chấm không (4.0), ý tưởng lạ lùng ở Nam Cường từ hai mươi lăm năm trước.

 

                                                                                      

                                                                                                       H.L.K

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter