• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Những ngày ở chiến trường Sầm Nưa
Ngày xuất bản: 11/08/2017 10:43:54 SA

Hồi ký của Trần Cao Đàm

 Hồi ấy, trong không khí sôi sục, miền Nam tổng tiến công và nổi dạy khắp các tỉnh, thành phố, đơn vị tân binh chúng tôi cũng náo nức từ biệt đất Mộc Châu, tỉnh Sơn La về xuôi, ra tiền tuyến. Đó là ngày 1 tháng 2 năm 1968. Hành quân ra đi, chúng tôi chắc mẩm chuyến này được vào Nam chiến đấu. Nhưng rồi vào đến Thanh Hóa chúng tôi ngờ ngợ, thấy đổi hướng hành quân lên miền Tây. Nhìn bên đường, tôi thấy con số 217. Hóa ra đơn vị theo đường 217 sang Lào. Đó là ngày 2 tháng 2. Hành quân suốt đêm, đến sáng ngày 3 tháng 2 chúng tôi nghỉ lại sát biên giới Việt- Lào. Nói là nghỉ, chúng tôi vẫn tập họp nghe Đại đội trưởng Nguyễn Việt Dũng phổ biến, đại ý: Đơn vị chúng ta chuẩn bị sang chiến trường Lào, bổ sung cho đơn vị bộ đội tình nguyện bên đó…

Nghe vậy, một đồng chí xin hỏi:

- Thưa thủ trưởng, vào đơn vị tình nguyện có phải làm đơn đăng ký không ạ?

Thủ trưởng Nguyễn Việt Dũng vui vẻ giải thích: Tình nguyện ở đây là Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta tình nguyện giúp bạn. Thực ra là sự giúp nhau này có đi có lại, ta giúp bạn, bạn giúp ta khi cần. Hơn nữa, ta giúp bạn cũng là mình chiến đấu bảo vệ quê hương, cùng đánh kẻ thù chung…

Sau cuộc gặp ấy, chúng tôi bắt tay vào chuẩn bị. Ai có tiền, có ảnh, thư từ, tài liệu gì của Việt Nam phải gửi hết về gia đình qua quân bưu. Các mũ cứng, mũ mềm, sao cài mũ đều nộp lại cho hậu cần, rồi nhận mũ mới. Tất cả thực hiện ngay. Thế là từ đấy tôi được phát cái mũ mềm, có lưỡi chai cứng bằng da đen. Đồng chí cán bộ hậu cần giải thích: “Đây là mũ của chiến sĩ Pa Thét Lào”.

Đúng vào chiều ngày thành lập Đảng 3/2/1968 ấy, đơn vị tân binh Nghĩa Lộ chúng tôi vượt biên giới Na Mèo vào đất Sầm Nưa của nước bạn Lào. Xe đi trong đêm còn phủ kín bạt như xe chở hàng để giữ bí mật. Ngồi trong xe tải kín mít chúng tôi còn được lệnh “Không được hát hò, nói năng”. Chúng tôi nghĩ, thế chắc hé bạt nhìn ra được, chúng tôi kéo khe bạt nhìn ra xem đất nước Lào có gì khác Việt Nam. Trời tối, bạt chỉ hé mở, đường lại gập ghềnh làm xe chồm lắc, chẳng anh nào nhìn thấy gì. Cho đến nửa đêm, xe dừng lại ở một bãi bằng, hỏi ra mới biết: Đây là vùng đất thuộc Na Cay của vùng giải phóng Sầm Nưa, có cơ quan trung ương bạn đóng, có Đài phát thanh Pa Thét Lào… Háo hức chúng tôi nhìn xung quanh quan sát xem đất nước Lào thế nào, nhưng chỉ thấy điệp trùng rừng núi, cây cối um tùm.

Bãi bằng ấy đã là đích đơn vị đưa chúng tôi đến. Từ đấy, chúng tôi hành quân bộ trong đêm, theo lối mòn quanh co, cứ tun hút xuống dốc. Gần sáng chúng tôi đến một khe suối nhỏ, hai bên suối là lán trại của một đơn vị đến trước, chỉ còn lại lán, sàn nằm làm bằng tre nứa. Đơn vị tôi ít người hơn nên mỗi tiểu đội có thể ở trong hai lán. Thao trường cũng có sẵn, thế là hằng ngày chúng tôi học lăn lê, bò toài, lúc nghỉ lại được phổ biến một số phong tục cần thiết của người Lào. Nào là vào nhà phải chào con gái trước, rồi mới chào phụ nữ có tuổi, cuối cùng mới chào đàn ông. Có cắt tóc giúp người Lào thì không được sờ tay vào đầu… Chúng tôi còn được lệnh đi xa doanh trại để lấy giang. Quanh nơi ở cũng có giang nhưng không được chặt, làm lộ nơi đóng quân. Lấy được giang, tối ngồi nghỉ lại chẻ lạt. Lạt vừa mỏng vừa mềm như lạt gói bánh chưng. Lạt ấy rồi chúng tôi bện lại thành sợi chạc to bằng ngón chân cái, bện dài tới hai chục sải tay. Sợi chạc ấy được buộc một đầu vào mỏm đá cao nhất trên đỉnh núi, đầu kia buông theo vách đá. Chúng tôi chuyển sang tập bám vào dây chạc mà leo. Lúc đầu còn leo người không. Khi leo được thì bắt đầu đeo thêm ba lô nặng, rồi súng đạn… Chúng tôi tập leo núi đá để chuẩn bị tham gia giải phóng Pa Thí. Kỳ công tập luyện là vậy, rồi một số chiến sĩ và tôi về Tiểu đoàn 927, một số về Tiểu đoàn 923, còn lại thì về tiểu đoàn 4. Đến khi đánh Pa Thí lại do đặc công của quân khu và quân chủ lực đánh, đơn vi tôi chỉ làm nhiệm vụ vận tải, hoặc đi đón lõng địch chạy.

Pa Thí kiên cố, hiểm trở trên núi đá vách đứng mà bộ đội ta đánh gọn, nhanh chóng trong một lúc buổi tối. Từ đấy, tiểu đoàn 927 tôi vào sau Pa Thí giữ đất. Thời gian này chúng tôi đã thường xuyên gặp bản Lào, dân Lào. Nào là Lào Sủng, bên ta gọi là người Mèo. Nào người Lào Lum, giống như người Thái bên ta. Tôi biết ít tiếng Thái nên nói chuyện được với dân. Nào người Lào Thâng, giống như người Khơ Mú…

Qua bản Chè Vèn dưới chân Pa Thí, biết đây là những nhà có người đi phỉ, mà mọi người vẫn kéo ra đầu bản chào đón chúng tôi. Một ông già bước lên đầu hàng niềm nở đưa tay ra bắt, miệng chào “Xăm bai” (mạnh khỏe). Trong những người dân có một người con gái cao khỏe, mặt trái xoan, da trắng hồng, mắt đen lay láy, xinh xắn. Đồng chí tiểu đội trưởng bảo đó là vợ Đại đội trưởng sa tu (phỉ). Lò Văn Đành ghé vào tai tôi hỏi nhỏ: “Tưởng phỉ, địch phải xấu mà sao vợ phỉ đẹp thế?”. Vào bộ đội, xa quê, cứ theo từng bước hành quân chúng tôi vỡ vạc ra, nâng tầm hiểu biết, dạn dày lên.

*

Những ngày ở Na Cay tôi đã yêu mến, quý người Lào. Đêm trước khi về Tiểu đoàn 927, cán bộ, dân Lào đã gặp, tổ chức lễ buộc chỉ cổ tay. Theo phong tục, chúng tôi được lệnh đốt đống lửa giữa bãi bằng, rồi tập trung quây quần. Anh chị em người Lào thân tình, tay bắt mặt mừng như gặp người thân thiết. Trong bập bùng ánh lửa, lửa ấm lòng người, các bạn Lào làm lễ buộc chỉ cổ tay. Cứ thế từng chiến sĩ được bạn buộc cho vòng chỉ vào cổ tay, tôi được biết đó là thủ tục kết nghĩa anh em. Từ đấy tôi đã cảm thấy trách nhiệm, tình cảm gắn bó. Tiếp đến là cuộc múa lăm vông. Trong tiếng nhạc rộn rã, tiếng hát tình người, tiếng nói cười rộn rã mọi người bước theo nhịp trống, đôi tay xòe ra như đón nhau, múa quay, nhún nhảy. Dù lạ lẫm chúng tôi cũng giậm giật chân tay. Rồi từng cô gái trẻ, duyên dáng bước tới, mời ra múa lăm vông. Một cô bạn Lào mặt trắng tròn đưa bàn tay xòe trước ngực, duyên dáng cúi chào, vừa như mời lập đôi cùng múa đến đứng trước mặt. Tôi tỏ ra lúng túng, ngỡ ngàng vì mới lần đầu thấy, đã tập múa bao giờ. Anh Là, quản lý của đơn vị, người đã từng sang Lào thấy vậy, nhắc tôi: “Cứ vào! Cốt ở nhiệt tình cho bạn vui lòng, rồi cứ nhìn chân, nhìn tay mọi người mà múa theo”. Thế là tôi hăng hái vào đôi với cô bạn Lào. Mải nhìn, để ý học, có lúc tôi va vào bạn gái, có lúc cộc cả đầu vào nhau, cô gái Lào mới gặp chỉ cười, thân tình, thông cảm. Cứ thế tình cảm của tôi với người Lào cứ hiểu dần, tăng dần. Cũng thấy bạn có tình cảm, có nét văn hóa rất đẹp, dễ gần gũi, thân thiết.

Nhưng rồi, do chiến tranh, địch lấn chiếm, bom đạn tình cảm ấy còn đến cả trong thử thách, tàn khốc, cũng rất đáng nhớ.

Hôm ấy là ngày 1/4/1969, tức là sau khi tôi sang Lào chiến đấu hơn một năm, tôi đã về bộ phận chính trị của tiểu đoàn. Đơn vị thì mới trải qua cuộc chiến đấu ác liệt dài ngày, phải chịu thiếu thốn, đói rách trong vòng vây của địch 23 ngày dòng dã. Trong hoàn cảnh như vậy, địch đông hơn ta trên mười lần. Vì vậy, bị thất bại, trước khi rút chúng đã đưa máy bay trực thăng “bốc” một số bản. Nhiều bản không còn dân, trong đó có bản Huổi Na, nơi bên suối, đơn vị tôi thường qua. Có lẽ chọn tôi trước khi nhập ngũ là phóng viên của Đài Truyền thanh tỉnh Nghĩa Lộ, chính trị viên Tiểu đoàn Nguyễn Quang Thước gọi tôi, trao nhiệm vụ: “Đồng chí vào bản Huổi Na, xếp dọn lại nhà cửa cho dân, cả bảo vệ không để cho ai vào lục lọi. Anh còn giải thích: “Dân bị địch bốc đi, nhưng ta sẽ giải phóng Tòng Khọ, rồi dân sẽ về. Ta phải giữ gìn tài sản, nhà cửa cho dân”.

Mới có mấy tháng xa trở lại bản Huổi Na mà tình cảnh thật khác lạ đến đau lòng. Bản vắng, không một bóng người. Cảnh nhộn nhịp, tiếng người nói, tiếng trẻ, tiếng cối giã gạo, tiếng nia sảy gạo ngày nào đã đâu hết cả. Tôi nao nao nhớ đến ông Nai bản (trưởng bản) có cô con gái xinh tươi, vừa tuổi trưởng thành, mấy lần đã vào, đã gặp. Có lần ông còn nhìn con gái, nói với tôi: “Tha hán (bộ đội) à, xa nhà sao không chơi con gái cho vui?”. Tôi biết người Lào Lum quan niệm về quan hệ nam nữ khá thoải mái, không ý tứ giữ gìn như người mình. Dân ở đây cho người con gái nào quan hệ với nhiều bạn trai mới là người tốt, người đẹp, được nhiều trai thích. Vì vậy đơn vị luôn nhắc nhở anh em chiến sĩ giữ gìn. Nghe ông nói vậy, tôi trả lời: “Cháu ở đơn vị, đông anh em, vui lắm rồi”. Ông lắc đầu: “Vui với con trai khác…”. Bây giờ chắc gia đình ông đang ở Tòng Khọ, nơi hang ổ địch núi cao hiểm trở. Liệu gia đình ông có còn đoàn tụ đầy đủ? Tôi lên nhà ông giờ này vắng tanh, chăn đệm, áo quần bừa bãi khắp sàn nhà. Nhớ đến nhiệm vụ, tôi gập lại áo quần. Tôi gấp lại chăn, xếp gọn lại. Chợt tôi thấy tiếng lợn kéo về ủn ỉn. Hóa ra có tiếng động của người về, lũ lợn đói lâu ngày thi nhau kéo về đòi ăn. Con nào cũng gầy còm, có con đi xiêu vẹo, kéo về đầy dưới gầm sàn, rối rít đòi ăn. Rồi những con chó, mõm cặp mẩu xương lợn chết cũng về… Thế là trong nhà, thấy có gạo, có cám là tôi nấu lên, rồi vãi tung ra sân cho chúng tới tấp nhặt…

Khoảng một tháng sau, hôm ấy là 1/ 5/ 1969, 3 đồng chí là Quế, Đảng, Tông đi tuần tra khá xa, gặp dân trong rừng. Hóa ra đó là dân bản Huổi Non. Bản này địch cũng định “bốc” dân đi. Dân đã tìm cách chống để ở lại bản. Nhà nhà trong bản đã ngán cảnh sống quanh đồn địch. Hằng ngày sống trong cảnh luôn bị xa tu (lính phỉ) dùng súng hăm dọa, sống o ép. Nhà nào có con gái lớn thì đêm đêm cả lũ lính mặc đồ đen xông vào tìm bắt. Nhà thương con, tìm cách giấu đi thì chúng lấy kíp “mắc téc” (Lựu đạn mỏ vịt của Mỹ) ném vào nhà cho nổ, đe dọa. Từ ngày giải phóng Pa Thí, sống trong tự do, thiếu đói được tha hán Việt cho gạo, cho muối, cho cả pa khêm (cá khô) nên đã hiểu bên nào tốt, không muốn đi. Thế là mọi người bảo nhau đem đồ đạc vào giấu trong rừng. Người trẻ trung, trẻ nhỏ cũng trốn vào rừng. Trong nhà chỉ có những ông bà già, nằm giả vờ đau ốm. Lũ địch kéo vào bản thấy vậy, đã bắt Nai bản, trói lại đánh, bắt gọi dân về. Ông chịu đòn, lắc đầu từ chối. Chúng còn đưa bốn người Mỹ đến, cũng chẳng có gì thay đổi, đành bỏ đi. Sau đợt chống địch lấn chiếm thắng lợi, khi bọn chúng rút hết, dân muốn tìm tha hán Việt, Tha hán pốt poi pa xa xôn Lao (bộ đội giải phóng nhân dân Lào) cũng không dễ. Rừng núi rộng bao la biết tìm ở đâu? Mà các lối đi nhiều vô kể các thứ chết người. Phỉ cài mìn nổ, mìn định hướng, mìn díp, mắc téc la liệt làm thế nào đi tìm cho an toàn? Rồi dân nghĩ kế phát lối đi quanh bản cho thật quang để tha hán thấy mà đến tìm dân. Không đạt ý mong muốn, mọi người lại bàn nhau kéo cả xuống ngòi, khoắng cho nước đục, để phía dưới có Tha hán thì biết trên nguồn có người mà tìm. Cũng không được như mong muốn. Mọi người lại nghĩ kế lên nương, đốt cho khói lửa rõ to, bốc cao để tha hán ở hướng nào cũng nhìn thấy. Thế là 3 đồng chí Quế, Đảng, Tông đã gặp. Đến nơi, gặp hai cô gái ở bên ngòi thì khó khăn. Thấy tha hán Việt, hai cô ngỡ xa tu quay lại, nên ù té chạy về bản, chạy rơi cả dép. Chiến sĩ ta thấy dép thì nhặt, gọi theo để trả. Vào bản, nhân dân nhận ra là tha hán Việt thì mừng; thì vui, tíu tít gọi nhau về. Tin vui được báo về, đơn vị vội mời thêm anh Khăm Mi, cán bộ dân vận bạn cùng vào Huổi Non. Hôm ấy, dân Huổi Non mổ lợn liên hoan sa ma khi (đoàn kết), rồi múa lăm vông suốt đêm.

Sau niềm vui của dân bản Huổi Non, tôi được lệnh vào trong cùng đơn vị chuẩn bị đánh Tòng Khọ. Ra đi tôi rẽ vào thăm bản Huổi Na. Dân tuy chưa về, nhưng trong bản đã có cán bộ dân vận của bạn tới. Phấn khởi nữa, tôi gặp bác Tư, là Phó Ty lương thực tỉnh Phú Thọ mới sang, làm Đội trưởng đội dân vận. Vào đến Mường Xon, tôi lại gặp các bác dân công người Nghĩa Lộ. Các bác còn báo tin: Tiểu đoàn trưởng dân công hỏa tuyến của Nghĩa Lộ là bác Hoàng Quyết. Bác Quyết tôi quá quen thuộc, bác là Phó Ty văn hóa- thông tin tỉnh, mà đài truyền thanh tôi công tác trực thuộc ty này. Từ hai cuộc gặp này tôi thấy rõ: Đúng là cả nước đang dốc sức chi viện cho tiền tuyến đánh thắng, dù đó là chiến trường nào…

 

T.C.Đ

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter