• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Về với miền quê chiến thắng Điện Biên
Ngày xuất bản: 29/05/2019 1:24:58 CH

Ghi chép của Hoàng Việt Quân

Được mời đi cùng đoàn đại biểu Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (VHNT) Yên Bái sang dự Đại hội Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên lần thứ VI nhiệm kỳ 2018- 2023, tôi rạo rực vui mừng không chỉ được gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, mà còn bởi một lần nữa được hành quân trên lộ trình chiến thắng Điện Biên Phủ oai hùng năm xưa (1954), cách đây hơn 64 năm.

Đi cùng Họa sĩ Nguyễn Đình Thi, Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Yên Bái làm Trưởng đoàn, Họa sĩ Trần Quang Minh và lái xe Tú bắt đầu khởi hành lúc 8 giờ sáng ngày 25/11/2018 tại thành phố Yên Bái, tôi không khỏi tự hào suy nghĩ: Ừ! Cũng mảnh đất này đây, cũng con đường này đây, trong mưa bom bão đạn một thời, quân dân ta vượt lên bao khó khăn gian khổ, vượt qua sông Hồng từ bến Âu Lâu vào giải phóng Nghĩa Lộ tháng 10/1952, mở đường 13A khẩn cấp qua Đường Thanh Niên nối liền Yên Bái sang Sơn La suốt năm 1953 để cho hàng chục vạn bộ đội, dân công tiến vào Tây Bắc làm nên chiến thắng huy hoàng Điện Biên Phủ, chấn động địa cầu.

Xe ô tô bon bon qua cầu Yên Bái trong gió mùa đông mát lạnh. Tôi ngoái nhìn sông Hồng phía trái ngắm tìm bến sông Chanh gần khu phố tôi ở đã mọc lên những ngôi nhà cao tầng và con đường kè bờ sông xây chắn lũ lụt nom như dải lụa dài vắt ven sông, rồi ngắm nhìn sang bên phải ngược dòng sông, cảm nhận phía xa kia có bến Âu Lâu lịch sử, nhớ lại hai bến sông quê đầy ắp tiếng cười nói, tiếng hát dạo nào át tiếng bom rơi đạn nổ động viên các đoàn dân công và bộ đội vượt qua sông bằng phà, bằng những con đò nhỏ tiến vào Tây Bắc. Bây giờ những vùng quê này đều thuộc thành phố Yên Bái tươi trẻ cả rồi và chúng tôi có thể vượt sông Hồng bằng bốn cây cầu lớn mà đi vào Văn Chấn- Nghĩa Lộ, xa hơn là vào các tỉnh miền Tây Bắc hùng vĩ, mờ sương.

Vào đến Ba Khe (Văn Chấn) rẽ ngoặt đi Thượng Bằng La, bắt đầu vượt đèo Lũng Lô thông ra Cò Nòi (Sơn La), rồi đi ngược mãi lên qua đèo Pha Đin dài 32 km tiến vào vùng lòng chảo Điện Biên, trong lòng còn ngân vang mãi hai câu thơ của Tố Hữu:

Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ

Đèo Lũng Lô anh hò chị hát

Điện Biên đây rồi! Vùng lòng chảo Điện Biên Phủ ngày nào còn là cứ điểm bất khả xâm phạm” của thực dân Pháp nay đã trở thành một thành phố tươi mới với nhiều đường phố ngang dọc, nhà cửa, công sở san sát có nhiều di tích lịch sử được bảo tồn, tôn tạo đã hiện ra trước mắt chúng tôi.

Vừa đúng 6 giờ chiều, xe ô tô dừng trong cổng Nhà khách Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên. Phó Chủ tịch phụ trách Hội VHNT tỉnh Điện Biên là anh Trần Văn Thành cùng một số Ủy viên Ban Chấp hành và cán bộ cơ quan Hội đã sớm có mặt đón tiếp chúng tôi khá thân mật, cởi mở. Anh Thành cho biết: ngày mai cả Hội rất bận cho việc chuẩn bị Đại hội trù bị buổi chiều, nhưng anh đã có kế hoạch nhờ Bảo tàng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cử người đến giúp cho hai đoàn Yên Bái và Phú Thọ đi thăm quan các di tích lịch sử Điện Biên. Ôi! Hay quá, các anh thật chu đáo.

Đến đây tôi được biết Điện Biên là tên gọi do vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841, có nghĩa là vùng biên cương vững chãi, chứng tỏ vị trí chiến lược quan trọng của vùng đất này. Điện Biên là tỉnh biên giới phía Tây Bắc Việt Nam, có diện tích tự nhiên 9.562,9 km2, dân số có trên 53 vạn người, gồm 19 dân tộc anh em cùng sinh sống. Tỉnh có 10 đơn vị hành chính gồm: 1 thành phố Điện Biên Phủ, 1 thị xã Mường Lay, 8 huyện: Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Ẳng, Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Chà, Mường Nhé, Nậm Pồ. Điện Biên cách thủ đô Hà Nội 474 km, có đường đi lên tỉnh Lai Châu vượt qua đỉnh Hoàng Liên Sơn sang tỉnh Lào Cai, có đường xuôi xuống Cò Cọi (Sơn La) rẽ sang tỉnh Yên Bái, có đường biên giới với hai quốc gia là Lào và Trung Quốc, trong đó đường biên giới với Lào dài 360 km với cặp cửa khẩu quốc tế Tây Trang- Pang Hốc và cặp cửa khẩu Huổi Puốc- Na Son; tuyến biên giới với Trung Quốc dài 40,861km có lối mở cửa khẩu A Pa Chải-Long Phú. Ngoài các tuyến quốc lộ, cảng hàng không Điện Biên Phủ hiện đang được khai thác đường bay Điện Biên Phủ- Hà Nội với tần suất 2 chuyến bay mỗi ngày. Điện Biên là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là các loại hình du lịch lịch sử, du lịch sinh thái và văn hóa, trong đó nổi bật là Di tích chiến trường Điện Biên Phủ (một trong những di tích cấp quốc gia đặc biệt) và những giá trị văn hóa truyền thống độc đáo, đa dạng của 19 dân tộc anh em. Bên cạnh đó còn có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú với phong cảnh rừng núi hùng vĩ, thơ mộng, cánh đồng Mường Thanh lớn nhất Tây Bắc, hệ thống hang động, nguồn nước suối khoáng và hồ nước trải khắp nơi, góp phần làm đa dạng nguồn tài nguyên du lịch của tỉnh. Chỉ nghĩ đến điều đó, tôi đã háo hức chờ đợi đến ngày hôm sau được đi thăm quan, trải nghiệm Điện Biên.

Sáng sớm hôm sau (26/11/2018), cô gái Lương Thị Hồng Lưỡng, người dân tộc Thái Trắng, thuyết minh viên Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ đã có mặt đưa hai đoàn chúng tôi đi về phía Đông, vượt qua dốc Tà Lơi vào xã Mường Phăng, huyện Điện Biên tới tham quan Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 27 km. Gần tới Sở Chỉ huy có đài quan sát trên đỉnh núi cao trên 1.000 m, từ đài quan sát này có thể bao quát hoạt động và mọi diễn biến ở thung lũng Mường Thanh. Cô Lưỡng trông bề ngoài hiền lành, ít nói, nhưng khi đứng trên những bậc đầu tiên trên con đường rừng đầy cây cao bóng cả, cô trở nên hoạt bát, giới thiệu các di tích một cách lưu loát với những câu chuyện cụ thể, sinh động về chòi canh gác số 1, hầm thông tin liên lạc, đài quan sát, đi sâu thêm vào có hai nhánh đường, một bên là lán và hầm của Ban cố vấn Trung Quốc, có lán ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có đường hầm xuyên núi dài 96 m nối liền với đường bên kia sang lán ở và làm việc của Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Nhà hội trường, bếp Hoàng Cầm, hầm của Ban Chính trị… Tại đây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với các tướng lĩnh chỉ huy chiến dịch đã đưa ra những chỉ thị, mệnh lệnh tấn công có tính chất quyết định đến thắng lợi của từng trận đánh mà đỉnh cao là lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận vào ngày 7/5/1954 làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Có đến đây chúng tôi mới hiểu việc chọn cánh rừng Mường Phăng làm Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đã thể hiện tài thao lược, trí tuệ quân sự của dân tộc Việt Nam. Trở ra, chúng tôi đi theo một con đường nhỏ ven thung lũng gặp thôn/ bản của đồng bào dân tộc nom có phần trù phú, những nếp nhà sàn lấp ló trong vườn cây, ao cá, đặc biệt bao quanh là những rặng hoa dã quỳ nở vàng khắp thung lũng, lối đi. Mùa này đi khắp nơi ở Điện Biên và vùng đất Mường Phăng đâu đâu cũng thấy hoa dã quỳ nở vàng trong nền cảnh rừng xanh nom thật ngoạn mục, rực rỡ. Nhưng có lẽ đẹp nhất, hấp dẫn nhất vẫn là nơi thung lũng dưới chân núi Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ này, các tay máy và các cô gái thi nhau chụp ảnh, tạo dáng bên loài hoa đẹp.

Mải mê chụp ảnh, ngẩng lên thì đã trưa mất rồi. Chúng tôi đành trở về theo quốc lộ 279, ngắm nhìn hồ Pá Khoang qua cửa kính ô tô, một quần thể du lịch nổi tiếng với tổng diện tích 2.400 ha, trong đó diện tích rừng 1.320 ha, đất nông nghiệp 300 ha, đất xây dựng cơ bản 150 ha, diện tích mặt nước hồ 600 ha, có sức chứa 37,2 triệu m3 nước, dưới hồ có nhiều loại cá và thực vật nổi. Hồ Pá Khoang nằm giữa một vùng thiên nhiên tươi đẹp hùng vĩ, ẩn hiện trong mây trời non nước bao la, khí hậu luôn luôn mát mẻ. Trong khu vực lòng hồ có những nếp nhà sàn xinh xắn của các dân tộc Thái, Khơ Mú, nơi đồng bào còn giữ được những phong tục tập quán đặc sắc của miền Tây Bắc, thật thích hợp với du lịch trải nghiệm và nhân văn cho du khách. Rất tiếc chúng tôi không thể đi tiếp về huyện Tuần Giáo để tham quan hang Thẩm Báng ở xã Báng Lao, nhất là hang Thẩm Púa ở xã Chiềng Sinh vốn là địa điểm đầu tiên đặt Sở chỉ huy tiền phương của Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ từ ngày 3/12/1953 đến ngày 17/01/1954. Chính tại hang Thẩm Púa, ngày 14/01/1954 Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ chỉ huy mặt trận đã phổ biến lệnh tác chiến bí mật với phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”, dự định ngày nổ súng là 20/01/1954. Ngoài ra, hang Thẩm Púa còn chứa đựng nhiều giá trị khảo cổ, các nhà khảo cổ học đã khai quật, phát hiện một số hiện vật có giá trị chứng minh rằng đây là nơi sinh sống của con người tiền sử.

Buổi chiều, trong khi Hội VHNT tỉnh Điện Biên tiến hành Đại hội trù bị thì cô hướng dẫn viên Lương Thị Hồng Lưỡng lại nhiệt tình đến đưa chúng tôi đến thăm Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ nằm đối diện với Nghĩa trang liệt sĩ A1 nằm tại trung tâm thành phố Điện Biên. Bảo tàng được xây dựng từ năm 1984 nhân dịp kỉ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và hàng năm không ngừng được tôn tạo, bổ sung thêm nhiều hiện vật có giá trị. Bảo tàng được tạo hình như một chiếc mũ nan khổng lồ của anh Bộ đội Cụ Hồ thời kháng chiến chống Pháp, nổi lên trong một khuôn viên to rộng, có hai khu trưng bày. Khu trưng bày ngoài trời gồm 112 hiện vật là những loại vũ khí của Quân đội nhân dân Việt Nam và Thực dân Pháp sử dụng trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Bước vào khu trưng bày trong nhà, tôi ngạc nhiên thấy ngay gần cửa có một khoang trưng bày các hiện vật và biểu tượng biển đảo Việt Nam. Mới! Mới quá! Dường như phần trưng bày này mới hiện diện gần đây mang tính thời sự như nhắc nhở chúng ta về thăm quá khứ đừng quên hiện tại, dường như quá khứ và hiện tại nối tiếp nhau, động viên quân dân ta phát huy truyền thống chiến đấu ngoan cường, quyết chiến quyết thắng trên chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, biển đảo hôm nay. Giới thiệu phần này xong, cô Lưỡng dẫn chúng tôi vào xem lần lượt hệ thống các khu trưng bày 400 tài liệu và hiện vật theo các chủ đề chính như: Tóm tắt 8 năm kháng chiến chống Pháp của quân dân ta từ tháng 9/1945 đến tháng 9/1953- Âm mưu và hành động của thực dân Pháp- Những chủ trương của Đảng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953- 1954- Công tác chuẩn bị của quân dân Việt Nam và diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ- Tác động của chiến thắng Điện Biên Phủ đối với trong nước và quốc tế- Một số hình ảnh về thành phố Điện Biên Phủ trong thời kỳ đổi mới. Xem các hiện vật lịch sử xong, cô Lưỡng dẫn chúng tôi xuống tầng dưới, nơi bày bán khá nhiều trang phục, thổ cẩm, vật phẩm, đồ kỷ niệm mang bản sắc Tây Bắc và Điện Biên cho du khách, tùy chúng tôi thăm quan hay lựa chọn, mua hàng.

Đi tiếp vào Nghĩa trang liệt sĩ đồi A1. Bất ngờ gặp Vũ Thị Hòa, cán bộ Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam vừa ở đồi A1 ra, đang một mình đi tham quan. Thế là Vũ Thị Hòa nhập đoàn vào thắp hương cho các liệt sĩ. Cô Lưỡng bảo: Điện Biên có 4 nghĩa trang liệt sĩ, nhưng nghĩa trang này lớn nhất nằm ở ngay trung tâm nên du khách ai cũng đến đây. Nghĩa trang liệt sĩ A1 được xây dựng năm 1958, là nơi quy tụ 644 ngôi mộ của các chiến sĩ đã hy sinh anh dũng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đa số các ngôi mộ chưa xác định được tên tuổi. Đặc biệt đây là nơi yên nghỉ của 4 anh hùng liệt sĩ tiêu biểu: Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Trần Can. Ngoài nghĩa trang này, còn có các Nghĩa trang liệt sĩ Him Lam, Độc Lập, Tông Khao… Nhân dân và du khách thập phương thường xuyên đến đây dâng hương tưởng niệm, tri ân các anh hùng liệt sĩ, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.

Rời Nghĩa trang, chúng tôi lên tham quan Đồi A1 nằm ở phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên. Di tích Đồi A1 nằm ở phía Đông tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, là một cứ điểm trên đồi cao và có vị trí quan trọng bậc nhất trong hệ thống 5 quả đồi phía Đông bảo vệ trung tâm Mường Thanh, quân đội Pháp bố trí nhiều binh lực, hỏa lực mạnh, có công sự kiên cố, vững chắc, bên ngoài có nhiều lớp hàng rào dây thép gai. Đồi A1 có hai đỉnh: Đỉnh phía Tây Bắc cao hơn 490 m, đỉnh phía Đông Nam cao hơn 493 m. A1 là kí hiệu mà quân đội Việt Nam đặt tên cho quả đồi. Đồi A1 là một trong những trận đánh oanh liệt nhất của quân và dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Qua 39 ngày đêm chiến đấu ác liệt, cán bộ chiến sĩ ta đã nêu cao gương chiến đấu dũng cảm, ngoan cường. Tại đây, quân ta đã đào một đường hầm trong lòng đất lên quả đồi, đặt khối thuốc nổ nặng gần 1.000 kg và cho điểm hỏa vào đêm ngày 6/5/1954. Đến sáng ngày 7/5/1954 ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm A1, mở đường cho đợt tổng công kích cuối cùng vào Sở chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giành thắng lợi hoàn toàn.

Ngày nay, đến với Điện Biên Phủ, du khách sẽ thấy trên đỉnh đồi phía Tây Bắc của đồi A1 có đài kỷ niệm được xây theo kiểu “Tam sơn”, ở giữa cao, hai bên thấp và đều có hình mái đầu đao. Phía trước là lư hương, ở giữa là tấm bia, phù hiệu Quốc kỳ sao vàng trên nền cờ đỏ, xung quanh là vòng tương hoa. Bên cạnh đài kỷ niệm là xác một trong hai chiếc xe tăng nặng 18 tấn mà tên Quan ba Hécvuê

đưa từ trung tâm Mường Thanh lên để phản kích quân đội Việt Nam.

Tham quan đồi A1, chúng tôi không khỏi tự hào và cảm phục trước trí tuệ thông minh, tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của quân đội ta. Chúng tôi xuống hầm hào, địa đạo của địch, rồi chui vào xem con đường hầm của các chiến sĩ quân đội ta đào lấn từ ngoài hàng rào lên đồi A1. Tài quá! Giỏi quá! Cái hố sâu và mở rộng toang hoác do khối thuốc gần 1.000 kg nổ tung trên đồi A1 là một minh chứng cho trí tuệ và ý chí chiến đấu vì độc lập tự do của người Việt Nam, khiến ai cũng phải đứng lặng ngắm nhìn, chụp ảnh, trong lòng trào dâng một niềm tự hào, kính phục.

Chúng tôi lên xe đi tiếp đến hầm chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của tướng Đờ Cát ở trung tâm lòng chảo Mường Thanh. Ôi! Kia là cầu Mường Thanh, cây cầu dã chiến bắc qua sông Nậm Rốm do người Pháp xây dựng sau cuộc nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ. Quân Pháp không ngờ chính cây cầu này trong chiến dịch lại trở thành phương tiện đưa đường cho bộ đội ta tiến công vào cắm lá cờ “Quyết chiến- Quyết thắng” lên nóc hầm của viên tướng bại trận Đờ Cát vào chiều ngày 7/5/1954, ghi dấu sự sụp đổ hoàn toàn của thực dân Pháp. Bây giờ ở hai bên đầu cầu là nhà cửa, phố xá sầm uất của dân chúng, có một chợ ven đường bày bán các loại hàng đặc sản, lương thực, thực phẩm, cây cảnh, phong lan... phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của người dân và cho khách du lịch.

Hầm chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đây rồi! Đứng bên ngoài hàng rào xây bảo tồn bây giờ, tôi tưởng tượng lại xung quanh khu vực này ngày trước là những hàng rào dây thép gai và những bãi mìn dày đặc, 4 góc là 4 chiếc xe tăng và phía Tây là trận địa pháo bảo vệ. Bước vào tham quan hầm, thấy hầm dài 20m, rộng 8m, chia làm 4 ngăn. Đây là nơi làm việc và nghỉ ngơi của tướng Đờ Cát (De Castries) cùng Bộ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tại căn hầm này, tướng Đờ Cát đã tiếp đón nhiều quan chức cấp cao của Anh, Pháp, Mỹ và các nhà báo nổi tiếng lên thăm Điện Biên Phủ. Đúng 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, đồng chí Tạ Quốc Luật, Đại đội trưởng Đại đội 360, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 đã chỉ huy các chiến sĩ bắt sống tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ chỉ huy quân Pháp, kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ.

Vậy là từ ngày 20/11/1953 thực dân Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ, biến nơi đây thành cứ điểm mạnh nhất Đông Dương mà họ coi là “pháo đài bất khả xâm phạm” thì trong chiến dịch Điện Biên Phủ của ta với 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt”, đến 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954 tướng Đờ Cát và toàn bộ quân đội đóng tại Điện Biên Phủ (gồm khoảng 16.200 binh sĩ) bị loại khỏi vòng chiến đấu. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã gây một tiếng vang lớn đối với nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới nói chung, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Chiến thắng Điện Biên Phủ là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử.

Trời sắp tối, chúng tôi chỉ kịp phóng xe lên trên đỉnh đồi di tích D1 nằm ở trung tâm thành phố Điện Biên để ngắm xem tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ. Công trình tượng đài được xây dựng và khánh thành nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954- 7/5/2004). Đây là cụm tượng đài bằng đồng thuộc nhóm tượng cao, to và nặng nhất Việt Nam từ trước tới nay, là công trình kiến trúc lớn, biểu tượng cho tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đây có thể ngắm nhìn xuống thành phố Điện Biên với một không gian rộng rãi, thoáng đãng, với một con đường thẳng tắp có hai dãy phố, nhà cửa nối liền nhau san sát, xe cộ và dân chúng đi lại đông vui, tấp nập. Đã lên đến đây, du khách ai cũng muốn chụp ảnh kỷ niệm.

Rất tiếc! Ngày hôm sau đã bước vào Đại hội chính thức của Hội VHNT tỉnh Điện Biên rồi. Chúng tôi không thể đi thăm quan thêm các di tích nổi bật khác của chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhưng không sao! Chúng tôi còn nhiều dịp khác để quay lại mảnh đất hào hùng này.

Chuyến đi đã giúp chúng tôi trở về với cội nguồn, về với miền quê chiến thắng Điện Biên để khám phá, trải nghiệm, để nâng tầm nhận thức và tự hào về dân tộc, nguyện noi gương cha anh bước tiếp trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không một chút đắn đo, do dự, hoài nghi.

 

H.V.Q

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter