• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn
Ngày xuất bản: 26/12/2017 7:46:05 SA

Truyện ngắn của Thúy Hợp

 

     Theo lời Đảng gọi, năm 1986 chị Vân cùng các anh chị quê tôi lên đường đi cứu nước. Trước lúc chị Vân lên đường, mẹ tôi cứ chăm chăm nhìn chị mà chẳng nói câu gì. Tôi hỏi mẹ:

     - Mẹ nghĩ gì mà cứ đăm chiêu nhìn chị Vân vậy? Mai chị lên đường rồi mà mẹ như người vô cảm?

     Mẹ tôi vẫn không hề thay đổi, cứ đứng trân trân nhìn chị. Tự nhiên tôi thấy sờ sợ. Bỗng mẹ tôi thốt lên:

     - Nhìn chị Vân con kìa, nó thấp lủn củn, có một mét ba, một mét tư, vào chiến trường lúc gặp giặc thì chạy thế nào được.

     Tôi bưng miệng cười phá lên. Mẹ tôi bảo:

     - Con đúng là vô duyên. Mẹ đang cháy lòng, còn con cứ ngửa cổ lên mà cười được.

     Mẹ càng giận, tôi lại càng bật cười. Tôi cười chính mình là chưa hiểu về mẹ. Tôi cứ nghĩ chị Vân tôi sắp đi thanh niên xung phong vào tận Trường Sơn, cái sống, cái chết cận kề mà mẹ không rơi lấy một giọt nước mắt. Hoá ra tôi đã sai. Nước mắt mẹ tôi chảy ngược vào trong.

     Mẹ tôi lại nói:

     - Đứt một sợi tóc của con đã là xé ruột mẹ rồi. Mà một đứa con nuôi nấng, chăm bẵm bao năm bây giờ phải mang thân đến nơi hòn tên, mũi đạn rình rập. Ấy là đi cứu lấy đất nước thì già này cũng phải chịu, chứ còn đi làm gì vì tiền bạc thì cục vàng to bằng cái Vân mẹ cũng không cho nó đi, nhất là chết đói.

     Dù mẹ tôi có nghĩ gì thì sáng mai chị Vân tôi vẫn phải lên đường. Cả huyện Vụ Bản tôi có 400 nam, nữ thanh niên lên đường.

     Mẹ không đưa chị đi được vì từ nhà tôi lên huyện thì xa, mà mẹ tôi lại mắc bệnh thấp khớp từ ngày bố tôi còn sống. Lúc tôi còn bé, khi ngủ chung giường với bố mẹ, tôi được xếp nằm giáp tường, bố nằm ngoài, còn mẹ nằm giữa. Mỗi lần mở mắt ra lại thấy mẹ xuýt xoa, bố tôi thương mẹ, động viên:

     - Nếu là một gánh nặng tôi sẽ san sẻ cho mình, đằng này bệnh tật tôi biết làm thế nào được?

     Lúc ấy tôi còn bé lắm, nhưng với cái tính hay tò mò của mình tôi đã hiểu được nỗi đau mà căn bệnh giày vò mẹ, nỗi buồn của bố, vì thương mẹ nhưng chẳng thể làm gì nên bố phải chịu nhìn mẹ đau đớn. Có lúc đau quá, mặt mẹ vã mồ hôi nhưng sợ bố buồn mẹ phải ngoảnh đi. Mẹ giấu nỗi đau để bố khỏi bận lòng vì công to việc lớn trong nhà là cả một tay bố vất vả lo toan. Thế mà đến năm 1963, theo tiếng gọi của Bác Hồ, bố tôi cùng đoàn dân công hoả tuyến đi phá núi mở đường. Chẳng được bao lâu bố bị tai nạn tại cung đường và hy sinh. Mới được vài năm, nỗi đau chưa kịp nguôi ngoai thì chị Vân tôi đã bước sang tuổi mười bảy, cái tuổi mà mẹ tôi vẫn bảo “Ăn chưa no, nghĩ chưa tới”. Chị lại còn thấp lủn củn, vậy mà ngày mai chị phải đi mở đường Trường Sơn.

     Thế rồi, thanh niên quê tôi ai nấy đều nô nức lên đường cùng với đoàn thanh niên xung phong của chị tôi ra trận. Tôi cùng mấy anh chị trong xóm tiễn các anh, các chị vào tận huyện đội. Còn mẹ tôi thì đẫm lệ ở nhà nhìn theo chị Vân tôi lên đường. Ôi! Cả huyện tập trung đông nghịt người. Nhìn chị Vân tôi thấp lè tè đến vai, đến nách các anh, chị đi cùng, trông mà thương quá.

     Tôi đang lau nước mắt vì thương chị nhưng khi thấy chị chui lên xe tôi lại bật cười vì chị chui thẳng vào nách anh lái xe. Chị tôi thì thấp, anh lái xe thì cao, trông chẳng khác nào gà con rúc cánh gà mẹ. Mọi người nhìn tôi cũng bật cười theo vì thấy tôi nước mắt vẫn vòng quanh mà lại cười khúc khích. Cho đến khi ô tô chuyển bánh, chỉ còn lại bụi mờ trong gió, tôi có khóc thì chị Vân tôi cùng đoàn xe đã đi xa lắm rồi…

Khi hành quân, anh Viễn được giao làm A Trưởng. Cả A của chị Vân hễ ai cần gì là gọi anh Viễn. Mọi người đều vừa lớn lên đã ra ngoài, bao nhiêu cái bỡ ngỡ, lạ lùng, cả mười hai chị em trên đường hành quân đứa cười, đứa khóc. Anh Viễn, A Trưởng chẳng hơn chị Vân bao nhiêu tuổi nhưng lúc thì động viên các chị, lúc lại dỗ dành các chị. Thế rồi đoàn của chị tôi cũng đến sông Gianh, qua sông Gianh rồi đến sông Son. Ba con sông, ba con đò mà các anh chị vẫn chưa vào được Trường Sơn. Còn phải đi bộ mấy ngày đường nữa mới đến được Đông Trường Sơn. May quá có đoàn xe chở hàng dừng ở chân đèo bỏ hàng đấy rồi chở cả đoàn của các anh, các chị vào đến Đông Trường Sơn. Qua một nỗi lo đi bộ. Không ai muốn chùn bước vì vất vả mà chỉ lo đi bộ mất nhiều thời gian quá, nhỡ ốm đau ra đấy thì lấy ai ra mà làm đường, mà không làm được đường thì biết bao giờ mới đưa được bộ đội vào giải phóng miền Nam để còn về quê. Thế là cả Đoàn 559 của chị Vân tôi bao nhiêu là nữ nhưng không còn ai phiền muộn gì cả. Tất cả nam, nữ đều hết lòng vì cung đường, tất cả vì miền Nam ruột thịt, ai cũng hăm hở, đùa vui. Anh Viễn, A Trưởng cũng không phải lo dỗ dành mấy chị nữa. Đến Đông Trường Sơn, chưa kịp ăn cơm thì lại có lệnh vượt qua đèo dốc, núi đồi sang Tây Trường Sơn để mở đường. Cán bộ quán triệt xong làm công tác tư tưởng, rồi mỗi người chúng tôi được phát một nắm cơm do một gia đình dân tộc Vân Kiều giúp đỡ. Bữa cơm đầu tiên ăn vội ở chiến trường sao vui và ngon đến thế.

     Ở A của chị Vân tôi có hai người tên Vân, chị Vân tôi thấp lủn củn, còn chị  Vân ở xóm dưới thì cao và xinh. Mọi người cùng A gọi chị Vân cao là Kiều Vân, thế là tên Vân và Kiều Vân ra đời từ bữa cơm đầu tiên giữa chiến trường. Chị Kiều Vân mang ra túi muối vừng chia cho mỗi người một ít, ai cũng khen ngon. Chị Kiều Vân bảo, đấy là mẹ chị chuẩn bị cho đấy! Nào là mẹ mua cho mấy viên thuốc cảm, mấy viên thuốc ho, tý muối vừng, thật là những người mẹ hiền. Còn chị Vân tôi thì được mẹ mua cho mấy lọ dầu gió, chị cứ giẫy nẩy lên sợ nặng, mẹ bảo “Không chỉ mang cho mình mà còn mang cho cả đồng đội nữa”, thế là chị đồng ý ngay, kèm theo là hai bộ quần áo, gương, lược, tư trang cá nhân lên đường.

     Còn gì thiêng liêng hơn những đứa con xung phong ra tiền tuyến. Người gầy thì cho đá vào cho đủ cân, còn chị Vân tôi thấp lủn củn thì cố nghến chân lên cho đủ chiều cao để cùng anh em ra trận.

     Hôm nay ăn vội bữa cơm đầu tiên giữa chiến trường, có lẽ chị Vân tôi không còn thời gian để nhớ tới quê nhà vì ăn là xong là cả Đoàn lại vượt đồi, leo núi sang Tây Trường Sơn. Đi lâu quá, cứ thế leo hết núi nọ đến đèo kia mới dò lên đến đỉnh dốc, không ai còn sức để chuyện trò, mỗi người một gốc cây thở phì phò.

     Lần đầu tiên chị Vân tôi từ dân nội đồng trèo lên núi, chân ngắn, người thấp thì càng khó khăn hơn. Đã muộn rồi nên hôm nay cả đơn vị phải ăn lương khô. Vừa đói, vừa mệt, mỗi người một bình tông nước, vài thanh lương khô, qua cơn mệt mỏi lại cười đùa với nhau. Chị Tình to tròn, béo mập, ít nói, nhưng khi đã nói thì cả làng nghe thấy. Chị bảo:

     - Nếu không đi bộ đội thì ở nhà bao giờ có lương khô mà ăn.

     Cả đơn vị cùng cười, rồi lại tiếp tục hành quân vượt dốc. Bỗng có một đoàn bộ đội đang hành quân từ bên Tây Trường Sơn sang, các anh dừng chân và hai đơn vị gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn. Tiếng cười nói rôm rả, có những anh tìm đồng hương cả đơn vị thanh niên xung phong chẳng có người đồng hương nào, tủi thân bật khóc hu hu! Có những anh tìm được đồng hương, cả hai cùng vui mừng, ôm chầm lấy nhau cũng bật khóc hu hu! Hai đơn vị gặp nhau, người cười, người khóc. Tình cảm thiêng liêng đến thế, họ ùa vào nhau như thể tất cả đều là anh em ruột thịt, như thể các con của mẹ Âu Cơ lên núi giết giặc, họ gặp nhau giữa chiến trường.

     Còn ai vui hơn chị Vân tôi hôm nay? Gặp được thằng cháu họ đi trước chị mấy tháng huấn luyện rồi mới hành quân vào Nam. Hai cô cháu ôm chầm lấy nhau. Khoa phải quỳ xuống ôm lấy cô vì cháu thì cao mà cô thì quá thấp. Hai cô cháu quấn quýt hỏi thăm sức khoẻ gia đình rồi Khoa lấy sổ của chị Vân ra nói: “Cháu viết tặng cô bài thơ nhé?”. Chị Vân gật đầu, Khoa đưa bút: “Vui sao một buổi chiều nắng đẹp/ Cháu gặp cô trên đỉnh Trường Sơn/ Người cùng quê, cùng xóm, lại cùng thôn/ Lòng rạo rực biết bao giờ quên được/ Thôi tạm biệt nhé, hẹn ngày thống nhất/ Ta lại gặp nhau nhắc chuyện ngày xưa”. Hai cô cháu lại ôm chầm lấy nhau, trao nhau vần thơ, hẹn ngày thống nhất gặp lại.

     Ở đây, chẳng thiếu gì việc. San đường, tải đạn, cứu thương ... cao, thấp ai cũng có việc làm. Từ hôm nhận được thư của chị, chị nói đang làm đường ở Tây Trường Sơn, đường Chín Nam Lào, mẹ tôi cũng yên tâm một phần.

     Chị Vân cùng đồng đội sang Tây Trường Sơn nhận công tác. Lần này A Trưởng của chị là chị Vân xóm trên, cách nhà chị Vân tôi 3km. Chị A Trưởng của chị tôi lần này cao, to, trắng, xinh nhất A.

     Sau khi phân công công tác, chị Vân A Trưởng cùng các chị em lao vào mở đường ngày đêm không tiếc máu xương, bữa cơm ăn chẳng mấy ngày đúng bữa, giờ ăn thì bom Mỹ thả, sau lúc bom rơi, các anh, các chị lại phải ra mặt đường san lấp hố bom để kịp đoàn xe qua. Làm việc chẳng có thời gian, quy luật nào cả, cứ sau trận bom rơi là chị em phải ra mặt đường. Nhiều lúc mệt mỏi quá, ngồi dưới gốc cây nhớ tới cây đa đầu làng bỗng các chị oà lên khóc. Một anh bộ đội đến động viên các chị:

     -  Ở quê có cây đa đầu làng, còn ở đường Chín Nam Lào có cây Săng lẻ để làm biểu tượng. Sau này thống nhất đất nước để về quê hay đi đâu thì cũng nhớ đến cây Săng lẻ.

     Hỏi ra mới biết là cây Săng lẻ, mọc ở biên giới Việt- Lào, cây cổ thụ to, quanh năm xanh tốt, chẳng ai thấy nó ra hoa bao giờ, có chăng chỉ thưa thớt lấp trọn chòm lá xanh um tùm. Vậy nên các chị có câu vè:

“Bao giờ Săng lẻ ra hoa,

Thì đoàn 59 mới ra Quảng Bình”

     Các anh, các chị ví mình với cây Săng lẻ, to cao, đơn độc. Lòng khát khao thống nhất hai miền để được về quê hương, nhưng chỉ cần ra tới Quảng Bình thì coi như đã về được đến nhà. Khao khát giải phóng miền Nam, khao khát được về quê hương bùng cháy, lòng căm thù giặc lại dâng lên gấp bội. Giặc Mỹ ngày đêm điên cuồng ném bom, các anh, các chị không quản ngày đêm bám đường.

     Ngày 21/9/1969, A của chị Vân trúng bom, chị Vân A Trưởng đã hy sinh, cả thân mình chị tan nát, đầu chị gác lên cây Săng lẻ, xoã bộ tóc dài xuống. Cả A chỉ còn vài người, tiểu đội điều chỉnh lại đội hình, chị Vân tôi bị thương nhẹ, đơn vị định đưa chị ra Bắc nhưng chị vẫn xin ở lại cùng với đơn vị bám trụ làm đường. Thấy chị Vân nhỏ bé, lại bị thương nên đơn vị đưa chị sang bệnh xá, Trung đoàn 217 học y tá và làm nhiệm vụ cứu thương.

     Bệnh xá Trung đoàn 217, do bác sỹ Hoè, quê Phú Thọ làm Chủ nhiệm. Từ ngày về Trung đoàn 217 làm cứu thương, thương binh nhiều, chị Vân tôi bận suốt ngày chăm sóc thương binh. Khi mổ cấp cứu, chị Vân tôi hát không hay nhưng lúc ấy chị vừa hát, vừa rơi nước mắt. Nhìn thương binh đau, chị đau chẳng kém. Có lúc rảnh chị lại đọc báo cho thương binh nghe tin tức ở quê rồi ở cả chiến trường. Những người đã điều trị ở trạm xá Trung đoàn 217 đường Chín Nam Lào không người nào là không nhớ đến chị Vân tôi với biệt danh chị Vân lùn.

     Chị tôi nhập ngũ năm 1968, đến năm 1973 được ra quân. Ôi sung sướng làm sao? Chị Vân lùn nhà tôi về đến nhà sau 5 năm ngoài mặt trận, chị vẫn nguyên vẹn, không hề sứt mẻ, chẳng bị làm sao mà vẫn hoàn thành nhiệm vụ.

     Mẹ tôi đến Phủ Giầy, Nam Định quê tôi để tạ ơn Mẫu Phủ Giầy đã che bom, tránh đạn cho các con của Mẫu. Rồi mẹ tôi lại nói đùa:

     - Chị Vân mày bé quá, thấp quá nên dễ tránh đạn đấy!

     Đấy chỉ là câu đùa yêu của mẹ chứ hòn tên, mũi đạn may ai người ấy tránh được, chị Vân tôi có quản ngại gì đâu, từ năm 1968 ngoài mặt trận đến năm 1973 mới về. Nhưng theo tiếng gọi của Đảng, một lần nữa chị Vân tôi lại khoác ba lô lên đường vào làm công nhân trồng rừng khai thác. Nào là muỗi, vắt, lội suối, trèo đèo vậy mà chị không hề nản chí. Chị đã xây dựng gia đình và đã có bốn người con, đứa nào đứa ấy đều ngoan ngoãn.

     Từ ngày chị rời quân ngũ về Lâm trường Thác Bà, chị Vân lại làm y tá, hộ lý cho bệnh xá Lâm trường cho đến những ngày chị nghỉ hưu. Thỉnh thoảng về quê chơi chị lại đến thăm đồng dội, thăm những người bạn cùng đi với chị mà họ đã phải vĩnh viễn nằm lại chiến trường như chị Vân A Trưởng của Đoàn 559. Chị nhớ cây Săng lẻ ở đường Chín Nam Lào. Một hôm, bất ngờ có một người ở Thác Bà nhờ vợ là cô giáo Hà hỏi thăm đến nhà. Chị Vân tôi mừng rỡ trả lời:

     - Vâng! Tôi là Vân ở Trạm 217 đường Chín Nam Lào đây.

Chị Hà mỉm cười nói:

     - Anh Quang nhà em bị thương vào điều trị ở Trạm 217, chị là y tá. Hôm trước anh Quang nhận ra chị nhưng vẫn nghi ngờ nên anh ấy bảo em phải tìm gặp chị hỏi cho bằng được.

     Chị Vân tôi vui lắm. Không còn gì vui hơn khi gặp lại đồng đội của mình. Chị đã chữa lành vết thương cho bao thương binh. Chị đã hát dù tiếng hát của chị không hay nhưng cũng phần nào giúp các anh vơi đi nỗi đau, bởi bao nhiêu chiến sỹ phải mổ gấp. Chị đọc báo cho bao nhiêu thương binh bị thương vào mắt khao khát được nghe, được biết về quê hương thay đổi ra sao? Chị không thể nhớ hết được. Từ ngày chị về Thác Bà, người nọ truyền người kia, có đến hàng chục người ở quanh Thác Bà đã từng nằm điều trị và làm việc ở Trạm 217 đường Chín Nam Lào đến gặp chị. Ôi! Vinh quang nào hơn khi những người lính đã chiến thắng trở về, dù bom đạn tàn khốc, vết thương trên thịt da chưa lành, nhưng niềm tin ngày thống nhất, toàn dân ấm no, hạnh phúc đã chữa lành vết thương của các anh, các chị đồng đội của chị. Chị tôi hạnh phúc vô cùng sau những cuộc gặp gỡ. Như lần gặp cháu ruột trên đỉnh Trường Sơn, gặp các anh, các chị từng làm ở Trạm 217 Trường Sơn.

     Chị Vân được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Dấu ấn tuổi xuân” năm 1969. Chị trân trọng, gìn giữ danh hiệu “Dấu ấn tuổi xuân” hơn cả cục vàng. Vinh dự nhất là ngày 17/5/2014, chị Vân tôi được về Hà Nội gặp mặt đoàn 559 mở đường Hồ Chí Minh, niềm vui, nỗi buồn xen lẫn nhưng chị không thể quên được một thời lửa đạn. “Dấu ấn tuổi xuân” của chị Vân tôi vẫn luôn bên mình.

     Cây Săng lẻ giờ đã ra hoa. Chị tôi không bao giờ quên được hình ảnh người A Trưởng của mình trên cây Săng lẻ.

 

 

T.H

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter