• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Những yếu tố khoa học tạo nên sự hấp dẫn trong di chúc của Bác
Ngày xuất bản: 22/07/2019 7:29:57 SA

Hồ Ngọc Diệp

 

Năm nay, vừa tròn 50 năm, ngày Bác Hồ đi xa, cũng là 50 năm toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta thi đua thực hiện lời dạy trong di chúc của Người. Đọc lại toàn bộ di cảo di chúc của lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, chúng ta càng thấm thía những lời vàng, ý ngọc của Người. Những yếu tố khoa học khi viết đã tạo nên sức hấp dẫn lớn lao của bản di chúc của Bác.

Ngày 3/ 9/ 1969, nhân dân Việt Nam và bè bạn năm châu trên thế giới vô cùng đau đớn khi nghe công bố của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh kèm theo trong lời công bố càng làm cho mọi người vô cùng xúc động, nghẹn ngào.

Nhưng, do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, sự công bố về ngày mất và di chúc của Người chưa chính xác và chưa đầy đủ.

20 năm sau, ngày 19- 8- 1989, nhân dịp tiến tới kỷ niệm 20 năm ngày Bác qua đời và chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI quyết định công bố toàn bộ các bản viết di chúc (thêm phần nói về việc làm sau chiến tranh và đoạn nói về hỏa táng Bác mà trước đó chưa công bố) và ngày mất chính thức (2/ 9/ 1969) của Người.

Đầu tiên, tính khoa học biểu hiện trong việc bố trí thời gian để làm việc của Bác. Trong cuốn “Bác Hồ viết di chúc và di chúc của Bác Hồ” (NXB Chính trị Quốc gia và NXB Kim Đồng- 2005, hồi ký của đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký, cận vụ riêng của Bác kể, Tiến sĩ Thế Kỷ ghi) cho biết, Bác ngồi vào bàn làm việc “tuyệt đối bí mật” (chữ viết trên góc trái bản thảo) này thường vào lúc 9 giờ sáng. Đó là giờ trí tuệ con người minh mẫn nhất, tư duy sâu sắc nhất, bao quát rộng lớn nhất. Mùi thơm của hoa trái quanh vườn lúc này tỏa hương làm hưng phấn trí tuệ của Bác. Hết một phần, một ý lớn, Bác dừng lại, để hôm sau viết tiếp ý khác, phần khác. Toàn bộ phác thảo buổi đầu của bản di chúc, Bác hoàn thành trong 4 ngày (từ 10/ 5 đến 14/ 5/ 1965). Đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng lúc bấy giờ là người thứ hai ngoài đồng chí Vũ Kỳ được đọc di chúc của Bác. Đồng chí Lê Duẩn được phép ghi lời chứng kiến phía dưới, góc trái bản di chúc của Bác, sau 4 giờ chiều ngày 14- 5- 1965, khi Bác đã tự tay đánh máy xong.

Bản di chúc sau 4 ngày khổ công viết ấy Bác bỏ vào phong bì lớn. Đúng một năm sau, vào giờ ấy, ngày ấy (10- 5- 1966) nhớ lời dặn, đồng chí Vũ Kỳ đã đưa ra đặt trước bàn để Bác đọc lại, viết tiếp.

Hai ngày đầu, Bác chỉ đọc và ngẫm nghĩ. Đến ngày làm việc thứ ba (12/ 5/ 1966), trong phần đoàn kết trong Đảng, có nguyên văn là: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng” thì Bác duy nhất viết thêm một câu là “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Hai năm sau (1968), cũng đúng vào 9 giờ ngày 10/ 5, Bác lại tiếp tục ngồi vào bàn đọc, chữa, viết thêm một số đoạn trong bản viết của mình. Tiếp đến, trong các ngày: 11/5; 12/5; 13/5; 17/5, cũng vào thời khắc như mọi lần, Bác viết bổ sung, sửa chữa những gì mình đã viết trước đó mà theo Bác chưa đủ ý. Xong, Bác cất đặt vào tủ.

Năm sau, trong các ngày 10/ 5/ 1969, 12/ 5/ 1969, 18/ 5/ 1969 và 19/ 5/ 1969, Bác tiếp tục viết thêm một số đoạn cần thiết, chữa và thêm một vài từ trong các đoạn đã viết ở trên và xem như hoàn tất việc viết di chúc của mình ròng rã sau hơn 4 năm. Thời điểm ngồi viết và quãng thời gian viết di chúc của Bác đã nói lên sự khổ công, tận tụy với công việc đầy hệ trọng, tạo nên tính hiệu quả tối đa của công việc.

Trong di chúc của mình, Bác đã đề cập đến những vấn đề lớn lao của thời đại, của lịch sử, gắn chặt với thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện tại và tương lai. Người đọc, người nghe cảm nhận đầy đủ tư tưởng, tình cảm của Người. Toàn bộ di chúc của Bác đã ánh lên phẩm chất cách mạng trong sáng, cao đẹp của một người Cộng sản chân chính, lãnh tụ kính yêu của dân tộc, mà bao trùm lên tất cả là tấm lòng nhân hậu bao la, một tinh thần vô sản rộng lớn, một niềm lạc quan cách mạng sáng lán. Về Đảng, Bác lưu ý đến tính đoàn kết rộng rãi, phê và tự phê, thấm nhuần đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của mọi Chi bộ và đảng viên. Về Đoàn, Bác biểu dương sức mạnh của tầng lớp này và nhấn mạnh không ngừng bồi dưỡng, xây đắp cho mọi người vừa “hồng” lại vừa “chuyên”, để họ kế thừa truyền thống cách mạng của những người đi trước, vững bước tiến lên trong đời sau. Về nhân dân, Bác khẳng định truyền thống anh hùng, dũng cảm trong đấu tranh, cần cù trong lao động sản xuất và trung thành với Đảng của mọi tầng lớp người trong xã hội. Họ cần có kế hoạch để không ngừng nâng cao đời sống về mọi mặt. Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bác khẳng định, dù khó khăn, hy sinh mất mát nhưng thắng lợi là tất yếu. Về phong trào cộng sản quốc tế, Bác tỏ nỗi đau xót trước sự bất hòa của các Đảng anh em trong giai đoạn lịch sử ấy và tin tưởng sự đoàn kết ấy sẽ trở lại. Về xây dựng đất nước sau chiến tranh, Bác dặn dò, đầu tiên là phải chỉnh đốn Đảng, sau đó chăm lo việc đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với nước và tổ chức để giúp đỡ các gia đình có công với nước thoát đói nghèo, có công ăn việc làm lâu dài. Ngay cả những nạn nhân của xã hội cũ (trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu...) thì phải giáo dục, cải tạo, giúp đỡ họ trở thành người lương thiện. Bác còn đề nghị Nhà nước miễn thuế nông nghiệp cho nông dân một năm. Sau đó Đảng và Nhà nước đã thực hiện điều mong muốn đó của Người. (Tiến hành trong 2 năm: 1989- 1990).

Xuyên suốt cả công việc ấy, Người dặn dò, tất cả đều phải do Đảng Cộng sản Việt Nam đứng ra tổ chức, thực hiện để tạo một hiệu quả lớn nhất.

Di chúc có đoạn nhỏ, nói về việc riêng của Bác. Bác yêu cầu mọi người không được tổ chức điếu phúng linh đình khi Bác qua đời, bởi làm như thế vừa tốn tiền của, vừa mất thời gian của mọi người. Bác yêu cầu phải hỏa táng mình, dành một nửa tro xương cho miền Nam, một nửa cho miền Bắc và mọi người cũng nên làm như thế khi qua đời (nếu có điện thì điện táng) vừa để tiết kiệm đất cho việc sản xuất và xây dựng, vừa để giữ gìn tốt vệ sinh môi trường. Vấn đề Bác đặt ra lúc ấy thật quá mới mẻ và có ý nghĩa tiên phong mang tính chiến lược. Tuy nhiên, cần giữ thi hài Bác để nhân dân cả nước và nước ngoài đến thăm viếng, nên Đảng và Nhà nước ta đã không thực hiện ý nguyện này của Người.

Với những nội dung như thế, rõ ràng di chúc của Người là chương trình hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong quá khứ, hiện tại và cả mai sau. Nó không những mang ý nghĩa thực tiễn mà còn có giá trị nóng hổi thời sự lâu dài.

Triệu triệu người đã khóc khi đọc và nghe những lời trăng trối ấy của Người. Người dân khóc vì thấy công lao với nước của Bác thật lớn lao mà Bác nhận về mình quá nhỏ bé, ít ỏi.

Để bản viết bộc lộ những nhận thức lịch sử xã hội và quan điểm chính trị cũng như tình cảm trong sáng của mình, Bác đã có một bố cục hợp lý, lôgíc. Đó là yếu tố quan trọng nữa tạo nên sự hấp dẫn của di chúc.

Mở đầu di chúc Bác đã viết: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn. Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta”.

Toàn bộ đoạn trên, không phải Bác viết từ ngày đầu, mà là viết từ ngày 10/ 5/ 1969 và chữa lại vào ngày 19/ 5/ 1969, ngày kết thúc của việc viết di chúc. Mấy giờ trước đó, Bác đã dự và nắm vững tình hình chiến sự cả hai miền Nam Bắc và thời sự thế giới từ Hội nghị Trung ương Đảng họp ở nhà khách Hồ Tây, trở về nhà, phấn khởi, cảm xúc dâng trào, Bác đã viết đoạn văn ấy.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân hai miền Nam- Bắc những tháng ngày đó ác liệt, gian khổ biết bao. Lời mở đầu ấy của Người đã cổ vũ mạnh mẽ, làm tăng thêm niềm tin thắng lợi trong chiến đấu, lao động của mọi người. Nó như một hồi trống giục, điệu kèn xung trận giục giã bước chân kháng chiến chống giặc của mọi người.

Tiếp đó, sau những câu nói lý do phải viết di chúc, Bác Hồ lần lượt nói về Đảng- về Đoàn viên thanh niên- về nhân dân lao động- về cuộc kháng chiến chống Mỹ- về phong trào cộng sản quốc tế- sau cùng là về việc riêng. Trong phần phụ lục, sau này Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa VI công bố, mọi người còn đọc thấy những lời dặn dò của Bác về những công việc cần kíp trong xây dựng đất nước sau chiến tranh và việc tiến hành hỏa táng mình. Cuối cùng là lời chào và lời chúc của Bác với mọi người.

Bố cục ấy chặt chẽ, hợp lý, lôgíc biết bao. Phong cách ấy, chúng ta đã từng gặp ở “Tuyên ngôn độc lập” (2/ 9/ 1945), ở “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (12/1946)...

Tính khoa học trong việc viết di chúc của Bác còn biểu hiện ở phong cách lao động trí óc mê say, cẩn trọng, tỉ mẩn. Bác đã sửa chữa rất kĩ lưỡng, cặn kẽ từng chi tiết, từng câu, từng chữ. Ví dụ, câu “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn”, Bác viết trước đó, thì hai hôm sau, Bác đã viết thêm sau câu đó là “dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa”, và câu “... bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ chúng ta trong cuộc chống Mỹ cứu nước”, Bác đã chữa lại là “... giúp đỡ cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta”. Trong câu “Năm  nay tôi vừa 79 tuổi, đó là lớp người “xưa nay hiếm”, Bác đã chữa chữ “lớp” thành chữ “hạng”. Trước đó, Bác viết: “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc để thăm hỏi đồng bào, cán bộ và chiến sĩ” thì sau đó Bác đã gạch bỏ hai chữ “thăm hỏi”, thay vào đó hai chữ “chúc mừng”, và thêm hai chữ “anh hùng” vào cuối câu đó. Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi...” viết lần trước, lần sau, Bác bỏ chữ “tuổi”, thay vào đó chữ “xuân”. Tương tự, câu “Phòng tôi phải đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác” lần sau, Bác bỏ chữ “phải” thay vào đó chữ “sẽ”...

Di chúc là lời người sắp phải vĩnh viễn đi xa, thường chứa những lời buồn thương, nuối tiếc, thế mà trong di chúc của mình, Bác có lối viết rất hóm hỉnh, phóng khoáng. Câu “Phòng tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin...” đã nói lên điều đó. Bác đã dẫn câu thơ của Đỗ Phủ, nhà thơ đời Đường Trung Quốc: “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”, để bình thường hóa sự ra đi vĩnh viễn của con người. Vì đó là quy luật của tạo hóa không ai cưỡng lại được. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, đoạn Thúy Kiều tiễn Kim Trọng về Liêu Dương chịu tang chú mà lòng mình đinh ninh lời thề thủy chung và hy vọng có ngày tái ngộ:

 

                               “ Còn non, còn nước, còn dài

                       Còn về còn nhớ đến người hôm nay”

Bác đã phổ câu thơ đó trong di chúc của mình:

                   “Còn non, còn nước, còn người

                   Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”

Tinh thần lạc quan đó khiến di chúc của Bác đã gieo những niềm tin hy vọng về cách mạng Việt Nam vô cùng sáng lán trong lòng mọi người.

Năm mươi năm, Bác Hồ đã đi xa:

                               “Như thế, Người đi... phút cuối cùng

                               Nhẹ nhàng, thanh tịnh rất ung dung

                               Lời di chúc gửi, êm bên gối

                               Quên nỗi mình đau, để nhớ chung”

                                                                   (Theo chân Bác- Tố Hữu)

Những yếu tố khoa học trong quá trình viết, khiến di chúc của Bác hấp dẫn người đọc, người nghe.

H.N.D

 

Tài liệu tham khảo: “Bác Hồ viết Di chúc và Di chúc của Bác Hồ” (NXB Chính trị Quốc gia và NXB Kim Đồng - 2005). Hồi ký của Vũ Kỳ (Thư ký riêng của Bác) - Thế Kỷ ghi.

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter