• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Tà áo màu da cam
Ngày xuất bản: 18/07/2018 2:43:53 SA

 

Truyện ngắn của Thúy Hợp

 Sau buổi chào cờ, thầy Huy hiệu trưởng thông báo với chúng tôi:

- Trường mình có 7 cô giáo và một số học sinh sơ tán từ Hà Nội về. Các em phải đoàn kết, giúp đỡ các bạn mới về đấy nhé!

Cô Diệu Nga bước vào. Con gái Hà Thành óng ả, dáng dấp thuỳ mị, giọng nói nhẹ nhàng như dòng suối chảy êm đềm trong bộ tân thời trắng muốt. Trong mắt bọn trẻ nông thôn chúng tôi, trời ơi, cô như nàng tiên trong truyện cổ tích bà tôi thường kể.

Cô giáo Diệu Nga về chủ nhiệm lớp tôi, vì nguyên lớp tôi có 20 học sinh Hà Nội về sơ tán. 31 học sinh cũ chúng tôi hoà nhập với các bạn học sinh Hà Thành thật là nhanh nhờ các trò chơi dân gian như chơi ô ăn quan, nhảy dây, thả diều... Hầu hết các bạn Hà Nội không có bố mẹ đi cùng, bởi người lớn còn phải ở nhà đi làm, hàng tháng xếp sổ đong gạo rồi mang về cho các con, sau đó lại trở về thành phố làm ở các công trường, nhà máy. Do vậy mỗi gia đình nông thôn chúng tôi nhận 4 đến 5 bạn về nhà, cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Cơm chẳng có là bao, chỉ có khoai, sắn, mỳ nhưng các bạn Hà Nội có vẻ thích thú vì được thoải mái ăn ngô, khoai. Chơi đùa chán, chúng tôi lại nhảy tùm xuống sông tắm mát. Dòng sông Châu Giang trong xanh, mát rượi đã gắn liền với tuổi thơ của chúng tôi. Chả thế mà người làng tôi đặt ra câu vè: “Sông Châu Giang vừa trong, vừa mát/ Đường Châu Giang đất cát dễ đi”. Cùng lứa tuổi tôi, tuy còn nhỏ, nhưng mỗi đứa một việc giúp đỡ bố mẹ. Tôi thì vừa chăn bò, vừa học bài. Đang mải học, bỗng tôi giật mình quay lại. Tôi xấu hổ lấy hai tay bưng mặt khi thấy chú bộ đội mặc bộ quần áo quân phục chỉnh tề, vai đeo ba lô tiến lại gần. Chú thấy tôi xấu hổ nên chào tôi rồi hỏi:

- Đây là thôn nào hả cháu?

     Tôi lấy lại bình tĩnh rồi trả lời chú:

- Thôn cháu là thôn Tường Thuỵ chú ạ!

- Thế thì đây là C2, Trung đoàn 581 đóng quân phải không cháu?

     Tôi vừa gật đầu vừa trả lời chú:

- Vâng!

     Chú bộ đội chào tôi rồi đi thẳng về làng. Tôi nghe tiếng thằng Hà gọi to:

- Thắm ơi! Ẩn đi. Thầy giáo đấy! Thầy hiệu trưởng đấy!

     Lũ bạn tôi chạy hết vào vườn náu, còn tôi vẫn đứng ngơ ngác, chưa hiểu gì cả. Thầy hiệu trưởng đến gần tôi. Tôi chào thầy giáo. Thầy đăm đăm nhìn tôi, ánh mắt đầy trìu mến. Tự nhiên tôi thấy ái ngại rồi hỏi thầy:

- Thưa thầy! Thầy đi đâu về đấy ạ!

Bỗng thầy bước lại ôm ghì tôi vào lòng như một đứa con gái lâu ngày gặp lại. Trong vòng tay thầy, bao nhiêu câu hỏi xuất hiện trong đầu. Mấy đứa thậm thụt trong vườn mía chạy ra thấy thầy giáo vẫn ôm chặt tôi trong lòng thì đứng im phăng phắc. Tôi thầm nghĩ, có lẽ thầy đang khóc trong lòng như cái Lan, cái Thuỳ người Hà Nội vẫn nói. Tôi gỡ tay thầy ra rồi cầm thừng dắt bò về làng, còn thầy dắt xe đạp đuổi bò cho tôi. Mấy đứa trẻ vẫn chạy theo sau.

Thằng Hà, thằng Hiếu thỉnh thoảng lại cầm đá ném đi ném lại vào vườn mía loạt soạt, rồi lại cười ồ. Thầy hiệu trưởng lại quay nhìn mấy đứa nói:

- Các em cẩn thận kẻo ném vào đầu nhau.

Mấy đứa tinh nghịch chào thầy rồi chạy về trước, còn tôi và thầy đi sau. Bỗng thầy hỏi tôi:

- Bố mẹ em có khỏe không? Có quan tâm đến việc học hành của em nhiều không?

Tôi thẹn quá chẳng biết trả lời thầy câu gì, chỉ trả lời thầy bâng quơ.

- Có ạ!

Về tới cổng thì bố mẹ tôi cũng vừa đi làm về. Thầy Huy tay bắt mặt mừng, còn mẹ tôi thì ngạc nhiên thấy thầy hiệu trưởng đi cùng con mình. Bà tự hỏi “Không biết con Thắm nhà mình mắc lỗi gì với nhà trường mà thầy kèm nó về” nhưng mẹ không dám nói ra. Tay mẹ xách túm gạo vừa đong chịu. Tôi biết là nhà chỉ còn một ít gạo, mẹ bảo ăn tạm mỗi người một bát lấy sức đi làm, trưa về mẹ qua nhà bác Thoan đong chịu mấy ống gạo ăn tạm. Sắp đến mùa gặt rồi, gặt về rồi mới có gạo ăn. Cái khăn vuông trên đầu mẹ tôi là một công cụ hữu ích, khi nhà khó khăn, lúc giáp vụ khi đi làm về một là mẹ vay, hai là mẹ đong chịu, cái khăn vuông trên đầu mẹ lại gỡ ra túm gạo vào. Hôm nay cũng vậy, khi gặp tôi và thầy hiệu trưởng trên đường về làng mẹ tôi len lén giấu bên người. Tôi biết đấy là túm gạo nên định xách giùm mẹ, nhưng mẹ không cho. Mẹ dắt bò cho tôi, tay xách túm gạo, còn tôi thì lùi lại ngả nón nhặt đầy một nón hoa gạo đỏ. Trời ơi, sao đẹp thế! Làng tôi có bao nhiêu là cây gạo. Tôi đếm trên đầu ngón tay chẳng hết. Hỏi những người lớn tuổi, các cụ bảo nó mọc từ bao giờ không ai biết, khi trong làng đông người quá ra ngoài bãi ở đã thấy hai bên đường cứ tháng ba là hoa đỏ rực rụng xuống gốc cây già. Nháy mắt tôi đã nhặt đầy nón hoa gạo. Tôi chạy theo bố mẹ về. Bố tôi ra hiệu cho mẹ về trước, còn bố và thầy giáo ghé vào tai nhau thì thầm rồi thầy lên xe đi trước. Bố tôi tỏ ra bất ngờ rồi đi từng bước, nét buồn hiện trên khuôn mặt. Tôi lẽo đẽo theo sau. Về đến nhà bố tôi ném cái cuốc đánh bịch, không rửa chân tay mà vào nhà nằm luôn. Mẹ giục tôi rửa chân tay mặt mũi rồi nghỉ ngơi soạn bài ăn cơm trưa rồi đi học. Tôi vừa ra sân thì thấy mẹ tôi hỏi bố:

- Bố Thắm ốm à? Sao mà chưa kịp rửa chân tay đã lên nằm vậy?

     Bố tôi không trả lời. Mẹ lại lay người bố rồi gọi tôi:

- Thắm đâu.

Bỗng bố tôi lấy tay bịt miệng mẹ, nói:

- Bà đừng gọi nó.

Rồi bố vít cổ mẹ thì thầm, vừa nói bố như vừa khóc.

- Mình sắp mất con rồi!

Mẹ tôi ngạc nhiên ngơ ngác. Bố lại bảo mẹ tôi:

- Thôi, mẹ nó ra ngoài sắp cơm cho ông bà và con nó ăn để nó còn đi học.

Mẹ tôi thẫn thờ, lảo đảo bước ra. Bà ôm choàng lấy tôi. Tôi hiểu mẹ cố kìm nén mà không được. Còn tôi đã nghe hết những lời bố thì thầm với mẹ. Vậy tôi là ai? Tôi không thể hiểu được. Tôi chỉ biết khi tôi lớn lên tôi đã được bố mẹ chăm sóc. Nhiều lần tôi bảo mẹ:

- Mẹ đẻ thêm em bé cho con bế, con thích em lắm!

Mẹ trả lời loanh quanh. Nhưng có một lần cái Lan cùng lớp tôi nó bảo:

- Tao có em, mày không thể có em.Vì bố mày đi bộ đội bị nhiễm chất độc, nên mẹ mày đẻ ra em bé mà không nuôi được.

Tôi buồn, nhưng rồi cũng qua đi.

Nhà tôi có 5 người, hai ông bà ốm yếu quanh năm. Bố tôi thì bị sốt rét suốt. Tuy nhà chỉ có mình tôi ăn học, nhưng chi phí thuốc thang cho ông bà và bố cũng đã tốn kém lắm rồi. Nhiều lúc tôi thương bố mẹ, nhưng cũng chỉ biết gắng mà học như lời bố dặn thôi. Ngày chủ nhật may thì giúp bố mẹ chăm được con bò, thế mà bố vẫn không muốn cho đi. Nguyện vọng của bố tôi là tôi phải học thật giỏi, rồi thi vào đại học.

Ăn cơm xong, tôi chào bố mẹ rồi đi học. Vừa ra cổng thì gặp thầy hiệu trưởng đi cùng một người. Tôi reo lên:

- A! Chú bộ đội. Chú bộ đội lúc sáng đây!

Vừa nói tôi vừa ra tận nơi cầm tay chú bộ đội hỏi:

- Chú đã tìm thấy đơn vị chú chưa?

Chú bộ đội vuốt tóc tôi mỉm cười. Tôi chào chú bộ đội và thầy giáo rồi đi học. Thầy hiệu trưởng nhìn theo tôi, rồi hai người rẽ vào nhà. Bố mẹ tôi ra đón thầy hiệu trưởng và chú bộ đội. Bố tôi vẫn nhìn vô cảm xa xăm. Mẹ vụng về rót nước mời hai người, đôi bàn tay run rẩy như có điều hệ trọng sắp đến với gia đình. Ông bà nội già rồi nên chẳng mấy quan tâm đến việc của con cái. Thấy tôi không đi học nữa quay về, bà nội hỏi:

- Sao hôm nay nhà trường cho nghỉ à?

Tôi lấy tay bịt miệng bà, nói:

- Bà đừng nói to, cháu trốn bố mẹ cháu.

Bà nội gật đầu rồi mỉm cười với hàm răng đen bóng và khuôn mặt hiền hậu. Bà là người luôn bênh vực tôi những lúc tôi có lỗi. Tôi ngồi bóp chân cho bà, thấy ngoài nhà im phăng phắc, chủ và khách 4 người đều im lặng. Mãi mới thấy chú bộ đội lên tiếng hỏi thăm sức khoẻ bố mẹ. Rồi chú tự giới thiệu:

- Em là Minh, bạn cùng chiến đấu với anh Hữu. Em ra Bắc đã hai năm rồi, em vừa điều trị, vừa tìm cách liên lạc với anh Bường. Anh Bường là hậu cần của trung đoàn. Anh Bường bị sức ép nên đơn vị giải quyết cho anh ấy ra Bắc. Trên đường ra Bắc anh ấy có mang theo một bé gái 6 tháng tuổi. Nếu cháu còn thì năm nay cháu sắp bước sang tuổi 12 rồi.

Nói rồi chú bộ đội lại tiếp luôn:

- Hai năm ra Bắc điều trị may chỉ được mấy tháng, còn lại hai năm mới tìm thấy tin của anh Bường. Rất tiếc anh đã mất nửa năm trước rồi, nhưng cũng may anh ấy đã để lại bức thư và một số di vật của bố mẹ cháu bé.

Chú bộ đội đưa bức thư của chú Bường để lại cho bố tôi đọc. Khi đọc xong bức thư, bố nói từng câu như không muốn nhắc lại cái kỷ niệm cũ.

- Tháng 10 năm 1960, tôi làm dân công hoả tuyến mở đường vào Nam. Tôi ốm yếu, sốt rét liên tục nên được đơn vị gửi xe về Bắc. Trên xe có chú Bường bế đứa con gái thi thoảng lại khóc ngằn ngặt vì đói. Thấy vậy tôi cho bé ăn cả lương khô. Cứ no là con bé lại ngủ li bì. Con bé rõ là ngoan, cả xe ai cũng truyền nhau bế. Yên một lúc, con bé lại khóc, anh Bường yếu quá, da tái nhợt, chuyển bé gái cho tôi. Từ lúc đó con bé theo tôi về đến đơn vị. Thỉnh thoảng tôi nhai cho nó miếng lương khô. Có đoạn đường không gần nhà dân, chưa có nước mà nó khóc quá vì vừa đói, vừa khát, không còn cách nào tôi nhổ nước miếng để cho con bé qua cơn khát. Thế rồi về đến đơn vị, thấy tôi yêu thương con bé, anh Bường hỏi tôi:

- Cậu đã có vợ chưa?

Tôi trả lời anh:

- Em có vợ rồi mà chưa có con.

Anh Bường tay run run, nắm chặt bàn tay tôi, nói:

- Thế thì anh hãy nuôi lấy cháu bé này. Mẹ nó là dân công hoả tuyến cùng với tôi. Cô ấy có con cùng với một đồng chí bộ đội, cô ấy bị đá đè khi đang mở đường. Trước lúc cô ấy chết, cô ấy trao lại cho tôi cái này.

Vừa nói bố tôi vừa lôi ra đưa cho thầy giáo và chú bộ đội một tà áo mầu da cam có ghi dòng chữ “Anh yêu em, hãy đợi anh nhé!” và vẽ hình trái tim lồng có hai chữ cái HL. Rồi bố tôi lại kể tiếp:

- Tôi nghe anh Bường đưa cháu về nhà, lúc đầu mẹ nó hiểu lầm tôi. Bà ấy bảo “Chắc anh lại gửi cô nào rồi họ trả con cho mà mang về chứ gì?”. Tôi giải thích mãi cô ấy mới nghe ra. Thế rồi chúng tôi cũng không thể có con. Vì tôi đi bộ đội, đánh thắng Pháp xong rồi lại đi dân công hoả tuyến. Chẳng biết mình nhiễm chất độc từ lúc nào nữa. Cũng may mà có con bé, để vợ chồng tôi như cây có rễ. Tôi đặt tên cho con bé là Thắm. Bởi vợ tôi tên là cô Thái. Còn anh Bường bảo mẹ con bé tên Liên, quê ở đâu anh không rõ lắm. Tôi hỏi bố nó là ai, nhưng anh ấy cũng không rõ.

Vừa nghe đến đấy thầy hiệu trưởng bưng mặt khóc lên thành tiếng nức nở. Thì ra thầy Hiệu trưởng Huy là em trai của liệt sĩ Hà Văn Hữu ở xóm Đông, vừa báo tử tháng trước. Chú bộ đội nói:

- Khi anh Hữu bị thương, tôi ôm anh Hữu vào lòng gào lên “Đại đội trưởng ơi, xin đừng chết”. Anh Hữu cố nắm chặt tay tôi, dặn dò cẩn thận, rồi bảo tôi cầm chiếc ba lô của anh về tìm anh Bường vì anh biết Liên đã hy sinh, còn anh Bường đang nuôi con gái mình qua một người bạn. Tôi đã lặn lội tìm đến nhà anh Bường nhưng anh Bường đã mất. Sau hai năm tìm kiếm, hôm nay anh Hữu đã phù hộ cho tôi tìm được cháu bé. Vợ chồng anh Thắng đã nuôi cháu đến nơi đến chốn.

Vừa nói xong thì nghe tiếng nức nở trong buồng, bà nội ôm Thắm trong lòng, mắt bà nhoè đi trong nước mắt. Thì ra chú bộ đội đã gặp thầy Huy, biết Thắm là cháu của thầy Huy từ lúc dắt bò ngoài đường. Đang nghĩ thế thì bố tôi chạy sang phòng bà, thấy tôi đang khóc, bố gọi:

- Thắm đấy à? Bố tưởng con đi học rồi?

Tôi càng khóc to. Vì hôm nay nghe xong câu chuyện của mọi người tôi mới hiểu mọi chuyện. Tôi ôm chặt lấy bố rồi nói với mẹ:

- Con yêu bố mẹ!

Thầy Huy và chú bộ đội cũng sang phòng, cả nhà tôi ai cũng tràn nước mắt vì vui mừng. Bố dắt tôi ra khỏi phòng, tay bố chỉ vào thầy hiệu trưởng:

- Thầy Huy là chú ruột của con đấy! Gia đình của con ngay ở đây mà bố không biết. Bố con, Hà Văn Hữu đã hy sinh rồi. Còn mẹ con thì phải tìm sau, bởi bác Bường đã mất rồi, vạt áo kỷ niệm của bố tặng mẹ con bác Bường trao cho bố đây, nhưng không ghi địa chỉ của mẹ con.

Thầy Huy ôm tôi vào lòng rồi giới thiệu:

- Chú bộ đội đây là chú Minh, bạn cùng chiến đấu với bố cháu đấy!

Chú Minh vuốt lên mớ tóc vàng của tôi rồi nói:

- Cháu phải học thật giỏi vì bố cháu đã hy sinh dũng cảm lắm đấy!

Nói rồi chú Minh chào bố mẹ tôi, bắt tay thầy Huy, chú xin phép gia đình ra về. Dù bố mẹ tôi và chú Huy giữ mãi nhưng chú Minh nói:

- Cháu phải về cho kịp tàu vào đơn vị. Cháu ra ngoài Bắc điều dưỡng, giờ cũng đã khoẻ mà lại tìm được con gái cho thủ trưởng Hữu là cháu vui lắm. Đợt này vào Nam, khi nào miền Nam giải phóng cháu mới về. Nói rồi chú khoác ba lô lên vai giơ tay chào mọi người rồi thoăn thoắt bước đi. Con đường mát rượi, hoa gạo rơi xào xạc màu đỏ tươi theo chân chú. Tôi thầm nghĩ “Vì cứu nước mà bao người đã phải hy sinh trong đó có cha mẹ mình. Mỗi người một hoàn cảnh hy sinh khác nhau nhưng đều chung mục đích lớn nhất là vì độc lập tự do cho đất nước”.

Tôi sang nhà chào ông bà nội nhận họ hàng rồi xin ông bà cho tôi tiếp tục ở lại với bố mẹ nuôi. Gia đình ai cũng đồng ý và yêu thương chăm chút tôi như ngày tôi còn bé tí. Bố nuôi đã trao cho tôi di vật của bố tặng mẹ trước khi vào trận đánh. Tà áo màu da cam với những dòng chữ viết bằng máu. Tôi lặng người trước tình yêu của bố mẹ tôi. Yêu nhau là thế, nhưng tình yêu Tổ quốc vẫn đặt lên hàng đầu. Tôi ôm ghì tà áo màu da cam của bố, một kỷ vật thiêng liêng mà cả đời tôi trân trọng và hứa trước vong linh của bố mẹ sẽ luôn là một đứa con ngoan và trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Cuối cùng ngày giải phóng miền Nam đã đến. Ai cũng vui mừng đón người thân trở về. Hoa gạo quê tôi vẫn bay trong gió. Tôi nhìn theo cánh hoa cuối cùng rụng xuống mà lòng bỗng thấy bâng khuâng...

 

T.H

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter