• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Hắt Pựt của người Tày Xuân Lai
Ngày xuất bản: 22/07/2019 8:11:53 SA

         Hoàng Thị Na

 

Hắt Pựt (làm Pựt) người Tày ở Xuân Lai hay gọi là hắt khoăn, hắt Mụ (làm vía, làm Mụ), là nghi lễ, diễn xướng dân gian với mục đích cầu cúng giải hạn, cầu phúc, cầu lộc, cầu tài, cầu trường thọ. Tuy nhiên, người Tày ở Xuân Lai chủ yếu thực hiện nghi lễ này cho người già. Theo quan niệm của người Tày ở đây thì con người tuổi càng cao số mệnh càng ngắn nên dễ sinh bệnh tật mà chết, do đó, muốn sống lâu, khỏe mạnh thì phải hắt Pựt. Nghi lễ tổ chức không tốn kém lắm. Khách mời chủ yếu là con cháu, anh em trong họ, hàng xóm thân thiết.

Lễ vật bao gồm: một mâm Say đặt ở gian trước bàn thờ, trên mâm để 3 bát gạo, 5 cái chén, một bát nước lã có cành thanh táo, một con gà luộc; một bồ vía bọc bằng giấy đỏ đựng trong nia đặt ở giữa nhà; 3 lầu và 3 mâm đặt ở gian trong: mâm thứ nhất là mâm mệnh số, mâm thứ hai là mâm khoăn (vía), mâm thứ ba là mâm Mụ. Mâm Mụ có đôi bánh moọc màu hồng và một đôi bánh giày màu tím (Đôi bánh moọc tượng trưng cho đôi bầu vú căng tròn của mẹ, cặp bánh giày màu tím tượng trưng hai núm vú đã nuôi con khôn lớn); lễ vật còn có một cái kỳ ba chân, một cây chuối, một cây bưởi hoặc cây tre có cả rễ, một đôi cầu vía; một túi đựng quần áo của các thành viên trong gia đình...

 

Khi các lễ vật chuẩn bị xong, đèn, hương trên bàn thờ và các mâm lễ được thắp lên, thầy Pựt cả và hai thầy phụ bắt đầu mặc áo, đội mũ và tiến hành cúng mời tổ tiên, cúng thần linh, thổ địa rồi giải vẻ (quét ví), xua đuổi những ô uế, tạp bẩn ra khỏi nhà mới bắt đầu vào lễ chính. Vào lễ, thầy Pựt trong vai Quan Say đưa các lễ vật lên dâng lễ Tổ để cầu phúc, cầu may, tiếp vía cho người già, cầu trường thọ. Thầy Pựt chân xóc mác rính (bộ nhạc xóc), tay múa quạt, miệng hát. Tiếng nhạc xóc và lời hát uyển chuyển, lúc rộn rã, lúc khoan thai theo từng trường đoạn. Con người muốn dâng được lễ Tổ, muốn đem được ước vọng của mình, của người cần được nối số đến với đức Tổ, phải vượt qua muôn vàn khó khăn, vất vả. Thầy Pựt cả hát cúng, các thầy phụ cùng pang hinh (hát theo). Thầy Pựt hát tập hợp binh mã, đưa các lễ vật lên đường. Thầy Pựt gọi Chất Chỏ (Tổ tiên 7 đời), gọi Thổ Công dẫn đường đi. Hành trình đi dâng lễ qua đồng Mụ Sa A Mụ Nùm; qua cây bưởi trên thác, gốc dáy trên đá, đến đồng cỏ cứa, vực trâu đằm, vịt lội, qua rừng già chó sói… Thầy hát đến đoạn nhìn thấy mồ mả tổ tiên thì dừng hát, thôi xóc nhạc. Lúc này Nàng Hương (người con gái trong sạch thắp hương lễ) bưng khay có hai chén rượu, hai chén trà dâng trước mặt nhà Say. Thầy Pựt hướng về các lễ vật, báo cáo với tổ tiên; có con vía nào quẩn quanh bên mồ mả thầy gọi về, thu vào túi áo vía, xong, thầy dặn tổ tiên, mồ mả ở lại bình an. Thầy Pựt lại tiếp tục hát gọi quan quân lên đường đến nơi căng, khỉ ăn mừng, rùa, ba ba cấy lúa, rái cá dạy con lặn, đến đồi tròn cổ thụ, qua nơi ông ngủ ngày, qua đồng trai tân, gái đẹp, nơi gái vụng trăm đường, nơi trai đần khó bảo, khu 12 nàng ủ rượu, đến rừng già, nơi ở của Dạ Dìn có cái gậy chỉ gốc thì chết, chỉ ngọn thì sống. Thầy Pựt hát đến đoạn lấy được gậy Dạ Dìn thì nghỉ một lúc để chuẩn bị Khảm hải (Vượt biển).   

Hắt Pựt có nhiều đoạn và trường đoạn khác nhau, Khảm hải là một trường đoạn hay nhất, hấp dẫn nhất, được diễn vào lúc đêm khuya, khi tiếng gà đã báo hiệu một ngày mới, đoạn này kéo dài chừng hai tiếng đồng hồ. Lúc này thầy Pựt không trong vai Quan Say nữa mà trong vai Sa Dạ Sa Dồng (một nô lệ chèo thuyền), vượt biển, chở lễ vật lên dâng lễ Tổ. Lời hát cảm động, khiến nhiều người rơi nước mắt, nỗi lòng người nghe như theo Sa Dạ Sa Dồng vượt biển, cùng xót thương cuộc đời của Sa Dạ Sa Dồng. Thầy Pựt dẫn dắt người xem, người nghe không rời ra được bằng những lời hát tha thiết: “Cỏi dú nớ ăn sích mạy bay/ Cỏi dú nớ ăn đây mạy viền/ Ăn đây sam vằn hắt/ Ăn đây chất vằn tó/ À lới, đét nàng ới!/ Dám lồng tháng tài ết/ Mìa ngò nhằng bâư yểm đâư đang/ Kẻ hẩư pây seo tàng tối khảu/ Đảy boóc se hung hang/ Đảy chang se pây tàng khảm hải lố nò!...” (Ở lại nhé sàn thích gỗ bay/ Ở lại nhé thang gỗ viền/ Chiếc thang ba ngày làm/ Cầu tháng bảy ngày đóng/ Chao ơi! Trời đất ơi!/ Bước xuống bậc thứ nhất/ Vợ chỉ còn chiếc yếm che thân/ Cởi trao mang theo đường đổi gạo/ Được ống để nấu ăn/ Nửa ống để dành phần vượt biển!…). Tiếp đến là lời hát thương Sa Dạ Sa Dồng dù nghèo khó, chết thê thảm thành kiếp khác nhưng cuộc sống vẫn thắm đượm tình người. Cuộc vượt biển của Sa Dạ Sa Dồng diễn ra rất khó khăn, vượt qua 12 rán nước đầy thuồng luồng, quỷ dữ chặn đường. Lời hát đôi lúc là tiếng lòng trầm buồn: “Khỏ bấu thai chắng nhằng/ Chèo  pây lố chèo pây/ Nặm hải đeng pền lượt/ Nặm hải đướt pền phày/ Khôm lai tởi Sa Dồng khảm hải… lố nò” (Khổ không chết mới sống/ Chèo đi thôi chèo đi/ Nước biển đỏ như máu/ Nước biển nóng như lửa/ Cay đắng lắm đời Sa Dồng vượt biển…). Người Tày sống ở miền núi, không có biển. Biển ở đây có thể là không có thật, đó là biển khổ luân hồi, biển khổ dưới âm ty đầy ma quỷ chặn đường, tương ứng với những gian nan mà con người phải trải qua ở trần gian. Người Tày Xuân Lai quan niệm, con người vượt qua được những bể ải gian nan ấy thì mới thật sự thành tâm, có nghị lực to lớn, xứng đáng được đức Tổ ban cho Phúc- Lộc- Thọ- Khang để sống.

Khảm hải xong, lễ vật đã được đưa đến nơi, thầy Pựt hát kiểm lễ và nộp lễ. Thầy đến nơi giải hạn có cái kỳ ba chân, một con gà sống, một cái nia có ít gạo và quân hạn. Nếu giải được trực: Thu, Khai, Bình, Định thì tốt. Xong, thầy Pựt đốt mào làng một mắt thế thân, thế cả ốm đau bệnh tật cho cả nhà. Thầy Pựt thả con gà ra, nếu sau đó con gà gáy lên dõng dạc là điều tốt. Ở bồ vía, con cả trong gia đình sẽ là người đặt cái bánh moọc to bên dưới bồ; thầy Pựt cắm nõn chuối thẳng giữa bồ. Con cháu lần lượt múc gạo đổ vào bồ, càng đầy càng tốt với mục đích tiếp vía cho người già. Mọi người vừa múc gạo, vừa chúc gia chủ, người được làm Pựt mạnh khỏe, may mắn, trường thọ. Hết lượt, con út cầm bánh moọc úp ngược trên bồ vía (đóng bồ). Thầy Pựt lấy áo của vợ chồng gia chủ vây quanh bồ vía, cắm một cái vòng bạc, gương, lược, chín túi pao lường đặt lên trên chín cái sọt vía, mỗi sọt có một bông lúa, một đuông vàng để treo vào chín bậc cầu thang. Cầu thang bằng tre sẽ được bắc ngang trên xà nhà, để bồ vía có cắm cờ vía xung quanh, ngụ ý từ nay chín con vía sẽ giàu có, sung túc. Giải hạn xong, thầy Pựt lại hát dẫn đoàn quân nộp lễ trở về và kết thúc cuộc hát. Thầy Pựt ra cổng đóng hai cầu vía để người được làm lễ thêm mạnh khỏe. Con cháu đem cây chuối hoặc cây tre đi trồng chỗ thích hợp để cây lên xanh tốt. Công việc kết thúc cũng là lúc các mâm cơm được bày ra, mọi người cùng ăn uống vui vẻ, mừng cho gia đình từ nay hết vận hạn, mạnh khỏe, sống lâu, ấm no, hạnh phúc.

Đến nay, hắt Pựt của người Tày ở Xuân Lai- Yên Bình vẫn được bảo tồn. Với ca từ đặc sắc, nghệ thuật diễn xướng tài tình, hắt Pựt lưu giữ được những nét đẹp của văn hóa nghệ thuật Tày và giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng Tày Yên Bình. Đây là nghi lễ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, hướng về nguồn cội tổ tiên, răn dạy con cháu biết quan tâm đến ông bà, cha mẹ, hướng con người tới cái thiện và giúp con người có thêm ý chí, nghị lực để vượt qua những khó khăn, vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

                                                                                                                                    H.T.N

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter