• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Đôi điều cảm nhận về "Tuyển tập Văn xuôi Hà Lâm Kỳ"
Ngày xuất bản: 27/02/2017 3:37:00 SA

Nhà văn Vũ Xuân Tửu 

Tuyển tập Văn xuôi Hà Lâm Kỳ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2014, gồm có 22 tác phẩm, thuộc các thể loại: 2 tiểu thuyết (Gió Mù Cang, Vượt rừng), 3 truyện dài (Kỷ vật cuối cùng, Chim ri núi, Làng nhỏ), 17 truyện thiếu nhi (Cái chổi bông, Đi tìm chú cuội, Mèo con đi dự hội,… và những câu chuyện cổ tích, huyền thoại (Con trai bà Chúa Nả, Bà Khó đánh trời…).

Một số tác phẩm trong tuyển tập này, tác giả đã có sách xuất bản riêng, như: Kỷ vật cuối cùngChim ri đá, trong cuốn Kỷ vật cuối cùng, Nxb Hội Nhà văn, năm 2008; truyện Những đứa con lên núi, đổi tên là Vợ chồng người nông dân và bảy đứa con, in trong tác phẩm Lời bình sau cổ tích, của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Yên Bái, xuất bản 2011, vv…

   Như vậy, tác giả cho ta thấy, tác phẩm văn xuôi đã được xuất bản rất nhiều ở Trung ương và địa phương. Nhưng chỉ một số ít đưa vào Tuyển tập Văn xuôi Hà Lâm Kỳ, mà thôi.

 

   1. Phương pháp sáng tác:

   Mạch chủ đạo trong các tiểu thuyết, truyện dài của nhà văn Hà Lâm Kỳ là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Đặc trưng cơ bản của phương pháp này, về chủ đề tư tưởng là ca ngợi Đảng, Bác và chế độ XHCN, căm thù bọn thực dân, đế quốc, phản động. Nhân vật phân làm hai tuyến địch- ta rõ ràng. Đó là, nhân vật chính diện với những cán bộ chiến khu Vần, Việt Minh hoạt động tại xã Đại Lịch (Sơn, Hùng, thầy giáo Quý), Bộ đội vượt Trường Sơn vào Nam đánh Mỹ (Hà, Bắc, Tâm); nhân vật phản diện là quan Pháp (Soóc-xăng, Sô-nhe), bọn thống lý người Mông (Vàng Sống Chua), quan lại vùng Tày (Lý Bùi, Chánh Nự), mật thám vùng Thái (Quánh).

 

   Hiện nay, phương pháp sáng tác đã rộng mở, theo nhà lý luận phê bình Văn Giá, trong cuốn Đời sống và đời viết, Nxb Hội Nhà văn và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, năm 2005, với 4 loại hình nhân vật, thì có thể soi vào Tuyển tập Văn xuôi Hà Lâm Kỳ, như sau:

   - Nhân vật chức năng, thể hiện thông qua diện mạo bên ngoài, phẩm chất ổn định từ đầu đến cuối, còn gọi là loại nhân vật mặt nạ. (ví dụ: thần thánh trong các truyện cổ tích, huyền thoại).

   - Nhân vật loại hình, thể hiện tập trung đặc điểm của một loại người nào đó trong xã hội. (Ví dụ: Hoàng Văn Thọ, Lý Nủ Chư).

   - Nhân vật tính cách, có đời sống nhân vật, thế giới nội tâm sâu sắc (ví dụ: Quánh Chột, cháu Đèo Văn Long, trong tiểu thuyết Gió Mù Cang).

   - Loại nhân vật tư tưởng, có ý thức. (Ví dụ: Miu, trong tiểu thuyết Vượt rừng)

 

Như vậy, so sánh các nhân vật trong tác phẩm của Hà Lâm Kỳ, cả về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa và phương diện cách tân cũng có sự hàm chứa trong nhau và được chấp nhận, như lịch sử văn học đã và đang diễn ra.

 

   2. Thể loại:

   - Tiểu thuyết Gió Mù Cang, dài 60 trang, viết về du kích người Mông tham gia kháng chiến chống Pháp.

   - Tiểu thuyết Vượt rừng, dài 200 trang, viết về bộ đội miền Bắc, vượt Trường Sơn vào Nam đánh Mỹ.

   - Truyện dài Kỷ vật cuối cùngChim ri núi, cả hai dài 100 trang, viết về chiến công của đội du kích thiếu nhi Đại Lịch, tiêu biểu là Anh hùng lực lượng vũ trang Hoàng Văn Thọ.

   - Truyện dài Làng nhỏ, dài 80 trang, viết về quê hương làng Làn của tác giả.

 

   Theo cách phân loại của nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng, trong cuốn Tiểu thuyết đương đại, Nxb Văn hóa Thông tin, năm 2009, thì tiểu thuyết dài khoảng chừng 400 trang trở lên, tiểu thuyết ngắn khoảng 300 trang đổ lại. Tuy nhiên, ước định độ dài hay vắn của tiểu thuyết, cũng chỉ là tương đối mà thôi. Tôi thấy, có những truyện dài của Liên Xô, đếm được 250 trang.

   Như vậy, những tiểu thuyết của nhà văn Hà Lâm Kỳ, mà tôi vừa điểm ở trên, thuộc loại tiểu thuyết ngắn.

   Tiểu thuyết cực ngắn lại có đặc điểm riêng, độ dài khoảng trăm trang đổ lại. Nội dung cô đọng, xúc tích, ít nhân vật, giọng văn hàm xúc, chất chứa. Theo nhà lý luận văn học Mi-lan Kun-đê-ra (Tiệp Khắc), cuốn tiểu thuyết đúng như thực chất của nó… nhưng ở dạng cô đặc. Bản chất tiểu thuyết là chiêm nghiệm cuộc đời, thông qua nhân vật tưởng tượng. 

 

   Tiểu thuyết Gió Mù Cang mở ra không gian rộng lớn vùng Tây Bắc, với bối cảnh thiên nhiên hùng vĩ, nhân vật vạm vỡ, như Lý Nủ Chu, Giàng Sáy Tu, Vàng Seo May, Quánh, Vàng Sống Chua… Thời gian đề cập là cuộc kháng chiến chống Pháp của du kích Mông. Hơi tiếc là dung lượng tiểu thuyết lại quá ngắn. Nếu mở rộng ra thành một tiểu thuyết dài trên 400 trang thì mới thỏa mãn vấn đề đã đặt ra. Hoặc là, tác giả có thể viết tiếp, đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật, phong tục tập quán rẻo cao; hoặc là chuyển thể thành kịch bản phim thì hay biết mấy.

   Tiểu thuyết Vượt rừng, mang không khí chiến tranh với những nét tươi mới, sinh động của người trong cuộc. Viết về cuộc hành quân vượt Trường Sơn thì nhiều tác giả đã đề cập trong hồi ký, hoặc tác phẩm văn học, nhưng Vượt rừng của nhà văn Hà Lâm Kỳ lại có nét riêng. Đó là những sinh viên dân tộc thiểu số Việt Bắc, xếp bút nghiên lên đường ra trận. Tình đồng chí đồng đội, lòng dũng cảm cũng có nét chân thực của người miền núi. Cách bố cục cũng rất độc đáo, mở đầu là lá thư bạn chiến trường, rồi tiểu thuyết triển khai ra theo thủ pháp hồi tưởng.

 

   3. Quê hương- nhà văn và tác phẩm:

   Nhà văn Hà Lâm Kỳ được sinh ra trong cái nôi quê hương Đại Lịch, đầy ắp truyền thống văn hóa. Đấy là nơi hội tụ các điệu múa hát và nhạc cụ dân tộc: then, lượn cọi, đàn tính của người Tày; xòe, khắp, khèn bè người Thái; vần va, múa mỡi người Mường; chèo người Kinh từ Thái Bình lên khai hoang. Đấy là nơi trú quân của tướng Cần Vương Nguyễn Quang Bích. Đấy là ngôi đình có bát hương vẽ hoa văn con rồng, tạo nên bởi các cúc áo của các dân tộc. Và các truyền thuyết về Con trai bà Chúa Nả, vùng với thiên nhiên hùng vĩ, hữu tình. Nhà văn Hà Lâm Kỳ như con chim biết chọn hạt, đã hấp thụ tinh hoa quê hương và sáng tác nên những tác phẩm văn học có giá trị. Thật hiếm những nhà văn viết được tác phẩm góp phần khẳng định anh hùng, danh nhân quê hương. Qua trang viết Kỷ vật cuối cùng, lừng lững hiện lên nhân vật Hoàng Văn Thọ đã được phong anh hùng, đặt tên cho trường học tại địa phương.

   (Mười năm trước, tôi tham dự hội thảo về nhà văn Nông Minh Châu (tên thật Nông Công Thủy) ở Bắc Cạn. Ông là người đầu tiên viết tiểu thuyết bằng tiếng Tày Cưa khẩn đông, rồi dịch sang tiếng Việt Muối lên rừng, ra đời năm 1963, cũng là dạng tiểu thuyết ngắn, chừng 200 trang. Truyện ngắn Ché Mèn được đi học của ông viết từ năm 1958, đã được đưa vào sách giáo khoa... Trong cuộc hội thảo đó, nhiều người đã đề nghị đặt tên nhà văn Nông Minh Châu cho một con đường ở thị xã Bắc Cạn và một trường học ở quê, thuộc xã Thương Quan, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Cạn. Nhưng vừa rồi, tôi lên Ngân Sơn, gặp nhà văn Nông Viết Toại, hỏi thăm tình hình, thì ông bảo là, chưa có gì đâu... Nên nhìn lại việc này ở Đại Lịch, mới thấy tầm vóc sự kiện và sự trân trọng văn chương của địa phương).

   - Trong tác phẩm, có nhiều chi tiết đắt giá, độc đáo, khiến độc giả khắc ghi trong lòng. Khi bị địch bao vây, không lối thoát, Nủ Chu đã ngồi vào chiếc lù cở rộng đáy, cho một thanh niên khoác lên vai. Cô gái Mông bên cạnh, nhanh tay cởi áo, phủ lên. (Gió Mù Cang). Hoặc, chi tiết Hà làm y tá đơn vị đã giã tỏi, trộn với lá long não, cúc tần, lá tre, lá lốt, lá sả… nấu cao, đúc thành bánh, mang ra chiến trường, khi chiến sĩ bị cúm, chỉ việc cắt cao, hòa vào nước sôi, trùm chăn mà xông, nhanh chóng và tiện lợi. (Vượt rừng). Về kinh nghiệm sản xuất vùng đồi núi, tác giả viết: Tre, nứa chặt vào mùa mọc măng, thì ngâm xuống bùn vẫn mọt. Mùa đông, cây gỗ khô nước hãy xẻ, tấm ván vừa sáng vừa dai. (Làng nhỏ).

   - Hà Lâm Kỳ có biệt tài miêu tả về phong cảnh, âm sắc miền núi. Trong truyện dài Làng nhỏ, có đoạn: “Ông giang hai tay gióng lên một hồi trống dài trước cửa đình. Hồi trống vừa ngắt thì mười hai cặp xòe kéo ra sân, nhạc xòe nổi doong doong, tính tẩu kêu tưng tấng. Sau màn xòe khai hội, trai gái ùa ra đám ruộng cạn thi ném còn, kéo co, tát yến”. Các nhóm từ "doong doong", "tưng tấng", "tát yến" đầy chất ma mị và cũng rất chính xác. Có nhiều nơi gọi là "đánh yến", nhưng tôi thấy nhà văn Hà Lâm Kỳ dùng từ "tát yến" đắt hơn.

   - Tôi thích những trang văn của nhà văn Hà Lâm Kỳ trong truyện dài Làng nhỏ. Một nửa, phần đầu, cỡ bốn chục trang, đọc những câu văn lấp lánh cứ như tùy bút, nào cảnh bắt ong, nào là cảnh mót lúa, nào là cảnh tắm suối với các cô, nào là hoa, nào là quả… Tất cả cứ ăm ắp như những thước phim tư liệu về làng quê. Ví dụ: “Ngoài hoa ban, hoa gió còn có vô số các loại hoa mà người làng tôi yêu thích, như hoa coóng, hoa gạo, hoa chuối rừng đỏ sẫm, hoa bươm bướm, hoa tàng lang cánh trắng tinh nhưng ống nụ lại xòe vàng như ngôi sao nhỏ xíu; hoa kè lại gần giống hoa núc nác mà thơm ngát rừng, rồi hoa đùm đũm đỏ tươi, hoa mua, hoa sim tím dịu dàng, hoa anh túc lung linh năm sắc, hoa bồng bồng ngào ngạt”. Những quả đồi nhiều hoa được dân làng gọi là phia boóc (núi hoa), những đoạn suối nhiều hoa được gọi khuổi boóc (suối hoa).

   - Tôi xin nói thêm về chi tiết tấm áo mà nhân vật Hoàng Văn Thọ gửi người yêu, trước giờ lâm trận. (Kỷ vật cuối cùng). Chẳng biết có thật hay không, nhưng đã tạo nên một hình tượng mang tính nhân văn sâu sắc, tôn cao thêm tầm vóc người anh hùng. Cũng ví như hình tượng cành đào của vua Quang Trung, sau khi đại phá quân Thanh, đã cho lính cưỡi ngựa từ Thăng Long, mang về tận Phú Xuân, tặng Ngọc Hân. Hình tượng cành đào này, hoàn toàn do nhà văn Hoàng Quốc Hải sáng tạo ra, nhưng thật đắt giá, được đông đảo bạn đọc coi như thật. Trở lại với chi tiết  tấm áo Hoàng Văn Thọ- kỷ vật cuối cùng của người anh hùng, thật đáng trân trọng, nâng niu.

*

   Gấp lại cuốn sách Tuyển tập Văn xuôi Hà Lâm Kỳ, với ngót 600 trang in, quả là một công trình nặng ký. Ngoài phần tiểu thuyết, truyện dài, truyện thiếu nhi, truyện cổ tích huyền thoại, thì cảm thấy còn thiêu thiếu một cái gì? Có lẽ, đấy là truyện ngắn còn chưa được đưa vào tuyển tập chăng? Bởi, nhà văn Hà Lâm Kỳ đã xuất bản 2 tập truyện ngắn dày dặn.

   Hà Lâm Kỳ, dáng văn nhân mảnh khảnh, nhưng tác phẩm văn chương thực vạm vỡ. Ngoài văn xuôi, ông còn xuất bản mấy tập thơ: Xôn xao rừng lá (1992), Lời riêng (2009). Các bài thơ thấm đẫm tình yêu núi rừng, làng bản:

               "Đi với em vào rừng vui như rừng xòe hoa

               Xôn xao như đàn ong mật treo hai đầu núi

               Duyên nợ với rừng từ khi nào sao rừng chẳng nói

               Rừng ơi, nhà của ta

               Rừng ơi rừng- cuộc đời ta".

                                                           (Đi rừng).

 

 

 

                                                                                             V.X.T

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter