• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Sình Ca
Ngày xuất bản: 18/10/2018 3:37:42 SA

 Tống Ngọc Hân

Làng Cối con con này, tính khoảng ba năm trở lại đây, bệnh ung thư lấy đi chẵn mười sáu mạng người. Chẳng có gì lạ. Ung thư tràn lan, phổ biến đến nỗi người ta chẳng có hứng bàn tán gì nhiều mỗi khi trong làng có ai đó bị bệnh viện trả về chờ chết. Thậm chí, đến thăm bệnh nhân ung thư, người ta còn tranh thủ phổ biến cho nhau cái kinh nghiệm quý báu để sao cho người chết đi rồi, người sống không phải ngắc ngoải vì hệ lụy.

   Cái suy nghĩ “còn nước còn tát” là lỗi thời. Bởi còn gì mà tát khi mà tiền cũng vô nghĩa, chết vẫn hoàn chết. Điểm qua mà xót xa. Cô Hữu hàng xáo, dân chợ búa, nhà nghi ngoe có tí tiền mặt nên được rước từ bệnh viện tỉnh về trung ương. Trị xạ, hóa chất gì đó mấy lần mà cái cục u từ thực quản vẫn di tung tóe khắp cổ đến tận hàm. Những tài sản có giá trị trong nhà cô đi trước, cô Hữu đi sau. Trăm ngày cô, cán bộ tín dụng của xã đến nhà cô, nhân đạo làm cho cái giấy giãn nợ. Thì ra cái sổ bìa đỏ đi ở từ bao giờ, cứ tưởng buôn bán là có tiền.

  Cụ Ngư thì còn khốn đốn hơn. Cụ đòi chết đến mấy lần con cháu không cho chết, cứ bắt cụ phải vào bệnh viện nằm. Cụ nằm viện mà nhấp nhổm căn dặn. “Đất hương hỏa, nhà từ đường, tổ tiên ông cha để lại, chúng bay đừng có dại dột mà thế chấp vay mượn đấy nhá”. Dặn thế thôi. Cơ hội ngàn vàng. Anh con trưởng bàn với hai thằng em rồi đem bìa đi vay. Cũng may, lúc biết chính xác mình bị ung thư gan, cụ Ngư đã sang tên bìa đất cho anh con cả. Một tòa ngang, hai dãy dọc thượng lạc trên thế đất hổ chầu rộng hơn hai nghìn mét vuông. Nhà buôn tiền kí roẹt cho anh vay đến bảy trăm triệu để anh chữa bệnh cho bố.

    Số tiền ấy làm phép tính chia ba. Anh nuôi bò lai Sin. Anh đốt lò gạch. Anh nuôi lợn rừng. Còn số dư để dành cho việc tang ma.

    Đâu biết được các con trai của mình đã tính toán, sắp xếp chu đáo đến thế. Cụ Ngự ra sức chống đối việc điều trị của bác sỹ bằng cách tự ý dứt dây truyền, không uống thuốc và tuyệt thực. Các con vờ nhân nhượng đưa cụ về quê. Ai có hỏi, một hai nói rằng chiều theo ý cụ. Chết nhà chết cửa chả hơn chết đường chết chợ à?

Cái gan của cụ cứng đét vào như cái thớt nhỏ kê ngang bụng. Ấy thế mà Nam Tào còn bận tả xung hữu đột ở cái làng nào, chưa kịp về giở sổ, chấm cho một cái. Càng ngày cụ càng tỉnh táo, thông thái mới lạ. Cụ tìm cái sổ đỏ không thấy bèn hỏi. Các anh con biết cụ sắp đi rồi thì chẳng buồn giấu giếm. Để có bằng chứng sinh động, anh cả còn dẫn cụ ra mục sở thị cái chuồng bò lai Sin. Nghe nói cụ Ngư trụy tim, đi ngay cạnh chuồng bò. Người cụ vắt ngang cái văng chuồng bằng xoan tươi như dúm giẻ dấp nước.

    Cụ Ngư nhà khấm khá, có bát ăn bát để thế mà còn không dám chạy đua với tử thần thì nhà nghèo sức đâu mà đú? Có người tiên phong rồi, cứ ung thư là nằm nhà đợi thần chết đến rước đi, không phải chạy chữa tốn kém. Nhiều nhà thở phào nhẹ nhõm.

    Nhà kia, mẹ bị trọng bệnh, ho muốn nôn ra ruột và tức thở. Đàn con, đứa khăng khăng thương mẹ đòi đưa mẹ đi khám. Đứa nhem nhẻm đổ vấy, ung thư phổi rồi khám làm gì. Chúng tự mua thuốc về tiêm, truyền cho mẹ như bác sỹ. Người đàn bà góa cả đời lăn lộn vất vả nuôi con, giờ cũng thèm được sống thêm với con cháu. Miệng thì đây đẩy, “đằng nào chả chết, đi làm gì cho tốn kém”. Nhưng bụng vẫn không tin mình có thể bị ung thư. Không tin ông giời bất công với mình thế. Đàn con cứ chùng chình cả năm. Đợi mãi chẳng thấy thần chết gõ cửa gì cả. Lại bị làng đàm tiếu rát tai bèn hì hục đưa mẹ đi. Bác sỹ ngắn gọn. “Bà đến sớm hai tuần nữa vẫn cứu được, giờ thì muộn rồi. Ai bảo ung thư mà ung thư? Cứ đau là ung thư à?” Trời đất ôi, có hai tuần thôi à, một năm có mấy chục tuần mẹ đau đớn, cả đàn con làm thinh. Bây giờ úp mặt vào lưng nhau không dám hờ thành tiếng. Trong dàn nhạc hiếu, anh khóc thuê trẻ tuổi chẳng hiểu mô tê sự tình cứ sụt sịt, kể lể váng trời váng đất làm ngoài ngõ khối kẻ bưng miệng cười.

    Làng Cối đặt nghĩa trang trên đồi mỡ. Đồi cao vộc lên so với những quả đồi khác, thăm thẳm xanh ngút màu lá cây. Mấy anh đi học xa về, có tý chữ, căn vặn. Thằng chết ngồi chễm chệ trên đầu thằng sống thế à? Về phong thủy, như thế là không có ổn. Âm thịnh, hẳn dương suy. Suy đâu chẳng biết. Cô Nhường là mạng thứ mười sáu do bệnh ung thư, chưa kể các loại đau ốm, tai ương khác cũng kha khá. Chưa kể mấy anh thoát ly làng đi làm ăn xa đều thất bát trắng tay, ôm thêm cục nợ về. Nói thế, chứ các cụ đang ở chỗ cao ráo, thoáng đãng, giờ bố anh nào dám bàn đưa các cụ xuống thấp. Mà chỗ thấp ở làng Cối này thì chỉ có ruộng. Ruộng đã ít, chẳng ai dám rời ruộng ra đâu.

Người quản trang của làng Cối có cái tên khá lạ. Âu Chấn Dừn. Ông Dừn ngoài sáu mươi tuổi, không phải là người dân gốc ở đây. Ông mới về Cối ở  sau ngày thống nhất và ở theo vợ thôi. Nghe nói ông quen bà Hồ ngoài mặt trận. Lúc ấy ông là lính thông tin còn bà là giao liên của sư đoàn. Những người lớn tuổi trong làng bảo, ông Dừn người bên kia sông Lô, nghe nói là người dân tộc gì đó. Nhưng cũng chỉ nghe nói vì cũng đâu có ai biết, ai thấy ông đi về bên ấy bao giờ. Họ chỉ biết ông là thương binh xuất ngũ, về hợp tác xã tham gia lao động và nhận chân trông nom mồ mả cho làng, ăn mười mươi hai cân lúa một tháng.

Những năm mất mùa đói kém, kho của hợp tác xã rỗng không đủ trả. Món nợ dồn mấy năm chưa trả thì hợp tác xã giải thể. Nông thôn có mô hình làm ăn mới. Khoán. Chẳng biết khoán chín hay mười. Bà vợ đáo để vác đơn lên ủy ban xã đòi nợ. Cuối cùng họ cấp cho ông bà ba sào đất dưới chân đồi mỡ, nơi sim mua nở hoang chẳng có ai bén mảng đến. Thế là xí xóa.

    Nhưng sau khi ông Dừn nghỉ việc coi mộ thì chẳng ai chịu làm cả. Nói là van lạy thì ngoa mà đích thân chủ tịch xã về họp, hứa hẹn, kích động tinh thần của người lính. Ông Dừn lại làm. Lại động viên bằng ba sào đất hoang nữa. Mệt mà cày cuốc. Bà vợ chết lúc còn khá trẻ, ông không đi bước nữa, mà ở giá nuôi con. Lại chuyển nhà vào chân đồi mỡ ở cho tiện công việc. Thành ra, ông có đi lại, về quê quán hay không thì cũng chẳng ai biết. Nhà ông ở chân đồi mỡ, thuộc đất rìa làng rồi, như cái mầm nhú của củ khoai, tinh mắt mới thấy.

    Con cháu thời nay cũng tệ. Đến mả bố mình cũng còn nhầm, đào sang mả mẹ người khác. Có anh, đưa ma bố lên đồi xong thì cũng lên đường Nam tiến làm ăn. Chẳng biết sấp ngửa xứ người thế nào, năm năm sau, đến ngày sang cát cho bố cũng mới về được. Có chị, tận hai mươi năm mới hồi hương. Như thế chẳng nhầm sao được. Phải thông cảm cho người ta chứ.

   Sau mấy vụ nhầm lẫn nguy hiểm ấy thì ông Dừn phải trực tiếp vào cuộc. Vừa hướng dẫn việc chôn cất, vừa vẽ lại sơ đồ và kiêm luôn việc bốc mộ. Ngày xưa thì bạ đâu chôn đấy, chẳng có hàng lối, quy củ gì cả. Bây giờ quy hoạch lại dần dần. Nghe cái từ “quy hoạch” sang sang, dân khối người phì cười. Họ chê ông Dừn dở hơi. Ai người ta đến tham quan, vãn cảnh gì cái chốn đầy uế khí ấy mà bày vẽ quy hoạch. Có người còn bảo ông Dừn thờ âm binh để sai khiến việc bốc mộ, thế nên, đêm hôm tối tăm thế, ông cấm khi nào bỏ sót một khấc xương dù nhỏ. Ông làm tốt việc mồ mả nên người âm phù hộ, việc trồng trọt, chăn nuôi thuận lắm. Gà lợn lớn như thổi, hoa màu tốt tươi.

   Ông Dừn đích thị chẳng phải người thường.

   Ông Dừn đột ngột ốm. Làng khối kẻ đóm đóm sáng đằng đít. Chưa gì đã bấm ông là người thứ mười bảy trong sổ ung thư của làng. Nhà ông Dừn không khá giả như nhà hồn ma cụ Ngư nọ, nhưng cũng chẳng đến nỗi thảm hại như nhà bà góa kia. Giá vợ ông còn sống thì nguồn tin đưa ra mới là chuẩn xác nhất. Đằng này, thằng con trai kín như bưng. “Bố cháu mệt sơ sơ thôi”. Đứa con gái đã lấy chồng thì bảo. “Bố cháu làm bộ tịch thôi mà, chứ chẳng nhẽ lại chẳng đau ốm bao giờ”.

   Bà con, chị em làng Cối nô nức thăm hỏi. Ân tình thì ít mà dò la tin tức thì nhiều. Họ chẳng quan trọng ông Dừn ung thư hay bệnh gì, chết hay không chết. Họ chỉ quan trọng xem ông Dừn có đi bệnh viện không? Ông đứng vào cánh tả hay cánh hữu trong cái quan niệm “còn nước còn tát”? Dạo này làng Cối khối nhà tẩy chay bệnh viện rồi, tiền mất tật mang ấy mà. Thuốc đểu, thuốc giả tràn ngập, đến cái họng trẻ con viêm, tiêm chọc mãi còn chả khỏi thì nói gì ung thư.

   Ông Dừn không ho. Không phải ung thư phổi. Ông cũng chẳng nôn ra máu. Chẳng phải bệnh dạ dày, đại tràng gì. Ông cũng không vàng mắt vàng da. Đâu phải bệnh gan. Ông Dừn đứng lên, ngồi xuống vẫn nhẹ nhàng lắm. Xương cốt, tủy trụ chẳng có vấn đề gì.

   Đoán mãi trả trúng. Chợt có đứa oái oăm bảo. Những người đàn ông góa vợ sớm, nghe y học hiện đại thống kê rằng họ dễ bị ung thư cái gì như là  “tiền liệt”  ấy.

   Làng Cối, đến già nửa dân, chẳng biết cái “tiền liệt”  ấy là cái gì, tròn hay méo, và nằm ở chỗ nào trong người đàn ông. Nhưng cứ nghe thấy có chữ “liệt” là họ hí hửng phán đoán. “Vợ chết đến hơn chục năm, chả liệt con mẹ nó rồi còn gì”.  “Cái ấy mà bị ung thư thì nom nó như thế nào nhỉ? Úi dà, phù nề tướng lên, trông phát khiếp”. Người nhà của bệnh nhân ung thư vú khẳng định thế.

   Ông Dừn không đi bệnh viện. Một bà liều lĩnh hỏi. “Chẳng hay nhà bác dùng thuốc của lang nào vậy?” Ông Dừn cười nhợt nhạt, nhưng cái hồn của đôi mắt thì lại sáng lên. “Của người bên kia sông thôi ạ. Tôi có ốm mấy lần, quen thuốc của bà ấy rồi”.

   Bà kia về, cười muốn bục cả rốn. Thấy chửa. Tưởng chỉ có lang ông, giờ có cả lang bà. Bà nào mà tợn vậy? Dám khám cái chỗ hiểm ấy chứ?

    Nói tóm lại là ông Dừn không đi bệnh viện. Thêm một người nữa phản đối cái quan điểm “còn nước còn tát”. Ốm mà không đi bệnh viện thì chỉ có là ung thư. Trong người ta, có cơ quan, bộ phận nào thì có bệnh ung thư mang tên chỗ ấy. Như cái “tiền liệt” kia, chửa nghe thấy tên bao giờ còn bị ung thư nữa là.

    Lang bà bên sông đã về. Người làng Cối thập thò từ đầu đường để đưa tin. Làng có mỗi con đường độc đạo đi ở giữa, có muốn dấu hành tung cũng chẳng tài thánh mà giấu nổi.

    Lang bà tuổi ngoài năm mươi, mặt thanh tú, phúc hậu. Mà phải nói chính xác là Lang bà đẹp. Bộ quần áo rất lạ. Nó chẳng phải của dân tuồng chèo hay quan họ. Cũng chưa từng thấy trên ti vi. Cái áo có tay và vai màu nâu tươi, nhưng ngực và lưng áo pha màu đen, màu đen trải xuống tà áo. Tà áo dài quá gối, gần chạm vào cái gấu quần cũng màu đen. Dưới ống chân cuốn cái xà cạp bằng vải trắng lấp ló. Trên đầu Lang bà, cái khăn màu đen buộc gọn gàng một búi ra sau gáy và thả rơi hai cái dải khăn đung đưa xuống vai. Trời đất, ở đâu ra cái bà chưa già, không trẻ, ăn vận vừa vặn và khéo đến thế. Cái áo đẹp thật. Cái túi nâu đeo bên người Lang bà chắc là đựng đầy thuốc chữa cho ông Dừn. Mấy bà khừn khừn làng Cối bí mật sai bọn trẻ con theo sát Lang bà.

   Mà tội quái gì phải bí mật. Cứ công khai đến tận nhà ông Dừn với lý do cũng muốn nhờ Lang bà bốc thuốc. Ông ấy có bệnh thì mình cũng có bệnh. Tiền với hiếm, chứ bệnh thì thiếu gì. Vận động một tí, cả tá người có bệnh, ủ bệnh muốn được khám ngay ấy chứ.

   Tôi đau chỗ này, nhức chỗ kia… Lang bà cười hồn hậu. Hứa sẽ ở lại làng Cối và xem bệnh cho tất cả mọi người.

   Trước kia, đường lên đồi mỡ chẳng ai đi. Chỉ khi có đám ma, làng mới quá bộ trên con đường ấy để đưa tiễn người quá cố. Giờ xe máy phả khói mù mịt. Trước, xe tang qua mấy cái ổ trâu ổ bò, người chết nằm trong quan mà lèn không chắc còn lật sấp lại vì xóc, thì nay chẳng biết ai tự ý san cho phẳng để đi lại cho dễ.

  Ngày còn bận chổng mông ngoài đồng. Tối đến, phòng khám ông Dừn mới náo nhiệt bệnh nhân. Lạ thật cho cái Lang bà này. Bắt mạch ra một lúc năm bệnh. Cái bà hay vỗ ngực xưng mình chẳng bao giờ mất tiền mua viên thuốc cảm ấy bị moi ra năm loại bệnh. Nặng nhất là bệnh phụ khoa, nặng nhì là vôi hóa cột sống. Bệnh thứ ba là viêm bàng quang. Bệnh thứ tư, viêm dây thần kinh. Bệnh thứ năm…

   Bà này ù tai, sợ ngồi tí nữa lại mọc thêm mấy bệnh. Nhưng về nhà rồi thì lo lắng đến mất ngủ. Chết thật, mang từng ấy bệnh trong người mà cứ ung dung. Thật ra, phàm là con người, biết đau đớn, ai chẳng ít nhiều cảm nhận được sự thay đổi trong cơ thể mình. Nhưng đau mà cứ nín đi là không đau. Bệnh mà cứ lờ đi không chữa, là không bệnh. Đã nghèo rồi mà lại lắm bệnh thì đời gọi là “chó cắn áo rách”. Có bệnh mà không đi bệnh viện cho bằng chúng bằng bạn thì bị khinh. Mà đi một bước, thì lòng giằng xé, cân nhắc một bước. Tiền thuốc, tiền viện phí, ở đâu ra. Vài sào ruộng dộc, được mấy hạt thóc mà cậy bán thóc. Vài cây tạp trong vườn trẻ con vần vũ suốt bốn mùa làm vui, có gì mà bán. Chân đất mắt toét, lương lậu gì mà đợi. Có mỗi cái bìa đỏ ruộng đất. Cứ chuộc đi chuộc về hàng bao nhiêu lượt. Sửa cái mái nhà cũng cắm bìa đỏ. Xây chuồng lợn cũng cắm bìa đỏ. Con đỗ đại học cũng cắm bìa đỏ. Con xin việc cũng cắm bìa đỏ. Đã chuộc ra đâu? Người còn đang ở nhờ nhà của ngân hàng thì đừng có nói đến bệnh tật. Tưởng vay mà dễ à?

   Tuy không ai nói với ai, nhưng dường như đó là thỏa thuận. Ai đó mà mang mấy viên thuốc bảo hiểm người nghèo về, thế nào cũng bị chồng hay vợ mát mẻ. “Chỉ có ông mới biết đau, biết đớn chắc. Còn tôi đây mình đồng, da sắt…”

   Chắc Lang bà cũng thấy lạ vì dân làng Cối đi khám bệnh nhiều mà ít người bốc thuốc. Chưa biết thuốc hay thuốc dở thế nào đã nơm nớp dò la. “Thế tiền nong thế nào để em còn chuẩn bị…”

     Một đêm mưa to gió lớn. Điện bị cúp đột ngột. Đường làng tối thui. Vẫn biết cái điện con đom đóm đực dù mất hay còn cũng chẳng khác nhau mấy. Nhưng lúc tạnh ráo mất điện, bà con đổ ra đường hóng gió, tán gẫu còn mau hết đêm. Chứ mưa gió thế này, buồn lắm.

   Cũng đêm mất điện ấy, có một kẻ chưa gặp Lang thì đã gặp mưa nhưng quyết chẳng quay về.

    Đến thềm nhà ông Dừn, hắn đứng ôm ngực thở. Đưa tay định gõ cửa thì tay hắn rụt lại. Tiếng hát lạ từ trong nhà vang ra khắc khoải. Đúng là tiếng ông Dừn rồi.

   Con nước tuy mạnh nhưng không bao giờ chảy ngược. Đã làm con ai dám cãi lời mẹ cha. Vợ chồng tuy xấu nhưng rồi chung chăn gối. Tình duyên đẹp nhưng vẫn có thể chia lìa…Ớt tuy cay nhưng mình ăn cả vỏ. Chuối dẫu ngọt vẫn bóc vỏ người ơi…

   Hắn đã qua cơn thở dốc, bình tĩnh nghe rõ những lời hát tựa như kẻ đối người đáp. Tiếng ông Dừn chứ tiếng ai. Lão này gớm thật, giả ốm thôi. Thế mà làng cứ đồn ung thư tiền liệt, vớ vẩn. Lang bà kia là người vùng nào? Họ là gì của nhau không biết?

    Cứ hết bài này đến bài kia, cứ bài đối, bài đáp, lời lẽ cũng mộc mạc dễ hiểu, nghe như trách cứ, hờn giận. Lại nghe như an ủi, động viên nhau. Nghe như tìm kiếm, nghe như tiếc nuối thứ gì đó quý giá...Có đoạn nói chuyện trai gái yêu đương. Có đoạn nói về truyền thống, tập tục. Rồi có lúc cái giọng hát ấy còn cất lên bởi thứ ngôn ngữ khác, hắn nghe mà chẳng hiểu gì.

   Mưa tạnh. Điện thoi thóp sáng lại. Hắn run rẩy đưa tay gõ cửa…

   Mang một bọc thuốc về mà lòng hắn vẫn run. Nghe Lang bà nói. Thuốc này bà lấy tại làng Cối. Hắn còn chưa dám dùng thuốc ngay, không chừng bà ấy lấy thuốc trên đồi mỡ. Hắn ra sức minh họa mà vợ hắn cứ ngơ ngác không hiểu. Cuối cùng ả bảo. Hay là họ làm phép cho thuốc của họ thêm linh nghiệm?

   Chẳng biết con vợ hắn thiên biến vạn hóa thế nào mà nội nhật có mỗi ngày hôm sau, cả làng Cối om lên chuyện ông Dừn với Lang bà là một cặp phù thủy đang tích cực yểm bùa. Hắn là người đầu tiên biết việc này thì đích danh hắn phải đến hỏi cho ra nhẽ.

     Tối chủ nhật, hắn đến nhà ông Dừn. Thấy Lang bà đang dậy cho đàn con cháu của ông Dừn hát cái điệu hôm nọ râm ran cả nhà. Hắn hỏi đấy là cái gì, Lang bà bảo. Sình ca đấy. Hắn lại hỏi. Hát để làm gì, thì Lang bà không trả lời, chỉ cười.

   Sình ca là cái gì? Cha sinh mẹ đẻ, người làng Cối chẳng bao giờ nghe thấy cái từ lạ tai này. Có bà tỏ vẻ thông thái, bấm máy cho thằng con học dưới thủ đô hỏi nó xem, nó nghe nhạc suốt ngày có biết sình ca là cái gì không? Thằng kia cũng không biết, nhưng nhân tiện chuyện này mà “làm tiền” bà mẹ quê mùa. “Đã bảo mà, giá mua máy tính cho con thì giờ con gõ ba phát là biết ngay”. Bà này gầm lên. “Mả bố mày, vặn răng tao ra mà máy tính. Tao cũng đếch cần biết sình ca là cái gì.”

   Chửi con vậy mà lòng mẹ xót. Nhưng mà cứ phải cương quyết, được đằng chân, nó lân đằng đầu. Mà thôi, họ hát gì kệ họ. Bụng dạ đâu mà hát hò, nghe đâu làng bên lại có đám ma. Xong bên ấy lại đến bên này thôi.

   Nhưng nói gì thì nói. Nếu nhà ông Dừn ở giữa làng thì ông có hát sình ca hay thứ gì đó cũng chả sao. Đằng này, ở một nơi u ám, hoang rợn, heo hút như chân nghĩa địa mà có cái sự hát hò đêm đêm thì đáng ngờ lắm. Chỗ ấy, người chết yên nghỉ. Được hay ông Dừn lại bày đặt truyền bá điều gì không lành mạnh?

   Chính quyền đợi cho dư luận trong dân chín ngẫu rồi mới vào cuộc. Lang bà bị mời ra nhà văn hóa của làng chất vấn. Tất cả các loại thuốc của Lang bà phát tán trong dân cũng bị thu hồi. Kẻ nào chót đã uống rồi thì phải tự chịu trách nhiệm.

    Thực ra chính quyền cũng không muốn làm khó dễ hay cản trở việc chữa bệnh của Lang bà. Vì tính ra thuốc của Lang bà rẻ, ba thang thuốc nam chưa bằng liều thuốc tẩy giun của trẻ con. Điều mà chính quyền muốn biết, chỉ yêu cầu Lang bà phải thành khẩn khai nhận.

   -  Sình ca là gì? Nó có phải là một chiêu bài mê tín dị đoan đánh vào tâm thức người dân làng Cối vốn đang hoang mang vì cái tư tưởng “âm thịnh dương suy” hay không?

    Lang bà lắc đầu. Chẳng biết Lang bà trả lời thế nào mà nhà chức trách khoanh hai chữ “sình ca” vào.

   -  Biết rồi, biết sình ca là sình ca rồi. Nhưng yêu cầu, nếu hát trên đất làng Cối thì phải hát bằng tiếng Kinh người làng Cối. Không được hát bằng tiếng Cao Lan bên kia sông Lô.

     Nhà chức trách còn yêu cầu Lang bà phải giao nộp toàn bộ nội dung những gì đã hát để phục vụ điều tra. Trong thời gian điều tra, cấm con cháu ông Dừn không được qua lại, giao tiếp với bà con trong làng.

     Lang bà quyết liệt phản đối.

   - Đó là tâm nguyện cả đời của ông ấy. Ông ấy là người đặt lời mới cho sình ca. Còn tôi đã sưu tầm và chép lại mấy trăm câu hát sình ca cổ của dân tộc tôi. Tôi sang đây để chữa bệnh cho ông ấy và cùng dạy con cháu ông ấy hát sình ca, bảo tồn nét văn hóa đẹp của dân tộc tôi…

    Ái chà. Hiếm có một người đàn bà nào ngoan cố đến vậy. Đã thế phải báo cấp trên. Cấp trên mới đủ thẩm quyền giải quyết. Phải thu hồi ngay cái thứ văn hóa phẩm nguy hiểm mà kẻ chủ mưu không ai khác ngoài Âu Chấn Dừn. Thảo nào suốt bao nhiêu năm mai danh ẩn tích dưới chân nghĩa địa và cam phận với công việc chẳng nhàn nhã, hay ho gì. Thảo nào trong vòng ba năm, làng Cối đi mười mấy mạng. Gì cũng có căn nguyên cả chứ…

    Ông Dừn bị điệu lên ủy ban xã. Người ông rất yếu. Ông không còn nhiều thời gian để trình bày dài dòng nên thay vì trả lời chất vấn của cả hội đồng. Ông tha thiết xin gặp riêng vị trưởng ban văn hóa xã.

    Chẳng biết ông Dừn có thành khẩn hay không mà cuộc làm việc kéo dài tới hai ngày và ông Dừn được trả về nhà trên chiếc cáng.

    Anh trưởng ban văn hóa xã lấy bút khoanh vào hai chữ “làng Cối” khiến nhà chức trách làng Cối phập phồng suy nghĩ. Làng có vấn đề gì chăng?

  -  Thế theo cán bộ văn hóa, sình ca là gì?

   -  Là những câu hát đối đáp giao duyên, như kiểu ông bà cụ kỵ nhà ta ngày xưa hát Xoan, hát Ghẹo ấy.

    Cái tự ái dân tộc nổi lên.

  -  Thế Xoan ghẹo của mình đi đâu cả? Sao lại để người ta mang dân ca của người ta đến đại náo làng mình?

   Thì đấy, cái tội là ở chỗ ấy. Hát hò, bảo tồn văn hóa mà không đúng chỗ cũng là có tội. Nhưng ông Dừn sắp chết nên được tha bổng cho về.

    Chiều hôm ấy, làng nháo nhác nghe tin ông Dừn đã lìa đời và rủ nhau đến chia sẻ. Họ bảo cái sình ca đến tội, còn chưa rõ mặt, rõ tên đã gieo vạ. Ông Dừn đi trong cái nỗi oan ấy kể cũng đau, chẳng khác nào cụ Ngự trước, chưa chết bằng ung thư đã chết bằng trụy tim. Mà kể cũng lạ. Côn kiếm, giáo mác hung đồ đầy đường kia, chính quyền chửa lo dẹp, lo gì ba cái câu hát vu vơ hờn trách của trai gái ấy thế nhỉ.

     Ông Dừn chết. Lấy ai ra mà trông coi mồ mả làng ta? Không khéo cái nạn đào nhầm mả lại tiếp diễn. Họ chỉ lo nơm nớp việc mả bố, mả mẹ mình bị đào nhầm thôi chứ xót xa để trong lòng chẳng ai chảy nước mắt. Âu cũng bởi, chết nhiều quá.

     Chẳng biết có phải sau cái chết của ông Dừn chính quyền động lòng hay không mà chẳng bao lâu sau, đoàn cán bộ văn hóa của xã của huyện về tận làng Cối thăm dò, ghi chép tỉ mẩn lắm. Đương nhiên là họ không hỏi gì về sình ca, họ hỏi về những điệu hát Xoan cổ.

     Một cụ ông trong làng Cối tuổi ngoài chín mươi và một cụ bà ngoài tám mươi được mời đến nhà văn hóa của làng Cối. Mấy bà đứng ngoài cửa sổ hô chõ vào:

Cụ Sức ơi, cố lên, chúng ta chả nhẽ lại thua Âu Chấn Dừn..

Cái bà này, người ta thác rồi còn khơi lên.

Nhưng mà cái Xoan cổ của mình nghe ti vi nói sắp được u nét cô (NESCO) công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đấy.

Thế cơ à. Thế mấy cái nhà máy hóa chất cuồn cuộn đổ khói vào trời làng Cối thì được công nhận là gì?

Công nhận là đơn vị lao động anh hùng.

   “Tôi đề nghị bà con trật tự”. Tiếng anh trưởng ban văn hóa xã oang ang. Anh vừa dứt lời, nhịp phách tre đều đặn tấu lên, như gõ vào tiềm thức những người dân hai sương một nắng.

    Giọng cụ Sức lào phào. Cụ bà Lép căng tai nghe và cũng hồi hộp chuẩn bị đáp lời. Họ đối và đáp tình tứ thế này.

    Anh đố em biết huê gì nở trên rừng bạc bội?

    Anh đố em biết huê gì nở nội đồng không?

    Anh đố em biết huê gì nở bảy tám lần chông?

    Anh đố em biết huê gì nở mùa đông vàng trắng vàng?

 

     Anh chẳng biết thời em giảng anh nghe

      Huê sim, huê mua nở trên rừng bạc bội.

     Nhược bằng huê lúa nở đồng không.

      Nhược bằng huê dứa nở bảy tám lần chông.

      Nhược bằng huê cải nở mùa đông vàng trắng vàng..

     Tiếng vỗ tay rầm rầm. Càng lúc người đổ ra nhà văn hóa càng đông, cứ như làng có hội. Cái bà bị năm bệnh chen ra còn khó hơn chen vào. Ra đến ngoài, bà đưa tay áo lên lau mồ hôi nhễ nhại và nói một thôi một hồi.

    -  Sình ca hay Xoan ghẹo cũng thế cả, cứ như là có họ với nhau, có nợ với nhau. Bỗng dưng bắt bớ tra khảo người ta, giờ lại bảo người ta có công. Các ông văn hóa cũng chả ra làm sao. Mà các bà cũng lạ, người chết thì chả thấy nước mắt đâu. Giờ cái Xoan ghẹo sống lại thì đua nhau sụt sịt. Sụt sịt cái gì? Vào mà hát, cứ có phách, có nhịp là hát được tuốt. Hát lên, cứ hát lên, đời người ai chả phải chết. Làm con ma vui vẻ cũng sướng. Tôi về gọi

lão nhà tôi đã…

      Lâu lắm rồi, dễ đến nửa thế kỉ, giờ làng Cối mới có hội. Tháng Giêng mà hát Hội thì còn gì bằng.

 

 

T.N.H

Nguồn: Văn nghệ Công nhân

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter