• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Hết mình cho “Rét giêng hai”
Ngày xuất bản: 25/11/2019 3:02:41 SA

Hoàng Việt Quân

 Tôi còn nhớ khi truyện ngắn “Trong cơn bão” của tôi lần đầu được đăng trong Tạp chí “Văn nghệ Yên Bái” số 1 năm 1992 đã gây nên bao sự xôn xao tò mò. Nhiều người hỏi tôi: “Có phải nhân vật cô giáo Trang Thu là bà Bích Thư không?”. Tôi cả cười đáp: “Hiểu thế nào cũng được”. Thật ra, khi viết truyện này, tôi có lấy một phần cuộc đời của cô Bích Thư, rồi hư cấu thêm cho hoàn chỉnh hình ảnh của một cô giáo sống gian khổ, đầy tâm trạng nhưng luôn luôn có nghị lực muốn vươn lên trong mọi thử thách khắc nghiệt của thời kỳ bao cấp. Dẫu sao, người đọc có được sự liên tưởng về cô Bích Thư cũng là điều đáng quý, chứng tỏ cô Bích Thư được nhiều người biết tới.

Tôi vốn là hàng xóm láng giềng với cô Bích Thư từ thuở còn ở khu phố Kim Tân, tỉnh Lào Cai. Cô thường qua lại gia đình, chuyện trò thân mật với bố mẹ tôi nên tôi quen gọi là “cô” xưng “cháu”. Cô tên thật Nguyễn Thị Bích Thư, sinh ngày 11/12/1931 tại thị xã Lào Cai. Học Trường Sư phạm Sơn Tây, về dạy cấp I thị xã Sơn Tây (nay là Hà Tây). Năm 1974 cô chuyển lên thị xã Lào Cai, dạy học tại trường cấp I, II Kim Tân. Nghe nói cô đã có chồng, nhưng sau ngày cưới ngắn ngủi, do không hợp nhau nên đã ly dị. Người chồng đó là một sĩ quan quân đội, sau này đã lập gia đình và đang sống ở trong Nam. Cô sống độc thân trong hoàn cảnh éo le và đầy tâm trạng. Tôi đã viết truyện ngắn “Trong cơn bão” ít nhiều động đến hoàn cảnh riêng tư của cô. Cô hơn ba mươi tuổi chưa chồng, cũng không thấy có họ hàng thân thích đến thăm. Bố mẹ cô đã mất từ khi cô còn nhỏ, phong thanh bị quy địa chủ. Bà hàng xóm cạnh nhà tôi cũng sống cảnh đơn chiếc, thương tình nên mời cô về ở cùng nhau “tối lửa tắt đèn”, “vui cửa ấm nhà”. Bà hàng xóm ấy trong thực tế còn có một cô con gái nuôi. Ba người chung sống trong căn nhà nhỏ, vườn tược rộng rãi, yên tĩnh. Lúc đầu tôi lấy làm lạ vì có nhiều người thuộc các lứa tuổi, nghề nghiệp khác nhau thường hay lui tới. Hỏi ra mới biết họ là văn nghệ sĩ địa phương, tụ tập đến nhà cô để đọc thơ, bình thơ cho nhau. Bấy giờ tôi mới biết cô Bích Thư là một người làm thơ. Từ đó tôi thường sang nghe cô đọc thơ, nói chuyện. Nhiều tác phẩm văn học của các cây bút Trung ương và địa phương được cô giới thiệu, bình luận hào hứng. Cô hay sáng tác thơ về đề tài trẻ em, nhà trường, đôi lúc viết thơ theo tình hình chính trị, thời sự, còn lại là những bài thơ tâm trạng thấm những triết lý là lạ và nỗi buồn hiu hắt. Sau chiến tranh biên giới tháng 02/1979, cô Bích Thư được Sở Giáo dục tỉnh Hoàng Liên Sơn điều về làm thư viện ở Trường Phổ thông cơ sở Tân Thịnh vốn là trường thực hành của Trường Sư phạm 10+3 Yên Bái trên một quả đồi cao heo hút, cơ sở vật chất ở đây nghèo nàn, hoang sơ. Cán bộ giáo viên hầu hết có nhà riêng ngoài phố hoặc ở rải rác dưới chân xóm núi. Chỉ một mình cô ở tập thể, giữa một khung cảnh đồi núi quạnh hiu, buồn tẻ. Niềm vui còn lại trong cô là những cuốn sách trong thư viện, các cháu học trò, con mèo, luống rau, vườn sắn, đàn gà và sáng tác thơ. Trẻ nhỏ, trang sách và thơ thực sự là một cứu cánh cho tâm hồn của cô. Cô đã sống, làm việc lặng lẽ trong hoàn cảnh túng thiếu suốt một thời bao cấp, cho đến năm 1985 thì về nghỉ hưu.

Có thể nói: những năm 80, do đời sống căng thẳng, khó khăn chung, nhất là đối với các nhà giáo, ăn lương nhà nước, cô giáo Bích Thư lâm vào tình trạng khủng hoảng tinh thần. Thơ cô hay triết lý, có phần uẩn khúc, phẫn nộ. Bản thân cô quá cô đơn, bế tắc. Thư viện chính là nơi ở của cô cũng dột nát, xiêu vẹo, nhưng nhà trường cũng không có kinh phí sửa chữa. Cô cay đắng mong ước có một cơn bão lớn xảy ra cho căn nhà đổ sụp, cô sẽ chết theo, hoặc là sống để được nhìn thấy căn nhà được đầu tư làm lại. Nào ngờ có một đêm, trận giông bão kéo đến thật. Cô sợ quá, ngồi thụp xuống gầm bàn để tránh cái chết. Cơn bão rạch trời đêm, bổ nhào xuống căn nhà của cô. Mưa kéo dài đến sáng thì tạnh hẳn. Nhưng thật lạ, sau cơn bão, căn nhà của cô không đổ mà chỉ bị xiêu vẹo rách nát hơn, vẫn đứng lù lù một chỗ. Trong cơn bão ấy, từ chỗ sợ chết, cô đã dần dần bình tĩnh đón nhận số phận và lạ thay, cảm hứng bất chợt đến, cô sáng tác luôn được hai câu thơ lạ. Khi tôi đến thăm cô, cô Bích Thư kể lại chuyện này. Tôi đã mượn sự việc trên để sáng tác truyện ngắn “Trong cơn bão”. Những lời kể của nhân vật Trang Thu chính là lời kể của cô Bích Thư mà tôi đã dựa vào đó mà miêu tả trong truyện như sau:

“Cô chợt hào hứng, chỉ vào cái bàn gần đó, kể tiếp:

Đêm qua, dưới cái bàn này, cô được sống trong một tâm trạng rất lạ, phải nói là thú vị. Khi gió thổi, sấm chớp rền vang, mọi vật chao đảo, mộng mẹo căn nhà kêu răng rắc. Cô cảm thấy rõ rệt cái chết đang trùm lên cô. Hình như cô đã từng chờ đợi nó. Thế mà cô vẫn sợ. Nó gầm gào ở trên đầu, cào cấu dữ tợn ở xung quanh. Mắt nó đỏ lè phóng ra những tia chớp xanh lẹt rạch vào trời đêm, chạy ngoằn ngoèo, chém sả xuống căn nhà của cô. Những bàn tay khổng lồ vô hình của nó tóm lấy mọi vật bẻ gẫy, bóp nát hoặc nhấc bổng tung lên trời hàng vạn dặm. Cô co rúm cả người, mắt nhắm nghiền, ôm chặt lấy đầu chờ chết. Cô chờ mãi, chờ mãi, chờ cho đến khi cô chợt hiểu ra rằng mọi sinh vật trên đời này đâu có dễ dàng chết. Và ngay cả cơn bão kia chẳng qua cũng chỉ là một bà đỡ cho những sinh linh nhỏ bé yếu ớt đang bị chôn chặt dưới nền đất cứng có điều kiện cựa quậy, nẩy mầm vươn lên khỏi mặt đất. Tự dưng cô thấy bình thản, không sợ chết nữa. Cô mở to mắt, im lặng nhìn ra ngoài. Trong đầu cô bỗng hiển hiện hai câu thơ:

Nơi tĩnh lặng giữa hai đầu cơn bão

Đón sự bình yên bằng trận cuồng phong.

Cô vội vàng chớp ngay lấy, ngân nga đến thuộc làu. Và lạ chưa? Cảm xúc dồn dập tới! Cô sáng tác được ngay bài thơ “Trong cơn bão”. Bài thơ cô viết trong ánh sáng của giông bão đang gầm thét xung quanh. Lạ lắm. Bài thơ như có thần linh ma quỷ dẫn đường ấy. Câu thơ cuối cùng cô vừa viết xong, ngẩng đầu lên thì gió ngừng thổi, sấm chớp im bặt, mưa bỗng trút xuống ào ào.

Cô Bích Thư đã sống trong nhiều ngày đêm tâm trạng như thế: cô đơn, nơm nớp lo sợ, hoài nghi, bất lực, nhưng bao giờ cô cũng tự trấn an mình, bình tĩnh vượt qua. Sau khoảng một năm nghỉ hưu chơi vơi, hẫng hụt, cô Bích Thư thuê được một căn hộ trong khu nhà tập thể xây cấp 4 trên một quả đồi cao km6 thuộc tổ 11, phố Đoàn kết, phường Đồng Tâm, thị xã Yên Bái để bình yên sống nốt tuổi già.

Hồi còn ở thị xã Sơn Tây, cô Bích Thư đã được in thơ chung trong tập thơ “Chim én bay xa”, (Nhà xuất bản Phụ nữ,1992) với nhiều tác giả nữ, trong đó có các nhà thơ Xuân Quỳnh, Thúy Bắc, Hằng Phương… Đến năm 1968 bắt đầu có thơ in ở các báo, tạp chí địa phương với các bài “Tiếng gõ”, “Gái đảm”, riêng bài “Gửi người chiến sĩ biên phòng” được Bích Ngọc phổ nhạc (1968). Từ Sơn Tây về dạy học ở Lào Cai, thơ Bích Thư cũng dần dần được giới thiệu trên các báo, tạp chí “Văn nghệ Lào Cai”. Cô chính thức được kết nạp hội viên Hội Văn nghệ Lào Cai năm 1973. Suốt từ đó đến nay, cô vẫn tiếp tục sáng tác, có thơ in ở “Văn nghệ Hoàng Liên Sơn”, “Văn nghệ Yên Bái”, in chung trong tập “Thơ Yên Bái”, (Nhà xuất bản Văn hóa,1993). Năm 1995 được Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc cho giấy phép ấn hành, cô Bích Thư đã ra mắt bạn đọc một tập thơ riêng với tiêu đề “Rét giêng hai”.

Tập thơ “Rét giêng hai” dày 42 trang gồm 34 bài thơ tự tuyển trong quá trình sáng tác từ 1962 đến 1995 như sau: Chiều (1991), Chân dung (1988), Gửi người tặng tranh (1991), Viên phấn (1990), Ru búp bê (1986), Mùa hoa (1988), Mèo vàng và cún trò chuyện (1990), Tím núi (1976), Mưa hoa (1975), Dòng sông nghĩa tình (1981), Soi mình (1996), Cô gái ngân hàng (1986), Vô đề (1980), Tre già (1991),  Sách từ nơi em (1988), Đừng trách (1994), Nói với hoa (1991), Có bà (1993), Lẻ loi (1993), Đưa con đi học (1993), Người đưa thư (1962), Gửi người chiến sĩ biên phòng (1962), Vọng gác (1976), Gái đảm (1968), Hư ảo (1994), Tiếng gõ (1968), Thiếu vắng (1994), Đời vụng về (1995), Hạt mưa (1995), Gõ cửa (1994).

Tập thơ không sắp xếp theo trật tự thời gian, nhưng đã để lại những kỷ niệm vơi đầy về một cô giáo yêu nghề, yêu trẻ, yêu thơ, yêu cái đẹp của cuộc sống, thoảng trong đó là những nét buồn, vui, hờn, giận, là những triết lý, những cảm xúc vừa tập trung vừa tản mạn phân tán của một nữ thi sĩ đơn côi, nhiều tâm trạng đan cài tạo nên một hồn thơ đa diện, đa cảm lại vừa mung lung, tâm tưởng, khó nắm bắt.

 Là một cô giáo dạy các cháu nhỏ ở các lớp tiểu học nên thơ của tác giả Bích Thư dành những tình cảm quý trọng đối với nghề làm thầy. Tác giả rất đỗi thông cảm với nỗi niềm của các thầy, cô giáo:

Viên phấn em không hóa thành vàng

Có ngày có tháng

Ngọn đèn đêm thâu thấu từng nét chữ

Trang viết ngàn trang giáo án vơi đầy

Lời giảng từ con tim không dễ

Chật tấm khăn quàng cái dại hóa nên không

Không dễ sớm chiều làm nên tất cả

“Trăm năm trồng người” thanh thản gì đâu…

                                                        (Viên phấn)

Với trẻ thơ, bao giờ tác giả cũng nâng niu yêu quý bằng những tình cảm dịu dàng, đằm thắm.Có khi tác giả nhập vai vào một cô bé đang ru búp bê ngủ, cảm nhận trong tiếng “à ơi” của bé có cảnh vật đồng quê tươi đẹp, quyến rũ, có cánh chim hải âu “tìm ra biển”, có nỗi “nhớ bạn xa, bạn gần” để rồi trong giấc ngủ ngoan, búp bê “mơ về mùa xuân” (Ru búp bê). Có khi là hình ảnh về một em bé chăm ngoan đang ngồi vẽ tranh với tấm lòng thơm thảo (Bé vẽ). Nghe tiếng gõ trò chơi đổi chỗ trong giờ chơi mà học, học mà chơi ở lớp mẫu giáo, nhìn cảnh lúc “Cô là nhạc sĩ,cháu là bức tranh” mà tác giả có sự liên tưởng sâu sa:

Vị trí cuộc đời bắt nguồn từ thuở nhỏ

Cô là ngọn đèn phía trước

Cháu là ánh sáng thời gian

                              (Tiếng gõ).

Mưa thường là ướt át, lầy lội, các em bé đi học gặp nhiều vất vả lắm chứ? Thế mà nhìn cảnh em bé đi học trong mưa rơi, tác giả Bích Thư lại thấy hạt mưa như cánh hoa “Mưa rải hoa” trên “Con đường như tơ lụa” đưa em đi học. Mọi cảnh vật trong mưa đều sáng, đều đẹp, đều tỏa hương theo bước chân em, để rồi chiều về Mẹ đến đón em cũng trong mưa hoa:

Đón em trong mưa hoa

Đôi bàn tay của mẹ

Ấm trong tình yêu thương

Đọng trong đôi mắt bé

                         (Mưa hoa)

Phải là người yêu thương, nâng niu trẻ thơ lắm, tác giả mới có cách nhìn, cách phát hiện như vậy.

Hoặc là nhìn cảnh người mẹ đưa con đi học “Lon ton chân son, Mẹ dẫn từng bước”, tác giả lại tự mình triết luận “Con đường là mẹ. Mẹ là của con”, (Đưa con đi học.

Nhưng có lẽ khi đọc những vần thơ viết cho trẻ em của tác giả Bích Thư, hình như tôi vẫn thích hơn cả là bài “Có bà”.

     Cái kim sợi chỉ tay bà

Khâu khâu, vá vá, mượt mà đường kim

Sợi thương, sợi nhớ, sợi tìm

Vắng bà, lạnh giá im lìm chiều đông

Nỗi niềm da diết ngóng trông

Có bà! Còn để được nâng giấc bà.

Bài thơ gợi được tình cảm yêu thương bà và có giá trị giáo dục trẻ em khá tốt. Riêng bài “Mèo vàng và cún trò chuyện” thì tác giả lại mượn chuyện loài vật để bàn chuyện người lớn. Những năm đầu 90, ai đến thăm tác giả đều thấy trong nhà tác giả có nuôi cả chó, cả mèo. Tác giả là người rất yêu loài vật. Tác giả vuốt ve, chăm sóc chu đáo, tâm sự với loài vật như với bạn bè. Bởi vậy, tác giả nhìn cảnh chó và mèo âu yếm, quấn quýt bên nhau mà như nghe thấy chúng trò chuyện rất đỗi tự hào:

Còn mình! Mẹ bảo:

- Hàng ria là sự chắn che

Tín hiệu cho mình rình bắt

Móng, vuốt này có dòng dõi đấy!

Mèo rung ria cười!

Vểnh tai, cún con ra chiều đắc ý

Tiếng hát

        Meo!!! Meo!!! Meo!!!

Đủ làm tông ti nhà chuột

Rên la - Khiếp ẩn - Rụng rời.

Câu khen của đôi bạn loài vật cũng là lời khen của tác giả, cùng một tỏ ý khinh thị đối với những kẻ tham nhũng:

Chao ơi! Cái lũ đầu dơi mặt chuột không như bạn đâu

Rõ ràng bài thơ không chỉ đơn thuần viết cho trẻ em nữa.

Đối tượng thứ ba mà tác giả Bích Thư dành nhiều tình cảm quý trọng, thương yêu là những người lính biên phòng. Các bài thơ “Gửi người chiến sĩ biên phòng” (1962),  “Hạt mưa” (1995), “Vọng gác” (1976), “Mùa hoa” (1988) đều sâu nặng nghĩa tình quân dân, tình yêu đôi lứa chung thủy ở nơi biên thùy:

 “Biên thùy anh đứng gác

 Chiều mưa rơi!

                 Rơi

                    Rơi

Mưa như là se chỉ

Em dệt thêu cuộc đời”

                               (Hạt mưa)

Tác giả hay nhắc đến cảnh xa quê, xa gia đình vợ con, xa người yêu của người chiến sĩ biên phòng. Lúc thì tác giả nhập vai người lính, lúc thì nhập vai người vợ, người yêu để bộc lộ nỗi nhớ da diết trong những ngày tạm chia xa, tiêu biểu nhất là bài thơ “Gửi người chiến sĩ biên phòng”, do vậy, đã tạo nên những vần thơ thương nhớ khá sâu sắc, cụ thể, biểu lộ được tấm lòng trân trọng thành kính đối với các chiến sĩ đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

Trong những ngày cô đơn, căn phòng của Bích Thư thường có nhiều bạn bè, đồng nghiệp lui tới thăm hỏi. Cảm động và khát khao tình cảm, nhưng bao giờ tác giả cũng dành nhiều cảm xúc cho các bạn gái. Tác giả viết bài thơ “Sách từ nơi em” tặng cô gái bán sách Phạm Bích Hằng, vì cô gái như con thoi giữa đời và sách:

Em là con thoi giữa đời và sách

Sách vô cùng vô tận

Sách của nhân gian, sách của toàn cầu

Sách “từ ngàn xưa” để lại với bao truyền thuyết, bao tri thức của nhân loại. Sách quý giá nhường vậy. Nghề bán sách của em cũng đáng trân trọng làm vậy. Câu hỏi kết thúc bài thơ đặt ra cho cô gái bán sách còn ngầm nhắn nhủ, khuyên bảo chúng ta biết giữ gìn và xây dựng tình yêu đất nước:

Tôi muốn hỏi em:

- Có nỗi đau nào hơn? Mất tình yêu đất nước?

- Có hạnh phúc nào hơn? Đất nước bình yên?

Xuân 1991, nữ bác sĩ Đào Ngọc Lan đến thăm, tặng tác giả một bức tranh lịch thiếu nữ, lập tức tác giả có ngày bài thơ “Gửi người tặng tranh” bầy tỏ mối đồng cảm với thiếu nữ trong tranh và với cả người tặng tranh nữa:

Trong tranh thiếu nữ mỉm cười

Thờ ơ với cuộc đời lặn lội

Bước thăng trầm vừa lắc lại vừa đong

Tác giả tưởng tượng ra cái ngày:

 Vô tình cứ giăng tơ nhện mắc

Bụi thời gian mờ nhạt bức tranh treo

Và đặt ra câu hỏi:

Bài thơ xưa lỡ gieo câu đồng vọng

Người tặng tranh còn nhớ tháng năm không?

Ngay cả trong bài “Chân dung”, ngắm một bức tranh thiếu nữ khác, tác giả cứ suy nghĩ triền miên trong tâm tưởng:

Nghĩ gì đây, xa lắc, xa lơ

Tận chân trời cuối biển

Nhưng cũng lạ! Bức tranh phác họa

Không có tiếng người rõ nét, rõ âm thanh

Tôi nghĩ về em! Tôi nghĩ về mình

Vầng trăng kia! Xóa đêm đen tối

Những tia nắng đầu tiên sau cơn giông dữ dội

Không lững lờ trôi - Em là bến, là bờ

Là hoàng hôn tím trời, tím núi

Vẫn nghĩ về em như buổi sớm xuân

Sau mùa đông cây trút lá trên cành

Sự sống đâm chồi nảy lộc.

Rồi tác giả lại bất ngờ chuyển sang liên tưởng, so sánh, vẫn trong trạng thái triển miên suy ngẫm, tâm tưởng:

“Ơi! Loài lồng vực- cũng mượn gió ru

Loài hoa nào hóa thành trái ngọt

Loài hoa nào? Hữu sắc không hương

Trong hoài cảm xuân là bóng dáng

Chân dung cuộc đời tôi lại nghĩ về em.

Có lẽ đây chính là đặc điểm riêng biệt trong thơ Bích Thư. Tác giả cứ chăm chú quan sát và suy ngẫm. Chìm đắm trong nghĩ suy, chìm đắm trong tâm tưởng đến nỗi có người cho thơ Bích Thư là tản mạn, ý tứ không chặt, khó nắm bắt. Đúng là có hiện tượng như vậy. Nhưng xem kỹ, ngắm kỹ thì không hẳn vậy. Dòng chảy của thơ bề ngoài nghe ra có vẻ “luễnh loãng”, “lỏng lẻo”, nhưng ý tứ vẫn tập trung trong trạng thái tâm tưởng. Tác giả vừa trân trọng phái đẹp, vừa đồng cảm với số phận của phái đẹp, lại vừa lên tiếng cảnh báo, phê phán những gì là giả dối- “giả đẹp” dễ có ở phái đẹp. Hiện tượng này xuất hiện nhiều trong các bài thơ của Bích Thư. Đó vừa là nét riêng của tâm trạng, là thế mạnh đồng thời cũng là hạn chế tất yếu, nhất là khi tác giả lên tiếng cảnh báo, nhắc nhở, lên tiếng giáo dục các cô gái, hoặc những người khác như các bài: “Chân dung”, “Gửi người tặng tranh”, “Viên phấn”, “Soi mình”, “Cô gái ngân hàng”, “Tre già”, “Sách từ nơi em”, “Giọt sương”

Sâu thẳm trong thơ Bích Thư còn là một nỗi buồn man mác hiu hắt. Buồn bởi sự cô đơn trống vắng, thiếu thốn tình cảm, khát khao tình người. Buồn bởi nhân tình thế thái. Nhưng tác giả lại tự an ủi mình, tự khuyên mình đừng trách ai:

 

Khát khao!

       - Không ở tháng ngày phẳng lặng

Đến ngã ba- đừng lầm lẫn con đường

Không có phút giây thao thức

Cái vô vọng! Lại giận hờn vô vọng!

Trái tim mình!- Không phải trái tim ai.

                                                      (Đừng trách)

Có lẽ trớ trêu hơn cả, buồn vui lẫn lộn hơn cả là vào những dịp tháng giêng, hai, những tháng của mùa đông chưa qua và mùa xuân đang đến. Tết năm 1994, tác giả viết bài “Hư ảo” bộc lộ nỗi niềm buồn vui đó:

Người tần tảo bộn bề vất vả

Tết đến sau lưng vất vả vẫn theo sau

Tự hỏi: - Mua sắm gì mừng xuân được nhỉ?

Ngọn ngành buồn vui không hòa nhập vào nhau.

Nhưng rồi trong cái phút “Hư ảo” ấy, tác giả vẫn cảm nhận và hòa nhập được vào niềm vui cuộc sống, niềm vui của đất trời vào xuân.

… Phút giao thừa hư ảo

Lan tỏa từng nhà ngào ngạt hương xuân

Cũng trong ngày giáp tết năm 1994 ấy, có những vị khách bất ngờ tới thăm thi sĩ gồm 4 người không ai hẹn ai, cùng đến là: Kiều Ngọc, Ngọc Lan, Hải Oanh và anh phóng viên tên Công. Đó chính là niềm vui bất ngờ, là mùa xuân đến bất ngờ. Tác giả cảm động viết luôn được bài thơ “Gõ cửa”, với niềm vui thật lạ, thật bất ngờ, khác xa với dòng thơ tâm tưởng vốn có của mình, đủ các cảnh vật, loài chim của mùa xuân mang tên gọi của bốn người: Oanh, Công, Ngọc, Lan như sau:

Tiếng oanh lảnh lót trên cành

Rực rỡ công xòe cánh múa

Hạt sương ngọc biếc long lanh

Muốt trắng hoa lan chớm nở

Đất trời khoác áo màu xanh

Bồi hồi! Ngỡ ai gõ cửa

Hóa mùa xuân đến với mình.

Thật là cảnh đẹp trong rét giêng hai như người ta vốn truyền tụng: “Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc”. Cả tập thơ của Bích Thư không có bài nào có tên gọi “Rét giêng hai’ mà chỉ có câu tục ngữ truyền miệng của người xưa để lại được tác giả vận vào bài thơ “Chân dung” viết từ năm 1988- cái năm khó khăn, vất vả, thiếu thốn nhất và đầy bi kịch đối với tác giả. Có lẽ tập thơ đứng tên “Rét giêng hai” cũng xuất phát từ cái ý nghĩa “rét đài, rét lộc” ấy mà ra? Rét lạnh tê tái mà lộc xuân đang đến. Khí hậu thời tiết ấm áp đang dần dần hiện ra. Thơ Bích Thư được sáng tác trong giá rét, đơn côi vẫn ấm áp tình người, tình đất hương trời như vậy.

 Đến năm 1999, tác giả Bích Thư bắt đầu bước vào tuổi 63. Cô giáo Bích Thư đã trở thành một bà giáo già sống yên phận trên đồi cao km6 thị xã Yên Bái. Bà giáo cao tuổi ấy sức khỏe ngày càng giảm sút, ít đi lại đọc thơ ở các câu lạc bộ hơn, ít đến trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật hơn. Bà vẫn sống đơn côi trong căn hộ khép kín, tự chăm chút cuộc sống đơn bạc của mình, vẫn trồng rau, chăm chút cây cảnh, vuốt ve trìu mến một con chó giữ nhà. Bà vẫn yêu quý các cháu nhỏ, vẫn làm thơ, mặc dù ít gửi thơ cho Hội in. Nhưng có điều thật lạ! Thơ sau ngày về hưu đến nay của Bích Thư xem ra có phần đằm trở lại, chặt chẽ và sâu sắc hơn. Chỉ qua mấy bài in ở Tạp chí Văn nghệ Yên Bái như “Chén rượu cuộc cờ”, số 22 (1996), “Mưa cuối hạ” số 25 (1997), “Đêm” số 26 (1997) và số 37 mùa xuân năm 1999 với bài “Khúc tâm giao” thì lại càng rõ. Đó là những tình cảm gần như chắt lọc lại cả cuộc đời khốn khó để có một lời khuyên giải chân tình với một người bạn già (Chén rượu cuộc cờ) hoặc nhìn cảnh mưa cuối hạ mà thấy thương cho cơn mưa:

Như là trốn lại tìm nhau

Mây vương vấn gió hóa vào thành mưa

Rồi trong xanh đến thẫn thờ

Cỏ cây ngan ngát, ngẩn ngơ nắng vàng

Thu về êm ả mênh mang

Thương mưa cuối hạ vội vàng chia xa.

                                            (Mưa cuối hạ)

Ngay cả trong đêm dài thao thức, bà giáo Bích Thư vẫn nghĩ về những nỗi đau thế thái nhân tình để mà gom góp chắt chiu những gì là tốt đẹp, là nhân ái ở đời.

Nỗi đau thế thái nhân tình

Những cơn đau thắt! Vô hình cơn đau!

Người ta thừa thãi ước ao

Em thì cứu vớt chia đau kiếp người

Người ta quen lỗi hẹn rồi

Em thì chiu chắt trọng lời của nhau

Đêm dài mới thấu canh thâu!...

                                                     (Đêm)

Đúng là càng về già thơ Bích Thư càng nhuần nhụy, trau truốt hơn và nhân ái hơn, nhân hậu hơn. Do có sự cống hiến cho ngành giáo dục trong suốt những năm chiến tranh nên bà giáo Bích Thư đã được Nhà nước trao tặng Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhất năm 1995, Bộ Giáo dục trao tặng Huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục năm 1996, Bích Thư còn là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lào Cai (1975), Hoàng Liên Sơn (1976- 1990), Yên Bái (1991 đến nay). Bài thơ “Có bà” của Bích Thư đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) trong cuộc thi sáng tác văn học cho trẻ em tỉnh Yên Bái năm 1993. Tập thơ “Rét giêng hai” đoạt giải Khuyến khích giải thưởng Văn học Nghệ thuật Yên Bái năm 1995.

Bởi những cống hiến liên tục cho sự nghiệp văn học nghệ thuật tỉnh nhà, ngày 20 tháng 8 năm 1998 nhà giáo Nguyễn Thị Bích Thư vinh dự được Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam trao tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam theo Quyết định số 34-QĐ/ĐCT do Phó Chủ tịch Hà Xuân Trường đã ký.

Bích Thư- một nhà giáo, một người yêu thơ, làm thơ của tỉnh Lào Cai- Yên Bái có cuộc đời và sự nghiệp sáng tác đáng trân trọng. Trong giá lạnh cuộc đời, trong mọi hoàn cảnh bà vẫn cố vươn lên, sống hết mình cho “Rét giêng hai”. Năm 2012 Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Yên Bái đã giúp bà in tuyển tập thơ “Nẻo đường nỗi nhớ”.

9 giờ 40 phút ngày 19 tháng 10 năm 2019 (tức ngày 21 tháng 9 năm Kỷ Hợi), nhà thơ Bích Thư tạ thế, để lại niềm thương nỗi nhớ cho bao bạn bè, đồng nghiệp.

 

                                                                                  Yên Bái, tháng 10 năm 2019

                                                                                                H.V.Q



 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter