• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Ý nghĩa nhân sinh qua các sự kiện trong tập truyện ngắn “Tiếng hú trên đỉnh Pù Cải” của Nông Quang Khiêm
Ngày xuất bản: 26/03/2019 1:51:59 SA

Lưu Khánh Linh 

Thế giới nghệ thuật của văn học là một thế giới hình tượng vận động và mang ý nghĩa. Hình tượng mang ý nghĩa ấy xuất hiện và lớn dần lên qua các sự kiện và lời trần thuật của văn bản. Với 11 tác phẩm trong tập truyện ngắn của Nông Quang Khiêm, ngoài sự ám ảnh bởi không gian văn hóa Tày bàng bạc, ngai ngái, ngùi ngùi màu rừng núi của dải đất Đông Nam- Tây Bắc nơi có ngọn núi Cao Biền và Con Voi ngăn giữa tả ngạn, hữu ngạn của dòng sông Chảy tỉnh Yên Bái; tôi còn thực sự bị vấn đọng trong tâm trí bởi những chuỗi sự kiện được tạo dựng trong hành trình của "Tiếng hú trên đỉnh Pù Cải".

Khái niệm sự kiện trong lí luận văn học đã được đề cập từ thời cổ đại với thuật ngữ khởi phát là hành động (action) được nêu trong cuốn "Nghệ thuật thi ca" của Aristote. Trải qua chặng dài nghiên cứu văn học, khái niệm ấy đã được bổ sung, định nghĩa với những lối diễn đạt khác nhau. Nhưng tựu chung, các nghiên cứu ấy đều gặp gỡ một điểm rất thống nhất- đó chính là vai trò, vị trí xương sống của sự kiện trong xây dựng tác phẩm tự sự. Nói như Timofeev: "Cốt truyện là hệ thống các sự kiện". Như vậy, sự kiện là nội dung biểu hiện chủ yếu của văn bản văn học. Đó là những hành vi của nhân vật hay sự việc xảy ra đối với nhân vật dẫn đến hậu quả làm biến đổi hay bộc lộ một ý nghĩa nào đó đối với mục đích người kể.

Từ khái niệm về sự kiện, soi chiếu vào tập truyện của Nông Quang Khiêm, người đọc cảm nhận rõ nét ý nghĩa nhân sinh qua việc cấu trúc, tổ chức sự kiện trong chuỗi truyện của tác giả. Đó chính là nỗi niềm khắc khoải, thấm đẫm yêu thương trước những cảnh đời cơ cực của người dân tộc thiểu số miền núi. Mở đầu với câu chuyện về cuộc đời đầy tù túng nơi bản nghèo Pù Làu với những hủ tục, những cơ cực bám gót cuộc sống khiến nhân vật "tôi" không vươn mặt lên được quá ngọn đồi hoa chó đẻ, lùi lũi làm thằng chăn dê dù đang tuổi thanh xuân 19, dù được khen ngợi "học giỏi nhất bản Căng". Nhưng, học bằng cái gì? Có gì để đi học khi mà gia cảnh nghèo, túng bấn, chỉ là con của "bà nải"- người đàn bà góa, người lúc nào cũng "vương đầy tro nương", nhìn tựa "tàu lá chuối khô héo rũ". Mặc dù, biết đi học là để "rửa cái nhục", để "ngóc đầu lên với thiên hạ, để người ta không coi khinh". Và thế rồi, giữa khát khao được học Đại học luôn luôn bỏng cháy nơi lồng ngực với nghịch cảnh nghèo đói, người mẹ góa vất vả đến héo hắt cả cuộc đời; Nông Quang Khiêm đã tạo ra sự kiện bước đầu cho nhân vật, ấy là ngày thi "xe đi đến xã bên thì tôi nhảy xuống, vào nhà thằng bạn vùi chăn khóc một trận rồi ngủ li bì ba ngày liền". Và đó chính là lần nhân vật "tôi" tự chấm cho mình được thi trượt! Cũng vì thế, "thằng chăn dê" mới có cơ hội gặp Sa. Tình yêu chưa thành giọt mật thì thông thốc gió của tập tục, lề thói bản địa với những hủ tục trên đỉnh Pù Làu dội vào đầu của không chỉ nhân vật "tôi" mà cả gia đình xiêu vẹo ấy những cơn lộng buốt. Bố của Sa, tào Pú - một thầy cúng nổi tiếng, "được trọng vọng và danh giá" là lạch nước độc đã được tác giả chọn làm đầu mối sự kiện để khơi tiếp dòng chảy về sự biến đổi cuộc đời nhân vật. Đó chính là cái chết của đứa cháu ruột 3 tuổi. Theo tục lệ, đứa bé phải được cúng để đưa hồn vía về đồng Phi Eeng (cánh đồng ma chết trẻ). Trời mưa gió, sấm chớp nhì nhằng và gió rin rít qua rặng cây; hai mẹ con nhân vật "tôi" lặn lội tìm đến nhà tào Pú nhưng không những bị ông ta hắt hủi, từ chối không nhận cúng vì thân phận thấp hèn của mình mà sự tàn ác còn được đẩy lên đỉnh điểm khi ông ta xuất hiện vào lúc đứa bé chuẩn bị được đưa ra đồng với hành động "gục mặt xuống xác con anh tôi, cất tiếng khóc than". Sau hành vi bất thường ấy; tất cả mọi người tá hỏa khi thầy tào Tương hoảng hốt: "Hồn ma đứa trẻ đã bị ai đó bắt đi rồi". Và khi lật tấm vải trắng ra thì thấy ngón tay út của đứa trẻ đã bị ai đó cắn đứt. Bởi theo lối mê tín truyền đời của người Tày, trong đám ma trẻ con, nếu ai đó cắn được ngón tay út của người chết thì hồn của nó sẽ đi theo về nhà và biến thành ma Slay. Cũng là tương truyền, "ma Slay thì biết mọi thứ về quá khứ, hiện tại, tương lai mà người trần mắt thịt không thấy được". Mắt vằn thành hai cục lửa, bố của đứa trẻ gầm lên "thầy tào Pú đâu?", còn nhân vật tôi "lao ra khỏi nhà, với cây đòn gánh, phăm phăm chạy đến nhà tào Pú" chỉ thẳng mặt hắn khi hắn đang loay hoay cất ngón tay vào cái hộp dưới ngăn kéo bàn thờ. Đúng lúc nhân vật tôi "giơ cao cây đòn gánh, muốn đập một nhát cho hắn chết luôn" thì Sa xuất hiện "nhòe nhoẹt nước mắt, ánh mắt nửa như cầu xin, nửa đau đớn". Thế là đòn gánh buông, và thế là từ hôm ấy đôi trẻ cũng không còn gặp lại nhau nữa mặc dù nhân vật "tôi" đợi mòn mỏi bên tảng đá, cạnh gốc cây vẫn thường hò hẹn đến tận lúc trăng tàn cuối dãy núi Ngàng, sương rơi ướt đẫm. Sao mà chua chát thế! Sao mà đời buồn đến bạc trắng, đến tím mòn mỏi như loài hoa chó đẻ mà Nông Quang Khiêm chắc không phải ngẫu nhiên miêu tả lặp đi lặp lại như một tín hiệu thẩm mĩ đến 9 lần trong 6 trang truyện. Đó là không gian nghệ thuật mà tác giả lựa chọn đưa vào bối cảnh phông nền cho cả tác phẩm ngay kế tiếp "Nàng hương" tạo ấn tượng cảm xúc cho người đọc về nỗi buồn như thấm vào từng lớp da, thớ thịt, như ăn sâu bám cội với thái độ cam chịu, chấp nhận của người dân nơi bản nghèo. Nào cuộc đời nhân vật "tôi" đâu phải chỉ kết ở câu chuyện tình dang dở; Nông Quang Khiêm đã hất nét bút tạo nên sự kiện thứ ba với ước mơ học Đại học trỗi dậy, nhân vật tôi trở thành sinh viên Sư phạm. Khi cầm được tấm bằng loại giỏi trên tay trở về bản làng thì "quê hương vẫn nghèo, chỉ nhà tào Pú thì như một tòa biệt thự nổi bật lên giữa núi rừng", là tin Sa đã lấy chồng, và mẹ già thêm héo hắt "tóc bạc phơ". Nửa năm nộp hồ sơ xin việc, nửa năm bặt âm vô tín và cuộc đời của nhân vật ấy như một con "gà què ăn quẩn cối xay", khi 24 tuổi lại trở thành thằng chăn dê. Tia hạnh phúc mở ra cuối con đường hầm khi thằng chăn dê đơn độc ấy được thế chân dạy vào chỗ một cô giáo cắm bản không trụ được cực khổ đã bỏ việc ở bản bên. Những bức tranh tương phản, đối lập ấy càng thêm vết dao cứa vào lòng người đọc với câu dẫn truyện đầy nhẹ nhàng, tưởng chừng dửng dưng của người kể nhưng kì thực lại thấm đầy nỗi thông cảm, ăm ắp yêu thương xa xót của Nông Quang Khiêm: "Tôi tự thầm cuộc đời. Bao nhiêu năm gồng mình học hành những mong thoát khỏi cái bản nghèo đầy xác xơ những buồn đau tủi nhục này, luẩn quẩn, lại quay về". Mà cái vòng luẩn quẩn nó quẩn quanh đến mức trớ trêu, ngôi nhà riêng nho nhỏ, xiêu xiêu của vợ chồng Sa, nơi cô gái thường lùi lũi xới cỏ, vun ngô lại đối diện bục giảng của chàng trai ấy. Do "đời bố ăn bản, ăn mường, đời con bước khe mương chẳng nổi"; người chồng suốt ngày uống rượu, cờ bạc lại còn là con nghiện ma túy và hay ghen nên Sa thường bị những trận đòn nhừ tử. Đó cũng là lí do gải thích vì sao lần thứ ba chạm mặt nhau, chàng trai nhìn thấy Sa "tóc rối bời, mặt tím trầy xước". Họ bước qua nhau, lúc ấy mùa hoa chó đẻ xao xác rụng trắng cả ngọn đồi...

Đó là các sự kiện tạo nên diễn biến của câu chuyện "Đường quê" mở đầu tập truyện với niềm xót thương vô hạn của nhà văn trẻ trước những cảnh đời cơ cực của người dân miền núi. Lướt qua các tác phẩm khác như "Gió qua Éc Vài" đó là bi kịch của người dân nghèo lam lũ được mô phỏng và dồn tụ qua cuộc đời của hai nhân vật Nải và Pu. Cuộc sống nghèo khó nhưng yên bình của bản đã bị đảo lộn hoàn toàn từ khi có sự kiện các doanh nghiệp đến khai thác quặng, đá quý trên đỉnh Éc Vài. Không chỉ là âm thanh chát chúa của tiếng xe, tiếng mìn, tiếng đá lở mà "cái bản nhỏ nghèo xác xơ bỗng cựa mình thay đổi nhanh chóng" khi nhiều thanh niên trai tráng đua nhau lên đỉnh núi kiếm tiền, mong được đổi đời, trong đó có Nải. Để rồi, người yêu cô là Pu, vừa bị uất ức khi người yêu bỏ lên núi không bàn bạc với mình, vừa để rửa nhục cái nỗi nghèo hèn, thất học bằng sự chứng minh kiếm tiền để trở nên giàu có; Pu đã vượt sang bên kia dãy Kim Kang. Quần quật, hùng hục vật lộn đào, khoét; sống bẩn thỉu, nhớp nhúa như thời ăn lông ở lỗ. Sự kiện thứ hai, là bước ngoặt tiếp theo làm thay đổi cuộc đời nhân vật đó là việc Pu đào được viên đá rubi cùng sự rượt đuổi của bọn cai phu với "những con dao loang loáng" và "tiếng súng nổ chát chúa". Vẫn giữ được mạng sống, thậm chí cầm được một bọc tiền lớn vắt chéo lên vai nhưng lại là lúc Pu tập tễnh về nhà bằng một đôi chân thọt, bằng việc chứng kiến cảnh Nải bị lừa gạt tình yêu, bị lừa bán sang biên giới và khi trốn được về thì cô đã mang theo "chiếc bụng nổi lên lùm lùm". Hình ảnh cuối cùng của tác phẩm "Hai người gục vào nhau, bóng đổ dài trên dốc núi. Gió ở đâu đó cứ ùa về trên đỉnh Éc Vài, cuốn theo những mây là mây mù mịt. Pu đưa tay kéo Nải dậy. Hai người liêu xiêu dắt díu nhau xuống núi trong chiều thông thốc gió". Tôi chợt nhớ đến đoạn kết phần 1 trong "Vợ chồng A Phủ" của nhà văn Tô Hoài với hình ảnh "hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi" để trốn chạy khỏi những xiềng xích, tập tục hà khắc, tàn bạo của ách thống trị phong kiến miền núi vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, ở phần 2 của truyện, Mị và A Phủ- những phận người dân tộc Mông bất hạnh, nghèo khổ ấy đã trở thành vợ thành chồng, đã đến được với ánh sáng cách mạng để có cuộc sống hạnh phúc mới. Còn trong "Gió qua Éc Vài" của Nông Quang Khiêm, người đọc vẫn chơi vơi trong sự buồn thương bởi cái dáng liêu xiêu chưa có dấu hiệu tươi sáng nào cho chặng đường phía trước. Hầu hết, các tác phẩm trong tập truyện của Nông Quang Khiêm đều kể về những mảnh đời nằm trong trục bế tắc ấy. Ngay như "Gió cuốn mây ngàn" là câu chuyện về Dìn và Mây- chàng trai Tày, cô gái Dao đã vượt qua định kiến xóm làng để nên duyên chồng vợ cũng vậy. Sự kiện đã làm biến động cuộc đời của đôi trẻ, khiến họ rơi vào bi kịch tan đàn xẻ nghé trong đớn đau lại bắt nguồn từ việc đầy nhân văn, thức thời và cao thượng của Dìn khi động viên người vợ trẻ ra thành phố đi học cái chữ  "Mây học giỏi. Xã Dìn trừ Chủ tịch và Bí thư xã có bằng trung cấp chuyên nghiệp, còn lại chỉ học hết phổ thông. Khi Mây học xong, mấy cái chức như Chủ tịch Hội phụ nữ hay Bí thư Đoàn xã không giao cho Mây thì giao cho ai. Chỉ có như thế, may ra cuộc sống của vợ chồng Dìn và con cái sau này mới bớt đi khốn khó". Đó là suy nghĩ đầy tân tiến, hàm chứa tầm nhìn mà thật sự rất ít người ở chân núi Ngàng của bản Mấy hay bản Luồng nhận thức được. Nhưng, than ôi! Sự thương yêu vợ đến mức hiếm có, khát khao được đổi đời chân chính đến tột cùng, vậy mà sự quần quật của Dìn để chống lại cái lạnh thốc của gió hồ, cái bợt bạt đến nhăn nheo da thịt của nước để có những "tờ bạc lẻ nhàu nhĩ còn vương mùi tanh của tôm tép" dành nuôi vợ không chiến thắng được những mặt trái thị thành- nơi mà Mây đang theo học. Mây không sa ngã, không bị những đèn màu, trang sức, đồng tiền... quyến rũ. Nhưng, để bớt gánh nặng cho Dìn, Mây đã đi tìm việc làm thêm sau giờ học. Và lòng yêu thương chồng, biết ơn chồng vô hạn cùng sự tự trọng, tự tôn muốn tự lập ấy cuối cùng cũng bị sa bẫy bởi sự ô trọc của thói đời. Cô đã trở thành gái qua đêm với tên đại ca xăm trổ, bị gieo vào cơ thể căn bệnh thế kỉ. Đó là lí do Mây tự cắt đứt mọi liên lạc, tự đẩy hai vợ chồng về hai hướng với những sự gá buộc mới qua vỏ đậy của cặp gia đình mới cho cả đôi: Mây với Đẩu (người đàn ông bất lực về khả năng nam giới của mình), và Dìn với một cô gái Tày "không xinh đẹp lắm nhưng hiền lành, tốt tính". Chuyện kết thúc đầy xót xa, và cũng cả ấm ức, lẫn rát đau nơi ngực người đọc khi nguyên nhân mọi thảm cảnh vẫn chưa được thông giải cho các tuyến nhân vật trong truyện mà chỉ câm lặng một mình nơi Mây cùng sự đồng suy tưởng của độc giả qua hình ảnh cuối tác phẩm "Mây toàn thân bị phù, mưng nủ, lở loét, nằm một chỗ... thứ bệnh không có thuốc cứu chữa".

Thông qua những câu chuyện ấy với các sự kiện được nối kết, đưa đẩy tình huống phát triển thành dòng tự sự về những mảnh đời, phận người dân tộc thiểu số vùng cao, ta nhận thấy tấm lòng ưu tư của tác giả trẻ. Nhà văn viết như đang kể người thực, việc thực bằng quan hệ của người xóm giềng. Tất cả họ dường như đều mang những gương mặt nhàu nhĩ, lam lũ, bần hàn, cơ cực, sống quanh quẩn bên tác giả. Tác giả nhìn thấy, ngó thấy, đầy xót xa, thương cảm nhưng... bất lực. Bởi lật xuôi, giở ngược để đọc đi, đọc lại tập truyện, ngoài "Ngày cuối năm", "Hai lần gặp gỡ" và "Người mắc lỗi" dường như chật ra ngoài quỹ đạo chung (khi chưa hướng ngòi bút để khai thác về những phận người nghèo hèn cùng số phận bi thảm của người dân tộc thiểu số nơi vùng núi cao Tây Bắc), còn lại tất cả hệ thống nhân vật đều mang chiều hướng con đường đời giống nhau: tù túng, đói nghèo nơi vùng núi- ước mơ hạnh phúc và khát vọng đổi đời- bi kịch không lối thoát của sự tù đọng. Để sâu sắc thêm cảm nhận văn học ấy, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu truyện ngắn nằm ở vị trí cuối cùng của tập truyện và được chọn làm tên nhan đề cho cả tập "Tiếng hú trên đỉnh Pù Cải". Mở đầu bằng những câu kể đều đều, nghe bình thản ở vai người thứ ba nhưng sau mỗi con chữ là một nỗi buồn diết da đến bứt rứt cơ thể: "Người thô kệch, mặt như củ khoai hà, đã thế lại còn bị thọt. Bố mẹ mất sớm, Sìn ở một mình trong ngôi nhà sàn cột xiêu, phên nứa, mái dột cuối bản Cốc Nhội, sống bằng nghề đánh lươn... 32 tuổi Sìn chưa lấy được vợ". Thô kệch, khoai hà, thọt, xiêu, dột... - toàn những tính từ đặc tả, phác thảo một bức họa thật tương xứng với lời bình có vẻ dửng dưng, Sìn sống "đủ để nghèo bình thường như những người trong bản". Và sự đổi đời chưa từng xuất hiện trong giấc mơ đã đến với sự kiện: có công ty khai thác quặng, đất nhà Sìn nằm trên rốn của mỏ khai thác ấy. Thế là được tiền đền bù, Sìn thành "đại gia to nhất xã". Đến đây, chúng ta hãy tạm lắng lại, tách mình ra khỏi hệ thống truyện để cùng ngẫm về nhận định của Iu. Lotman: "Sự kiện trong văn bản là sự chuyển dịch vị trí nhân vật qua ranh giới trường nghĩa". Nghe có vẻ trừu tượng, mơ hồ chữ nghĩa. Nhưng hãy làm thao tác gắn thẻ nhận định ấy vào truyện ngắn của Nông Quang Khiêm. Trong tất cả 11 truyện, tác phẩm nào tác giả cũng xây dựng các sự kiện để đổi hướng tự sự, mô tả và qua đó biểu cảm về số phận bi đát của các nhân vật. Và ở đây cũng vậy. Từ "thằng Sìn hôi hám, xấu xí, nghèo xơ xác... giờ Sìn đi giày da bóng lộn, quần là áo lượt", là người đầu tiên trong bản có được con xe máy Air Blade; và quan trọng nhất là có được vợ. Vợ của Sìn là Xao đã từng trải qua 1 đời chồng- lấy con một ông cán bộ to ở huyện nhưng 3 năm chưa có con nên cuộc hôn nhân đã dở dang. Nhưng, gái đã từng có chồng thì đã sao? Sự vui sướng, hạnh phúc đến ngạc nhiên khi Sìn có được vợ, có được Xao- cô gái đẹp nhất bản mà trước đây Sìn từng ao ước là tài sản vô giá nhất đời đối với Sìn. Và có lẽ Xao cũng là thần hộ mệnh, người hợp duyên đem tài lộc đến với Sìn ở giai đoạn ấy khi mà Sìn chuyển từ nghề bắt lươn sang ôm lô đề phất lên như diều gặp gió. Có gia sản kếch xù, Sìn đưa vợ đi khám chữa hết các bệnh viện lớn đến mức vơi hơn nửa tài sản nhưng Xao vẫn chưa có thai. Thế rồi, điềm báo trong giấc mơ định mệnh về việc sinh được con đã khiến cả vợ chồng vong gia bại sản sau khi ôm con số đề 67. Giai đoạn "hợp duyên đem tài lộc" ngắn chẳng tày gang. Lại trắng tay! Xao trở về với cày cuốc, Sìn trở về với đánh lươn. Môtip truyện có vẻ quen quen đang có dấu hiệu nhàm chán thì bất ngờ Nông Quang Khiêm tạo ra sự kiện mới, đó là việc Xao bỏ nhà đi theo Liên - người bạn cũ bản bên với mong muốn có một cuộc sống mới, được thoát khỏi ông chồng nửa người nửa thú luôn nồng nặc mùi rượu từ sau khi vỡ nợ, được "rời thật xa ngôi nhà trống rỗng, lạnh lẽo kia". Nhưng, đâu có thiên đường, chỉ có địa ngục mới lại mở ra, đó là Xao bị chiếm đoạt thân xác, là mong manh chỉ còn trong sợi tóc, là bị bán qua biên giới thì được giải cứu bởi công an. Nhưng khác với Nải trong "Gió qua Éc Vài" sau khi bị lừa bán qua biên giới, cô ấy vẫn trở về dù tay khư khư nắm lá ngón định chết. Còn với Xao thì không. Cuộc sống tù đọng đến hôi tanh từ mùi người đến mùi sự vật xung quanh khiến cô "sợ ngôi nhà ấy, sợ quay về", "không rẽ về nhà mà đi tiếp, đi mãi về dãy Pù Cải". Để rồi, với rét đậm, mưa tuyết trên đỉnh núi, Xao chết như "bức tượng bằng đá đông cứng, ánh mắt đang dõi về bên kia dãy núi Pù Cải, trên tóc, trên vai, trên người Xao trắng một màu tuyết". Đọc đến đây, độc giả như bị cả khối băng tuyết chèn lên lồng ngực, một luồng buốt lạnh chạy dọc cơ thể. Không cầu kì ngôn ngữ, không quá dông dài, Nông Quang Khiêm kiệm ngôn, dung dị, chỉ như đang kể chứ không phải viết truyện cần câu, tứ, nghệ thuật cầu kì nhưng đã mở ra những trường nghĩa thênh thang cho người đọc đồng suy tưởng. Và tiếng hú ở cuối tác phẩm là một biểu hiện như thế. Sau khi vợ bỏ đi, từ "lo lo" đến "lòng như lửa đốt" và "càng nóng ruột hơn" là những cung bậc trạng thái của Sìn khiến anh "cứ theo con đường mòn đi mãi, đi mãi về dãy núi Pù Cải" trong đêm trăng mờ. Để đến khi gặp Xao, "Sìn khụy xuống, miệng hú lên ghê rợn" rồi "cứ thế ôm lấy khối tuyết mà gào, mà hú". Nhiều đêm sau đó người ta vẫn nghe thấy "tiếng hú như loài vượn hoang, vọng về từ vách đá, dội lại, tan trong đêm thanh vắng âm âm u u". Đến đây, người đọc cảm thụ rõ, ngoài loài hoa chó đẻ, hình ảnh con đường dài hun hút thì giờ đây âm thanh tiếng hú cũng trở thành một trong ba tín hiệu thẩm mĩ nổi bật nhất của toàn tập truyện, nói lên tư tưởng, chủ đề của tác phẩm và ý nghĩa nhân sinh của tác giả gửi gắm qua hệ thống truyện về thân phận, cuộc đời của con người dù được đo ở chiều kích nào thì vẫn gói tròn trong hai từ "bất hạnh". Đọc truyện Nông Quang Khiêm, trong tâm trí tôi thảng hoặc cứ xuất hiện hình ảnh "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư. Khi lần đầu xuất bản tập truyện, tác giả nữ của vùng đất mũi tận cùng tổ quốc ấy cũng chạc tuổi của tác giả trẻ Nông Quang Khiêm- người con trai của núi rừng Tây Bắc bây giờ. Trong truyện ngắn ấy, không gian vùng sông nước Nam Bộ “chiếc ghe, cánh đồng, dòng sông thênh thang” xuất hiện xuyên suốt trong suốt cuộc hành trình dằng dặc của ba cha con Út Vũ; là biểu tượng cho số phận lênh đênh, bạc bẽo về những con người “nghèo rơi, nghèo rớt”, những kiếp người sống lầm lũi, vô tình với chính đồng loại mình. Cách cấu trúc sự kiện, sự kiện này xô đẩy sự kiện kia để làm bật cảm hứng trần thuật về cuộc sống tù túng, quẩn quanh của Nông Quang Khiêm và Nguyễn Ngọc Tư sao mà nhiều hơi hướng đồng điệu!

 Quả thực, hạnh phúc quá mong manh, thậm chí mờ đục như sương ảo, tưởng cầm được vào lòng bàn tay, vậy mà sau vài cái chớp mắt, hạnh phúc tan thành nước, chảy thành dòng trôi nhanh qua kẽ. Điểm nhìn của Nông Quang Khiêm có phần bi lụy hay cái sự quá độ, đang đi lên ở lưng chừng dốc của nhịp hiện đại, của cuộc sống mới va đập khiến họ không kịp thắng phanh, chưa hòa được vào guồng quay nên bị hoặc là hất văng hoặc là trượt dốc?! Có lẽ câu hỏi cũng không cần phải minh xác; vì qua chuỗi kể, mô tả cùng những sự kiện được kiến tạo, chúng ta nhận thấy chân thực bức tranh về cuộc sống cơ cực, bần hàn, tối tăm, tù túng của người dân tộc thiểu số miền núi. Qua đó, chúng ta nhận thấy sự khắc khoải, trăn trở với những niềm yêu thương vô hạn của tác giả dành cho bản làng, dành cho những mảnh đời, phận người lam lũ, bất hạnh. Cũng đầy xa xót, ngậm ngùi và cả những khoảng trống hẫng hụt cùng niềm nuối tiếc, day dứt khôn nguôi nơi tâm trí người đọc. Một cảm xúc đủ buồn để biết trân trọng và nỗ lực tìm kiếm, quý trọng những niềm vui trong cuộc sống mà những trang truyện "Tiếng hú trên đỉnh Pù Cải" mở ra...

                                                                 L.K.L

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter