• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Điểm nhìn trần thuật trong tập truyện ngắn “Lẽ đời” của Trần Cao Đàm (Tham luận Tọa đàm tác phẩm văn xuôi Trần Cao Đàm, ngày 11/8/2018, tại thành phố Yên Bái)
Ngày xuất bản: 20/09/2018 3:24:12 CH

Lưu Khánh Linh 

"Lẽ đời" là một tập truyện ngắn, bao gồm 10 truyện, được in gọn gàng trên khổ giấy 13 x 19 với 118 trang. Với dung lượng như thế, thời gian đọc không phải là sự vất vả. Hơn nữa, trong tâm thế của một độc giả, được thưởng thức tác phẩm của một nhà văn quê hương, cảm giác thư thái, có phần say sưa, hưng phấn đến với tôi thật tự nhiên.

Mở đầu với Chuyện ở Khánh Hưng; gấp lại với Trăng rừng, trong tôi vừa nhẹ vui Về cội thì lại trăn trở Một chiều thu với Người nhặt nắng, rồi lại ám ảnh như có ngọn lửa nhỏ khêu lên bầu ngực ấm bởi Câu hỏi sau chiến tranh, với Chuyện tình của đồng đội, nơi Rừng Lũng Lô, với Người trở về giữa Lẽ đời của hiện sinh nặng bầu tâm tư thế sự.

Xâu chuỗi dòng mạch 10 tác phẩm, tôi nhận thấy trật tự kể và lời kể của tác giả đã có sự đan cài, hòa thấm, đổi chỗ cho nhau trong quá trình trần thuật. Trần thuật là biện pháp nghệ thuật cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn học. Về bản chất, trần thuật là hành vi ngôn ngữ nhằm kể, miêu tả, cung cấp thông tin về sự kiện, nhân vật theo một trình tự nhất định, bộc lộ một ý nghĩa nào đó. Trần thuật có nhiệm vụ cho người đọc biết ai, xuất hiện ở đâu, khi nào, làm việc gì, trong tình huống nào... Trần thuật đòi hỏi phải có người kể, người thổ lộ để hệ thống con người và sự kiện được kích hoạt, tồn tại trong những không gian và thời gian nhất định. Và đương nhiên phải có một người nào đó đứng ra để kể các câu chuyện xảy ra. Và Trần Cao Đàm chính là "người nào đó"!

Người kể chỉ có thể kể được những điều họ cảm thấy, nghe thấy, nhìn thấy trong không gian, thời gian, trong trạng thái cảm xúc, trình độ văn hóa, tuổi tác, quan điểm,tư tưởng, giá trị... Vì thế, điểm nhìn thể hiện vị trí người kể dựa vào để quan sát, cảm nhận, trần thuật, đánh giá các nhân vật và sự kiện. Và trong phạm vi bài viết này, tôi muốn dành sự quan tâm ở điểm nhìn trần thuật của tác giả.

Tác giả Trần Cao Đàm phát biểu tại buổi tọa đàm "Tác phẩm văn xuôi của Trần Cao Đàm"

Quả thật, tôi chưa một lần được gặp gỡ với tác giả nhưng nhìn từ phương diện ngôn bản, tôi cảm giác vị trí người kể Trần Cao Đàm không chỉ là người có những thời gian trải nghiệm của một nhà báo thuần túy mà còn trực tiếp cầm súng, trầm mình trên chiến trường Lào cùng đội quân Pha Thét.

Điểm nhìn trần thuật có nhiều loại. Điểm nhìn bên ngoài; khi ấy người kể, miêu tả sự vật từ phía bên ngoài nhân vật, kể những điều nhân vật không biết. Ngược lại, điểm nhìn bên trong là kể xuyên qua cảm nhận của nhân vật. Điểm nhìn không gian là nhìn xa hay cận cảnh. Điểm nhìn di động là từ đối tượng này sang đối tượng khác. Điểm nhìn tâm lí; được nhìn theo con mắt của người từng trải hay kẻ mới bước vào đời, giới tính nam hay nữ, tuổi tác già hay trẻ. Tuy nhiên, đọc tập truyện của Trần Cao Đàm, tôi quan tâm đến điểm nhìn thời gian.

Theo lí thuyết, đó là điểm nhìn từ thời điểm hiện tại như mọi việc đang diễn ra hay nhìn lại quá khứ, qua màn sương của kí ức. Soi chiếu vào từng câu chuyện, chúng ta thấy, Trần Cao Đàm đều khoác lên tác phẩm của mình màu sương của kí ức, của sự hồi tưởng. Duy nhất có một tác phẩm không đi theo trục này, đó chính là truyện ngắn trùng tên tập truyện - Lẽ đời. Điểm nhìn của Lẽ đời là ở thời điểm hiện tại, phản ánh những thói đời giả trá, sống vụ lợi theo thế thời - thời thế mà dù có muốn phủ nhận hay không thì ở thời đại nào nó cũng tồn tại như một sự gai nhức của cuộc sống. Xoay quanh câu chuyện ấy là môi trường, hoàn cảnh sống giàu nghèo đối lập giữa cậu Tùy với gia đình cháu Thảo, con gái của bà bá. Cậu Tùy "quê mùa sống trong rừng", có ngôi nhà với "bậu cửa đầy những vết dao chặt nham nhở", với "quần áo xanh, bụi bặm, mồ hôi nhớp nháp" khi nóng chỉ biết dùng "cái quạt làm bằng mo cau". Trong khi Thảo lại là người cháu con nhà bà bá, có chồng là giám đốc một công ty, cuộc sống sung túc, sang trọng với ngôi nhà "nền gạch lát hoa bóng loáng", "ghế ngồi chân bịt đồng lót đệm bọc da". Đặc biệt là chi tiết như nhãn quan muốn phơi trần, tẩy lật thói đạo đức giả, a dua, xu nịnh chính là chi tiết chai rượu nút lá chuối khô của cậu Tùy đem phúng viếng chính đám ma của bà bá mình nhưng đã bị mọi người "vỗ vai", "nhấc chai rượu dúi vào góc nhà", "bắt khóc nhỏ" để nhường cho lễ phúng viếng là những chai rượu tây, nhãn đẹp, nắp vàng chóe. Một câu, chỉ một câu văn của người kể chuyện ở ngôi thứ ba thôi nhưng thật xót xa và cay đắng cho lẽ đời: "Cũng là chai rượu mà không thể hòa hợp được với nhau"! Nhưng tình huống truyện bất ngờ không phải ở dòng cảm thán ấy mà nằm ở phần sau của câu chuyện, cũng trong một đám hiếu, cũng của gia đình ấy; nhưng lần này là một đám hiếu... hụt. Khi gia đình đang lo hậu sự cho Bình, chồng của người cháu, nguyên là anh giám đốc đã về hưu trong lặng lẽ, trong cô lẻ, không thấy bóng dáng của bất kì một anh Quánh năng nổ, lanh lợi, khéo léo- nguyên đệ tử thân cận của vị giám đốc hồi nào. Lúc ấy, trong lờ mờ của sự hồi sinh, Bình nhận ra ấm áp và xúc động hình ảnh cậu Tùy với "chai rượu nút lá chuối" là người duy nhất gần gũi ở bên. Với điểm nhìn của hiện tại, truyện ngắn kể cho chúng ta nghe một câu chuyện giàu tính thế sự. Đoạn độc thoại của nhân vật nhưng cũng chính là lời triết lí sâu sắc, mang dấu ấn Trần Cao Đàm "Sống ở trên đời, khi tách danh vị, tiền của ra, cứ để cho tình người thực lòng với nhau sao mà dễ sống và thân thương".

Như đã nói ở trên, trong 10 truyện ngắn thì có đến 9 truyện được nhìn từ thời điểm thực tại, hồi nhớ về quá khứ, rồi lại sực về với hiện sinh: Chuyện ở Khánh Hưng, Câu hỏi sau chiến tranh, Người trở về... hoặc điểm nhìn đi ra từ giữa tác phẩm rồi quay lại hồi ức để đến hiện tại bất ngờ như trong Chuyện tình của đồng đội, Trăng rừng... Thực ra, trong cấu trúc cốt truyện, Trần Cao Đàm không đi theo trật tự tuyến tính, không tuân thủ điểm nhìn lần lượt, thuận chiều tức là đã thoát ra khỏi cấu trúc cốt truyện theo tuyến quan hệ nhân quả vốn dĩ đã rất xưa.

Với Chuyện ở Khánh Hưng, thời gian không gian nghệ thuật, khởi điểm của sự kiện nhận con nuôi là cảnh di dân chạy nạn đói năm 1945. Tuy nhiên, mở đầu trang văn là cảnh của những năm 1990, là "Ngày giỗ đầu của pả Thắm"- người phụ nữ đã nhận nuôi một bé trai giúp người đàn bà "tóc thưa, mặt vêu vao, da đen đủi", "gò má xạm đen" trong "đoàn người từ miền xuôi đói khát bồng bế, gồng gánh con cái" vào vùng Nghĩa Lộ. Sau 45 năm ấy, Hoạt- người con trai ruột của pả Thắm hồi nhớ lại chuyện năm xưa và cả câu chuyện của  hiện tại khi chứng kiến 2 người đến gặp anh Thân- người con nuôi (giờ đã là chủ nhiệm Hợp tác xã) để lần lượt định nhận lại cháu, nhận lại em trai. Tuy nhiên, bi kịch và trớ trêu, mọi tình huống đều là nửa vời, lơ lửng. Thực ra, không phải tác giả xây dựng chưa tới mà có lẽ Trần Cao Đàm muốn đẩy cái tính chất hệ lụy sau chiến tranh, nên cái việc tìm, nhận lại người thân cứ dang dở, dở dang với sự mờ nhạt về người tự xưng là ông cậu đi tìm cháu (mà tác giả không đặt tên nhân vật), là người anh đi tìm em trong sự mơ hồ "hình như thế", "không còn nhớ lắm". Kết thúc là một sự mông lung, bỏ ngỏ khi có một bà mẹ "tóc bạc phơ, đôi gò má nhăn nheo với hàm răng móm mém", lần từng bậc cầu thang lên sàn nhà để tìm lại đứa con lưu lạc năm xưa. Nhưng, liệu có tìm lại được không khi người phụ nữ ấy chỉ nhìn thấy "tấm ảnh pả Thắm lờ mờ" trong tâm tưởng, trong khi pả Thắm đã về với tổ tiên, trong khi do đất nước loạn lạc, gia đình pả đã tản cư từ Khánh Hưng sang Lục Yên mấy chục năm về trước. Ở điểm nhìn trần thuật của mình, tác giả đã trao cho người đọc đồng sáng tạo trong việc tự tạo ra cái kết cho câu chuyện của mình.

Tôi không định đem tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao để so sánh về điểm nhìn trần thuật của Trần Cao Đàm nhưng quả là khi đọc Chuyện tình của đồng đội, một sợi dây liên hệ về cách thức tổ chức kết cấu xuất hiện trong tôi rất tự nhiên. Với nhân vật Chí Phèo- một nhân vật chính trong tác phẩm cùng tên ngật ngưỡng mở trang văn đi ra với bộ dạng "Hắn vừa đi vừa chửi" của kẻ đang bị coi là con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Sau đó, lai lịch về một anh Chí canh điền lương thiện của 20 năm về trước đã được kể lại, để rồi lại quay về thực tế của một thằng "cùng hơn cả dân cùng" chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ nơi làng Vũ Đại; là diễn tiến và kết cục quan hệ giữa Chí Phèo- Bá Kiến, Chí Phèo- Thị Nở. Trong Chuyện tình của đồng đội cũng vậy; việc nhân vật "tôi" nhận được tin Thành lấy vợ mà mừng vui chẳng khác gì bản thân được làm chú rể cũng đã mở đầu tác phẩm. Nhưng tại sao? Nguyên do gì thì bắt đầu người kể chuyện đưa chúng ta về với hoài niệm để phác họa chân dung nhân vật Thành. Từng là đôi bạn rất thân, cùng học một lớp, cùng nhập ngũ, cùng đơn vị chiến đấu. Nhưng, đến khi "đeo ba lô trở về nghỉ hưu với cấp bậc thiếu tá" thì Thành vẫn chưa từng có "một mảnh tình vắt vai". Thương bạn, nhân vật "tôi" đã phân tích tình hình "địch", "ta", phương châm chiến thuật "tốc chiến, tốc thắng" để chọn vợ cho bạn. Nhưng, đúng lúc kế hoạch thông suốt, chọn ngày đưa Thành đi hỏi vợ thì anh lại phải nằm viện. Ra khỏi viện, một tình huống đắt trời cho chính là việc Thành suýt trồ phải một phụ nữ đi thồ củi. Từ việc "buộc lại thồ củi" đến việc "bốn mắt nhìn nhau" và "cả hai đều cảm thấy sự ấm áp, êm dịu" là khoảnh khắc tuyệt vời để Trần Cao Đàm tạo dựng một đám cưới hợp lí cho nhân vật. Người phụ nữ ấy tên Thịnh, là vợ của liệt sĩ. Dù nhận giấy báo tử nhiều năm nay nhưng chị vẫn sống "buồn tẻ, hững hờ" dù "gọn gàng, duyên dáng và nhiều nét xinh tươi". Cho nên, khi nhận được tin Thành lấy vợ, và người vợ ấy lại là Thịnh, nhân vật "tôi" vui mừng khôn xiết. Nhưng, nếu chuyện chỉ dừng ở đó thì vẫn là một cái kết có hậu quen thuộc của câu chuyện cổ; là cái nhìn mong đợi của hầu hết mọi độc giả song trong cuộc đời lại có những việc mang tên sự kiện, lí lẽ riêng mà con người phải bản lĩnh đối diện với nó. Với điểm nhìn thời gian linh hoạt: hiện tại- quá khứ- hiện tại; Trần Cao Đàm đã đưa cấu trúc truyện đến cao trào với tình huống mới bị dồn lên đến đỉnh điểm: người chồng liệt sĩ ấy trở về vào đúng ngày vợ chồng Thành sửa lại căn bếp chuẩn bị chào đón đứa con ra đời. Niềm hạnh phúc đang ngọt ngào, một người đàn bà góa chồng ở vậy nhiều năm vừa mới cập bến hạnh phúc mới, một người chồng nguyên là lính từng lăn lộn trên chiến trường Lào, chiến trường miền Nam sắp được hưởng thụ niềm vui làm cha muộn mằn; và một người thương binh tên Vang "chân cụt đến háng", đã từng "thoi thóp trên tay đồng đội" nhưng đã giành giật được sự sống một cách "chật vật" bởi tình yêu mãnh liệt dành cho người vợ ở quê nhà. Tất cả, tất cả họ đang đối diện với nhau trong bối cảnh "hạnh phúc là một chiếc chăn hẹp". Và lại thêm một lần nữa, Trần Cao Đàm trao ngòi bút viết tiếp cho độc giả, tạo ra một cái kết mở đầy day dứt, đầy trăn trở khi Vang "chống nạng, nhảy lộc cộc ra đường", khi Thành vụt chạy ra cửa với tiếng thét "Tôi không phải thằng hèn! Tôi không phải thằng cướp vợ người khác". Tất cả họ đều hất tung chiếc chăn hẹp ấy để chạy ra khỏi ngôi nhà hạnh phúc- đó chính là bi kịch hậu chiến tranh.

 Thực ra, khi có cơ hội được đọc tác phẩm của Trần Cao Đàm; tôi băn khoăn giữa nhiều ý tưởng thẩm bình: Đó là sự lưỡng lự giữa vai trò của "Người kể biết tuốt" trong "Lẽ đời"; là Cấu trúc truyện ngắn Trần Cao Đàm; là Sự kiện mang yếu tố sinh nghĩa... Bộc bạch điều ấy để thấy thực ra dung lượng 10 truyện ngắn không phải dài về câu chữ nhưng sự ám ảnh để lại trong tôi không chỉ là mảnh vụn vặt, thoáng qua. Và khi ngồi vào bàn viết, tôi lựa chọn một phương diện của quá trình xử lí mối quan hệ giữa chuỗi lời kể với chuỗi sự kiện và nhân vật- đó chính là điểm nhìn trần thuật của tác giả. Bởi tôi thiết nghĩ rằng, cốt truyện bản thân nó chỉ có tính chất liệu; còn truyện kể qua điểm nhìn của tác giả mới thể hiện cách xử lí và tư tưởng của nhà văn, đem lại cho chất liệu ấy một hình thức riêng biệt. Cho nên, trong các truyện ngắn vừa lược trích hay câu chuyện tình yêu của nhân vật "tôi" với cô gái Lào Khăm Bua trong Trăng rừng, chuyện tình của anh bộ đội Mùi với nữ dân công Mai trong Người nhặt nắng... sẽ chỉ là chất liệu, chúng ta gặp ở đâu đó trên báo, đài hay câu chuyện kể của những đồng đội; sẽ lại là một cốt truyện kiểu chữ "V" lộn ngược như nhà lí luận Đức Gustav Freytag kết luận là cũ kĩ, giản đơn. Nhưng, với Trần Cao Đàm thì không. Qua điểm nhìn linh hoạt của tác giả, nó hàm chứa một hình thức nghệ thuật khi được trần thuật qua lăng kính nhiều điểm nhìn, tạo ra lời kể xáo trộn hệ thống cốt truyện truyền thống. Chính sự kể không mang tiến trình sự kiện ấy đã chế tác ra những cái kết mở, những cú kể lội ngược dòng thời gian, đi ra từ giữa tác phẩm của Trần Cao Đàm trong tập Lẽ đời. Với lối trần thuật này, đúng là có gây hoang hoải, có đọng lại nhiều day dứt, có gieo vào lòng người đọc những trĩu nặng băn khoăn về thân phận, cuộc đời, kết cục của hệ thống nhân vật trong tác phẩm, nhưng, đó chính là giá trị đích thực của văn chương chân chính!

L.K.L

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter