• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Dòng sông vẫn chảy
Ngày xuất bản: 30/11/2016 7:33:31 SA

Ký của Hoàng Kim Yến

Ngô Quang Thiều ôm khẩu súng AK ngồi bất động. Đêm tĩnh lặng đến rợn người, chỉ có tiếng rì rầm rất nhỏ của dòng sông Chảy đang lặng lẽ rên trong nỗi niềm đau xót. Thiều đưa mắt nhìn về mọi phía, cảnh giác canh gác xem có ai lẻn vào tiếp tục phá hoại nhà máy. Nếu có ai chắc có lẽ Thiều sẽ nổ súng, không thể tha thứ được. Bao nhiêu sương máu, bao nhiêu công sức của anh em đồng nghiệp trở thành công cốc hết rồi. Bất giác Thiều đưa mắt về phía nhà máy. Tổ máy số 3- tổ máy cuối cùng vừa được vận hành, hòa vào lưới điện quốc gia chưa đầy một tháng mà giờ cả 3 tổ máy nằm dưới ngổn ngang bê tông sập xuống từ mái nhà. Lòng căm thù giặc Mỹ ùa về nghẹn ứ, những giọt nước mắt cứ thế trào ra, mằn mặn nơi đầu môi.

Sau ba năm học tập, nghiên cứu tại Liên Xô, Ngô Quang Thiều được phân công về nhà máy thủy điện Thác Bà công tác. Nhận được quyết định, Thiều ngỡ ngàng. Vậy là anh phải xa gia đình, xa nhà máy điện Lào Cai, nơi anh đã từng công tác để về làm việc tại Thác Bà. Cùng trong hệ thống nhà máy điện, Thiều biết Nhà máy thủy điện Thác Bà được xây dựng đầu tiên ở miền Bắc, là công trình trọng điểm trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm lần thứ nhất của đất nước, là nền móng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Giờ đang trong thời kỳ Mỹ mở rộng chiến tranh ra khắp miền Bắc, hiểu được ý định của Đảng ta nên Nhà máy là một trong những mục tiêu trọng điểm bắn phá của máy bay Mỹ. Công trường của nhà máy liên tục bị chiến tranh phá hoại của không lực Hoa Kỳ nên tiến độ bị chậm lại, nhiều lúc phải dừng hẳn để đối phó đánh trả máy bay Mỹ. Đã có nhiều người ngã xuống để bảo vệ công trường, bao nhiêu người con ở khắp mọi miền đất nước đều phải dời xa quê hương, gia đình để cùng chung tay xây dựng nhà máy góp phần làm hậu phương vững chắc cho miền Nam. Cũng là một người con của đất Việt, chẳng lẽ nào mình lại chùn chân trước nhiệm vụ được giao? Nghĩ thế, Thiều vui vẻ từ biệt vợ con khoác ba lô về Thác Bà.

Thiều không thể ngờ một vùng quê thưa dân, nhiều đồi núi giờ lại đông đúc và nhiều máy móc, phương tiện hiện đại đến vậy. Đi đến đâu, về ngả nào Thiều cũng có thể gặp máy móc, thiết bị, ô tô. Đặc biệt là người, cứ nườm nượp tấp nập, bận rộn cả ngày lẫn đêm khiến Thiều cũng cảm thấy trong người rộn rạo. Không khí phấn khởi, khẩn trương và nghiêm ngặt kéo Thiều trở về niềm đam mê cháy bỏng với những dòng điện sáng, xóa bỏ hoàn toàn những bỡ ngỡ đầu tiên khi đặt chân đến vùng đất mới. Nỗi nhớ nhà có lẽ vì thế cũng vơi dần đi. Thiều được phân ở cùng hai người nữa tại nơi sơ tán. Xí nghiệp cấp cho giấy dầu và cót để tự dựng nhà ở cho mình. Ba thanh niên từ ba vùng quê khác khác nhau, chẳng hề quen biết, vì công việc được gắn bó với nhau nên nhanh chóng trở thành thân thiết. Họ cùng cầm dao lên rừng chọn cây, mang về, tự dựng lấy lán cho mình. Thanh niên với nhiệt huyết tuổi trẻ và sức cường tráng chẳng phải lo nghĩ nhiều, họ vui vẻ ở trong trong lán trại cùng một khu với những công nhân khác tại nơi sơ tán, lúc nào trong đầu cũng chỉ là công việc. Họ bắt đầu cảm thấy lo lắng cho công trình của nhà máy mỗi khi có máy bay quần đảo. Họ bắt đầu hào hứng giúp các chuyên gia Liên Xô lắp đặt từng chi tiết máy và chả hiểu từ lúc nào trong mỗi bữa ăn, giấc ngủ của họ Nhà máy là niềm vui, mọi chi tiết hoàn thành vận hành đúng thiết kế khiến họ có thể nhảy lên trong niềm vui sướng. Và cũng chính sự kiên cường, nhiệt tình của biết bao chuyên gia người Liên Xô đã cho họ thêm ý chí bám trụ nhà máy đến hơi thở cuối cùng. Máy bay Mỹ chẳng buông tha, cứ vè vè ngày đêm trên nóc nhà máy. Để đối phó với tình hình, nhà máy thành lập Đại đội tự vệ cùng với Trung đoàn của quân đội bảo vệ nhà máy. Vậy là những thanh niên như Thiều lại thêm một nhiệm vụ nữa là làm tự vệ. Mỗi người một việc, người ở tổ bảo vệ, ngoài việc bảo vệ an ninh cho nhà máy còn được phân vào đội hỏa mù. Đội hỏa mù có nhiệm vụ đốt hỏa mù, làm mù mịt cả một vùng xung quanh nhà máy để máy bay Mỹ không thể nhìn thấy mục tiêu  bắn phá hay trinh sát. Đội trực chiến được trang bị súng AK, Trung Liên và K44. Giờ làm ca họ mang theo súng bên mình. Khi máy bay đến, họ rời máy về các ụ súng được chuẩn bị sẵn xung quanh nhà máy, hỗ trợ cho bộ đội phòng không đang trực chiến trên hai qua đồi phía trên. Nhiệm vụ của họ là bảo vệ nhà máy ở tầm thấp. Tất cả đều có nhiệm vụ bảo vệ nhà máy khi cần, duy có đội vận hành là không phải tham gia trực chiến. Vì họ phải thường xuyên bám máy, cả khi máy bay quần đảo trên đầu. Chỉ khi nghe thấy tiếng súng nhỏ bắn, có nghĩa là máy bay đang lao xuống để ném bom họ mới được phép rời máy. Trước khi rời máy nhất định phải tắt toàn bộ hoạt động của máy mới được chạy xuống tầng ngầm. Tính mạng rất cần và giờ thì an toàn của máy cũng cần chẳng kém. Miền Bắc đang cần điện, Nhà máy Thủy điện Thác Bà lại là nơi cung cấp nguồn điện chủ yếu cho miền Bắc, tinh thần của Nghị quyết Đai hội III của Đảng với chủ trương “Điện phải đi trước một bước” đã ăn vào máu những người như Thiều nên mọi hiểm nguy dù có đe dọa bất cứ lúc nào họ vẫn kiên cường vận hành máy hết công suất. Niềm vui còn như mới trong Thiều khi ngày 5/10/1971, tổ máy số một được khởi động, những dòng điện đầu tiên từ Thác Bà chính thức được hòa vào lưới điện quốc gia sau 12 năm lăn lộn vừa xây dựng vừa bảo vệ, kể từ ngày khảo sát thiết kế công trình. Không phải riêng Thiều mà toàn thể anh chị em công nhân Nhà máy, ai cũng vui mừng khôn tả. Trong họ có chút gì đó vinh dự tự hào vì đã được cống hiến, có chút gì đó khâm phục vì đã vượt qua được từng đấy khó khăn để đạt được đích đến. Tất tả khiến niềm vui trong họ như muốn nổ tung khỏi lồng ngực và giờ nhớ đến Thiều vẫn muốn nhảy cẫng lên. Rồi lần lượt tổ máy số hai, tổ máy số ba được vận hành. Kể từ đó ba tổ máy vận hành hết công suất, liên tục không kể ngày đêm. 24 người của phân xưởng vận hành thay phiên nhau bám máy đảm bảo ba tổ máy được vận hành đúng với công xuất thiết kế là 108 MW. Sản lượng điện của nhà máy chiếm khoảng 70% tổng sản lượng điện toàn miền Bắc. Nhìn vào thành quả đó, họ quên hết mọi nhọc nhằn, khó khăn, quên cả tính mạng đáng quý của mình chỉ nghĩ về công việc, về vận hành máy, về những dòng điện được hóa từ kiếp nước để tỏa đi mọi nẻo quê hương, góp vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chiến tranh chống để quốc Mỹ ở miền Nam. Ám ảnh về những nguy hiểm có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với những người trong phân xưởng vận hành, Thiều nảy ra sáng kiến chuyển thiết bị tắt máy xuống dưới tầng hầm. Thiều làm một vô lăng lắp đặt dưới tầng hầm, dòng với vô lăng trên buồng máy bằng một dây líp xe đạp. Nếu có bị bom, những công nhân vận hành có thể rời buồng máy phía trên xuống tầng hầm trú ẩn. Ở tầng hầm an toàn họ vẫn có thể làm thao tác dừng máy. Làm được như thế Thiều cũng thấy an tâm phần nào cho họ. Vì với những người làm công việc sửa chữa như Thiều, ban ngày còn được đi sơ tán, chỉ phải làm ca từ 8 giờ tối đến 12 giờ đêm, có hôm nhiều việc thì làm thông đến 2 giờ sáng. Vất vả thì ai cũng vất vả nhưng ít nhất cánh thanh niên trong phân xưởng của Thiều còn giữ được an toàn cho tính mạng. Giảm thiểu được hiểm nguy cho họ Thiều thấy nhẹ lòng.

Cuộc sống của Thiều, của anh em công nhân nhà máy cứ cuốn đi với công việc và khó khăn, ngày 2/6/1972, sau bao nhiêu ngày oanh tạc, trinh sát, máy bay Mỹ ném xuống nhà máy hàng ngàn quả bom bi và bom phá. Đứt dây cáp 110KV, và hàng nghìn bom bi bị ném trong trạm điều phối phía cổng nhà máy. Bom bi có thể nổ bất kỳ lúc nào, nguy cơ nổ tung trạm điều phối có thể xảy ra bất cứ lúc nào nếu không nhanh chóng nhặt cho bằng hết số lượng bom bi đã bị ném xuống. Đội tự vệ của nhà máy đã làm công việc hiểm nguy này. Mỗi người một giỏ được đan bằng tre, trong đổ cát, họ lần dò từng centimet trạm điều phối, nhẹ nhàng lật từng viên sỏi, nhẹ nhàng luồn tay cầm bom bi lên, đặt chúng vào giỏ rồi đem đi tiêu hủy. Lúc này trong họ chỉ là sự an toàn của nhà máy, chỉ là nhanh chóng khắc phục hậu quả để điện của nhà máy tiếp tục được hòa vào lưới điện quốc gia. Ai dám chắc quả bom bi đang cầm trên tay sẽ không nổ. Ai dám chắc cẩn trọng nhặt từng viên sỏi cho đến khi hở hẳn quả bom, rồi thò cả bàn tay vào cầm trọn vẹn được chúng, đảm bảo chúng không bị va đập vào bất cứ vật gì sẽ không tự nhiên phát nổ. Họ biết sự hiểm nguy đó, họ biết tính mạng của họ là ngàn cân treo sợi tóc nhưng họ dám đối diện. Thiều cảm kích họ vô cùng, họ là những chiến sỹ cảm tử trong lòng Thiều. May sao không quả nào phát nổ, đội tự vệ đã nhặt bằng hết bom bi lẩn khuất trong từng ngõ ngách, đảm bảo không còn hiểm nguy để tổ sửa chữa vào trạm khắc phục hậu quả. Chỉ trong 2 ngày đêm liên tục, cán bộ công nhân viên nhà máy đã đưa các tổ máy vận hành bình thường, họ đã thực hiết tốt khẩu hiệu “Tổ quốc cần điện như cơ thể cần máu”.

Niềm vui chưa được bao lâu, sau đó 8 ngày, (16/6/1972), Mỹ mở cuộc ném bom với quy mô lớn, bằng kỹ thuật hiện đại. Nhà máy bị trúng bom, toàn bộ gian máy bị sập hoàn toàn. Ba tổ máy nằm dưới hàng ngàn tấn bê tông đổ nát, tan hoang, khiến toàn thể cán bộ công nhân viên chết lặng, không ít người bật khóc như thể họ đã mất đi một phần máu thịt của mình. Thời khắc đau xót ấy qua đi rất nhanh, khi họ nhớ đến những công nhân vận hành đang thực hiện ca của mình. Không ai bảo ai, họ lao vào nhà máy, đạp trên các khối bê tông, vào phòng điều khiển. Sức ép của bom đánh sập ca bin buồng điều khiển trên mái xuống, đẩy nó chạy dọc hành lang, lao vào cánh cửa phòng điều hành. Hồng, nhân viên vận hành máy vừa kịp chạy ra cửa, cánh cửa đổ vào người, cô bị thương. Rất may không có ai thiệt mạng. Tình hình nhà máy thế này lại phải tìm cách khắc phục thôi, không thể lùi bước trước kẻ thù được. Lãnh đạo nhà máy quyết định thế và tất cả anh em công nhân với lòng căm thù uất ngẹn cũng một lòng nghĩ thế. Đêm nay là đêm đầu tiên nhà máy bị bắn phá, những công nhân như Thiều được phân nhiệm vụ canh gác nghiêm ngặt các ngả đường vào nhà máy, không để kẻ địch lợi dụng tình hình tiếp tục làm nhà máy bị tổn thất thêm. Thiếu dõi mắt nhìn trân trân vào màn đêm dày đặc, tiếng gà gáy sang canh vọng từ nơi xa lắc, tiếng dòng sông vẫn rì rầm mang theo bao nỗi buồn mải miết trôi xuôi.

Thiều trườn người lách qua khe hở chừng bốn mươi phân giữa sàn đất với rầm bê tông rơi xuống từ mái nhà xưởng. Chiếc tủ điều tốc nằm rúm ró dưới dầm bê tông rộng gần hai người ôm. Chẳng nhìn thấy gì để tháo các chi tiết trong tủ. Nhưng nhất định Thiều phải tháo. Lãnh đạo Nhà máy đã gọi anh lên phân công cho anh sửa chữa lại tủ điều tốc này. Đây là thiết bị quan trọng, quyết định mọi sự vận hành 3 tổ máy. Đã từng học ở Liên Xô, Thiều biết lắp đặt một chiếc tủ điều tốc không hề đơn giản, chỉ cần sai một li là đi một dặm. Không điều chỉnh được tốc độ của tua bin có thể sẽ dẫn đến tình trạng lộng tốc. Khi tốc độ quá mức quy định, lực li tâm có thể phá tung cả buồng máy chứ chả chơi. Ấy thế mà Thiều lại chưa từng được xem cụ thể các chuyên gia Liên Xô lắp thiết bị, đã thế lại không thể nhìn thấy các chi tiết để đánh dấu vị trí trước khi tháo dời. Nằm trước tủ máy điều tốc, Thiều chẳng khác nào người mù phải làm những việc cần sự chính xác đến từng centimet. Thiều hoang mang, nhưng tình thế này không còn cách nào khác là phải thực hiện, đành liều cứ tháo cho hết rồi về tính sau. Thiều hít một hơi đầy lồng ngực, luồn tay lần sờ vào từng ê cu, tự phỏng đoán nó cỡ nào rồi bảo hai cậu phụ đứng ngoài lấy cờ lê cỡ đó để tháo.

Nắng, thứ nắng tháng sáu rát rạt xuyên qua tán lá vẽ lên mọi vật nhiều hình thù kỳ quái. Không gian tĩnh lặng, không còn những tiếng rú đến lọng óc của máy bay quần đảo, không còn tiếng còi báo động thất thanh vút lên như xoáy vào tâm thức những công nhân nhà máy. Tất cả trả lại cho tiếng ve ra rả, tiếng chim trong vắt vút lên cao xanh, tiếng ầm ì của máy xúc, của xe ben đang giải phóng hàng tấn bê tông vọng về từ nhà máy. Bên sân lán sơ tán, Thiều cặm cụi với đống thiết bị vừa được tháo ra lau rửa từng hạt cát, từng bụi xi măng. Nhặt từng thiết bị, quan sát từng chi tiết cấu tạo, đối chứng với bản vẽ sơ đồ do các chuyên gia Liên Xô chuyển giao lại, vận dụng toàn bộ những kiến thức đã học được từ ngày còn ở Liên Xô, Thiều lần mò, kiên nhẫn, lắp từng chi tiết máy theo sự hiểu biết của mình. Hai cậu trưởng nhóm vận hành được phân công phụ giúp Thiều lo lắng: “Tự lần mò thế này, liệu có chạy được không anh?”. Thiều không trả lời họ. Chính Thiều cũng không biết khi lắp vào tổ máy nó có chạy được hay không. Nhưng tình hình này, chỉ còn mỗi cách này, không thử làm sao biết được. Hai cậu phụ nhóm chắc cũng mường tượng ra điều đó ngồi thẫn thờ, nhìn những giọt mồ hôi chảy dài xuống mặt, xuống mang tai nhóm trưởng ái ngại.

Sau một tháng rưỡi, nhóm của Thiều đã lắp xong hộp điều tốc đầu tiên cho tổ máy số hai- Tổ máy hư hại ít nhất để Nhà máy được vận hành trong thời gian sớm nhất. Hoàn thành nhiệm vụ sớm hơn so với dự kiến, Thiều chẳng còn việc gì làm. Phía nhà máy đang hối hả hoàn thành công việc dọn dẹp và xây dựng mới, chả có chỗ nào dành việc cho Thiều. Buồn chân buồn tay, Thiều rủ mấy anh em trong nhóm lựa chọn thiết bị không bị hư hại ở tủ điều tốc của tổ máy số ba và số một, chủ động hoàn thiện thêm tủ điều tốc cho tổ máy số một, chỉ việc chờ phía thi công hoàn thành là sẵn sàng đưa vào lắp đặt.

Buông cờ lê, Thiều đưa mắt nhìn ban lãnh đạo và toàn bộ anh em nhà máy. Họ đang vây quanh anh, quanh tổ máy số hai chờ đợi. Vậy là tủ điều tốc đã lắp vào vị trí, tất cả các bộ phận của tổ máy số hai đã hoàn thành, giờ là vận hành để máy hoạt động. Tiếng hai cậu phụ của nhóm lại vọng về day dứt: “Tự lần mò thế này, liệu có chạy được không anh?”. Thiều thấy tim mình như ngừng đập, mọi thứ như ngưng thở, ánh mắt đầy căng thẳng của mọi người càng khiến tất cả các dây thần kinh của Thiều căng như dây đàn. Cánh cửa thượng lưu đóng, Thiều nhìn Giám đốc, nhận được cái gật đầu, anh nín thở mở van dầu áp lực. Tiếng xòe xòe từ buồng máy vọng lên, Thiều thở nhẹ. Tiếp tục mở cánh quay, tiếng tua bin từ từ chuyển động rồi tăng dần, đều đều quay. Thế là đã xong phần thử tĩnh. Thiều bớt lo lắng phần nào. Giám đốc lệnh cho mở nước, tim Thiều như có ai bóp. Mọi giác quan của Thiều dồn cả vào buồng máy. Im lặng, thời gian như ngưng lại. Không có động tĩnh gì. Lo lắng, chờ đợi và hi vọng. Bỗng “uỵch”. Thiều nhảy cẫng lên sung sướng trong tiếng vỗ tay ràn rạt của anh em nhà máy. Ai cũng hiểu, máy đang ở trạng thái đứng yên, gặp lực nước bắt đầu quay thường phát ra tiếng quen thuộc đó. Giám đốc đến bên Thiều xiết chặt cái bắt tay. Ông không nói câu nào nhưng nhìn vào ánh mắt, Thiều hiểu tất cả. Niềm vui cho họ thêm động lực để lại tiếp tục khắc phục tổ máy số một. Chỉ sau đó hai tháng (tháng 12/1972), tổ máy số một lại tiếp tục được đưa vào vận hành. Trong buổi liên hoan cuối năm, Giám đốc nhà máy vỗ vai Thiều nói với anh em công nhân “Nhà máy hoạt động trước hai tháng là công của đồng chí này.”. Năm đó Nhà máy được tặng Huân Chương Lao động. Đối với Thiều tặng thưởng quý giá nhất là sự hoạt động trở lại của hai tổ máy. Riêng tổ máy số ba do bị hư hỏng quá nặng, không thể sửa chữa được, Nhà máy đã đặt bên Liên Xô sản xuất nguyên chiếc nên đến tháng 5/1974 tổ máy số ba tiếp tục được vận hành.

Giám đốc nhà máy đưa cho anh tờ công văn, nghiêm giọng: “Cậu đọc đi rồi giải thích cho tôi rõ.”. Công văn tố cáo Thiều ăn cắp thiết bị của nhà máy điện Lào Cai. Tội ăn cắp tài sản Xã hội chủ nghĩa đi tù chứ không đơn giản. Giám đốc nhà máy giận dữ: “Cậu giải thích đi, bao nhiêu công sức cậu làm cho nhà máy, việc này sẽ nhấn chìm tất cả.”. Thiều nhớ lại cái hôm trở về nhà máy Điện Lào Cai thăm anh em cũ. Dạo bước cùng Quản đốc tham quan Nhà máy, Thiều thấy có một số thiết bị thừa bỏ không, anh liền ngỏ ý xin về lắp đặt cho Nhà máy Thủy điện Thác Bà. Quản đốc nhà máy Điện Lào Cai đồng ý. Thiều đã vui mừng đem về lắp đặt cho các tổ máy hoạt động mà quên chả báo cáo với ai. Thiều đã sơ suất. Nhưng những thiết bị đó Thiều đã hỏi xin và được chấp thuận mới đem về. Vả lại Thiều có lấy về dùng riêng cho mình hay bán cho nhà máy kiếm tiền tư lợi đâu mà quy tội Thiều ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa. Thiều trình bày mọi nhẽ rồi kéo giám đốc xuống xưởng, chỉ tận nơi các thiết bị xin được đang nằm trong các tổ máy. Giám đốc nhà máy nhìn anh, vỗ vào vai anh đánh bộp xuê xoa: “Thôi mặc kệ cái công văn ấy!”.

Nắng, lại thứ nắng tháng sáu bỏng như rang, ông Thiều ngồi dưới tán cây trước cửa nhà máy với muôn vàn hoa nắng tinh nghịch. Không gian yên bình. Dòng sông Chảy vẫn miệt mài hát bè trầm muôn kiếp, phía thượng nguồn ba tổ máy vẫn đang rì rì hoạt động hòa tấu cùng bản nhạc của dòng sông đã bao đời chứng kiến sự đổi thay của nhà máy. Hơn 40 năm bám trụ trên mảnh đất này, về hưu với chức danh Giám đốc nhà máy Thủy điện Thác Bà, ông Thiều đã hoàn thành mọi trách nhiệm nhà nước tin tưởng giao cho. Những con người như ông Thiều đã miệt mài góp nên những thành công của nhà máy. Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang mà nhà nước trao tặng năm 1999 đã chứng minh cho điều đó.  Giờ thế hệ trẻ đã tiếp quản nhà máy, đã thay thế nhiều thiết bị hiện đại hơn, đem lại lợi nhuận cao hơn. Ông mừng vì hậu sinh khả úy. Nhìn dòng sông cuộn chảy mà lòng ông quặn lên bao nỗi nhớ về những ngày khó khăn. Cái vỗ vai của Chính- Nguyên trưởng ca vận hành kéo ông về thực tại. Sau cái cười hồ hởi, Chính ngồi xuống bên ông nhìn ra phía dòng sông trong xanh văn vắt. Chính nói với ông Thiều như nói với chính mình: “Vậy là em đã đưa vợ con em lên đây hơn 40 năm có lẻ. Cái ngày lương em còn không đủ nuôi mồm em mà phải gánh thêm một vợ và bốn con nheo nhóc. Có những lúc còn muốn kéo nhau trở về quê. Mỗi khi gió lốc, căn nhà làm bằng tre lại vặn mình răng rắc nghe phát sợ. Em phải lùa cả vợ con xuống một gian phòng nhỏ trú, còn mình ở lại canh, nếu nhà có đổ một mình chạy ra còn kịp”. Ông Thiều cười thành tiếng, góp chuyện: “Tôi đây, cái đòn tay nóc bị mối ăn võng cong cả xuống. Mỗi khi mưa bão, tôi dậy ngồi canh cho vợ con ngủ. Cửa nhà luôn luôn mở sẵn, phòng nếu đòn tay nóc có gẫy thì chạy được luôn”. Chính trách: “Thế mà khi anh làm Giám đốc, mọi người phân cho anh một mảnh đất ngoài mặt đường kia anh là nhất quyết không lấy”. “Vì tôi có nhà rồi.” “Thì lấy cho bọn trẻ”. “Không, không thể tham được. Được chút tiền nhưng mất nhiều thứ chú ạ. Đấy thế nên giờ tôi mới thanh thản.”. Chính lặng im, quàng tay qua vai thủ trưởng cũ vỗ vỗ. Hồi lâu, hai người cùng đứng lên, lặng lẽ bước bên nhau ngược lên phía nhà máy trong ánh trời đã ngả sang chiều. Sông Chảy vẫn cuồn cuộn ánh vàng, lặng thầm hóa kiếp.

 

H.K.Y

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter