• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Ghi nhận từ trại sáng tác Văn học nghệ thuật dành cho các tác giả là nhà báo
Ngày xuất bản: 14/06/2018 2:58:16 SA

 Ghi nhanh của Nguyễn Hiền Lương

 

Thực hiện kế hoạch công tác năm 2018, được sự nhất trí của Trung tâm hỗ trợ sáng tác Bộ VH- TT & DL, Hội Liên hiệp VHNT Yên Bái đã tổ chức Trại sáng tác VHNT Yên Bái năm 2018 tại Nhà sáng tác Đà Nẵng trong thời gian 15 ngày (từ 15/5 đến 29/5/2018). Tham dự trại có 15 tác giả là hội viên Hội Liên hiệp VHNT Yên Bái, thuộc nhiều chuyên ngành. Trong đó có 5 tác giả văn học, 3 tác giả văn hóa dân gian, 5 tác giả nhiếp ảnh và 2 tác giả mỹ thuật. Phần lớn các tác giả dự trại đều là nhà báo, cộng tác viên của các cơ quan báo trên địa bàn Yên Bái.

Kết thúc trại, các tác giả đã hoàn thành 4 tập bản thảo văn xuôi, 1 tập nghiên cứu phê bình, 3 tập sưu tầm khảo cứu văn hóa dân gian, 5 tác phẩm mỹ thuật và 5 bộ ảnh nghệ thuật. Về văn xuôi và lý luận, phê bình: Tiểu thuyết “Chúa đất miền Khau Sưa” của nhà văn Hoàng Thế Sinh, gồm 21 chương, độ dài 132 trang A4. Nhân vật chính là Vũ Tử Pín, Giám đốc Trung tâm kiểm dịch Thạch Thổ, thành phố Mã Sơn, em vợ của xếp Vương, người có quyền lực nhất thành phố Mã Sơn. Hoàng Sa Thổ, nguyên bộ đội tham gia chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, phục viên về làm trưởng bản Nà Lai. Nội dung tiểu thuyết xoay quanh việc Vũ Tử Pín, cậy thế lực, tiền tài thu gom rất nhiều đất của thành phố Mã Sơn để làm khách sạn, siêu thị, nhà hàng, khu đô thị Lâm Viên, thủy điện Hoang Thủy, dinh thự ở làng Cò Lả, Khau Sưa. Tử Pín còn muốn mua cả núi Chúa của bản Nà Lai do Sa Thổ làm trưởng bản để làm khu du lịch sinh thái. Nhưng Sa Thổ dù bị Tử Pín thuê đầu gấu đánh dằn mặt vẫn kiên quyết không bán quê cha đất tổ người Tày cho kẻ tham lam, độc địa. Trong quá trình xây khu đô thị mới ở làng Cò Lả, Tử Pín cho di dời 133 ngôi mộ ở nghĩa địa của làng đi nơi khác, song không đánh dấu, ghi tên nên các ngôi mộ bị mất danh tính. Dân làng Cò Lả vô cùng tức giận đã ném cứt thối vào dinh thự của Tử Pín. Đặc biệt Tử Pín luôn mơ thấy các bộ xương người đến đòi nhà ở, khiến hắn trở nên tâm thần. Người nhà đưa Tử Pín đi chữa chạy ở nhiều bệnh viện trong và ngoài nước nhưng không khỏi. Cuối cùng phải đưa Tử Pín đến bản Nà Lai, nhờ Sa Thổ và thầy mo đưa lên động cậu Cóc trên núi Chúa, để chữa bệnh bằng thuốc nam và cúng ma nhưng cũng không làm Tử Pín khỏi bệnh. Khi Sa Thổ mang tặng Tử Pín con chim cu gáy giọng thổ đồng, loại chim cu gáy rất quý hiếm nhưng Tử Pín không còn biết gì nữa. Những đệ tử và người làm cho Tử Pín cũng lần lượt ra đi. Dinh thự hoành tráng, nguy nga của Tử Pín trở nên hoang vắng, buồn thảm… Tập truyện ký “Bản hùng ca Tây Bắc” của tác giả Nguyễn Hiền Lương, độ dài 86 trang A4, đề tài chiến tranh cách mạng và người chiến sỹ. Gồm 4 truyện ký viết về kháng chiến chống Pháp; 5 truyện ký viết về chống Mỹ và 1 truyện ký viết về chiến tranh bảo vệ biên giới. Các nhân vật và sự kiện đều có nguyên mẫu. Tác giả sáng tạo trong sự cho phép của thể loại truyện ký để tạo nên sự hấp dẫn, sinh động nhưng không ảnh hưởng tới tính chân thật, lịch sử của nhân vật và sự kiện. Tập ký “Người giữ lửa hậu phương” của tác giả Nguyễn Thế Quynh độ dài 100 trang A4, gồm 27 bài ký. Trong đó có 17 bài ký viết về thiên nhiên và cuộc sống còn người Yên Bái, gồm các bài: Đại Sơn vùng đất vàng xanh; Gặp các cựu chiến binh Điện Biên phủ; Nén tâm nhang tháng 7; Trên quê hương anh hùng Hoàng Văn Thọ; Gập ghềnh Chế Tạo; Khởi sắc Phù Nham; Người giữ lửa hậu phương; Người Mông trên đất Nà Hảu; Thầy thuốc có bàn tay vàng; Về nơi Bu thấp, Bu cao; Chuyện từ làng Dao Khe Ván; Khai Trung nơi bình nguyên xanh; Lên Pá Hu ăn Tết với người Mông; Những chiến sĩ vận tải sông Thao; Về vùng đặc sản nếp tan; Trăn trở Suối Giàng; Người giỏi Pá Hu. Ngoài ra tác giả còn ghi chép lại cảm xúc, suy nghĩ về nhiều vùng quê mà anh đã có dịp đi qua, như các bài ký: Ấn tượng Gia Lai; Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt; Khát vọng Phú Quốc; Miên man Tây Bắc; Ra Côn Đảo; Gặp gỡ Đồng Văn; Một thoáng Sơn La; Rạng rỡ Bay On; Đường về Pác Bó; Làng Lạch dưới chân núi Lang Biang. Tập ký “Xóm Đảo Lai” của tác giả Hoàng Xuân Lý, gồm 8 bài ký: Chuyện về học sinh nghèo vượt khó ở Minh An; Mở ruộng ở Đống nước; Cô Tiên của bản Dao; Hiến đất ở Khe Bút; Mở đường ở Liên Thành; Tấm huân chương; Xóm Đảo Lai; Nha Trang trong tôi. Tập phê bình, nghiên cứu “Nhà văn Hà Lâm Kỳ” của tác giả Hoàng Việt Quân, độ dài 133 trang A4, tập hợp 10 bài nghiên cứu, phê bình, giới thiệu về tác giả- tác phẩm Hà Lâm Kỳ. Gồm: Hà Lâm Kỳ- Nhà văn quê hương; Đại Lịch- quê hương nhà văn Hà Lâm Kỳ; Truyện ngắn, truyện vừa Hà Lâm Kỳ viết về thanh thiếu nhi miền Tây tỉnh Yên Bái trong kháng chiến chống Thực dân Pháp; Làng nhỏ với những kỷ niệm sâu đậm và tự hào; Có một thời vượt rừng Trường Sơn; Về truyện ngắn của Hà Lâm Kỳ; Đôi lời về truyện tranh Hà Lâm Kỳ; Thơ Hà Lâm Kỳ; Những tác phẩm viết về văn hóa dân gian và trên đường gặp- ghi chép; Đôi lời về những bản thảo của Hà Lâm Kỳ chưa được công bố. Có thể thấy tập hợp các bài viết trên đã thể hiện một cái nhìn khá đầy đủ về nghiên cứu, phê bình các tác phẩm của nhà văn Hà Lâm Kỳ trên nhiều bình diện.

Quang cảnh buổi lễ khai mạc trại sáng tác văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái năm 2018 tại nhà sáng tác Đà Nẵng 

 

Về văn hóa dân gian: Tập sưu tầm và biên dịch “Hát phong sjư của người Tày vùng sông Chảy, Yên Bái” của nhà sưu tầm- nghiên cứu văn hóa dân gian, nghệ nhân dân gian ưu tú Hoàng Tương Lai, có độ dài 60 trang A4. Hát phong sjư là những bức thư tình kín đáo của nam thanh nữ tú Tày trao gửi cho nhau trong các dịp lễ hội đầu xuân, hoặc trong đám cưới. Khi tình yêu đã nảy nở nhưng vì xa bản cách mường họ không gặp được nhau thường xuyên. Nhớ nhung nhau da diết, họ nhờ các thầy đồ Nho trong bản viết hộ những bức thư tình trên giấy bản khổ rộng, chữ viết nắn nót, khung giấy được vẽ chim én bay lượn, rồng chầu, hoa lá. Nội dung hỏi thăm sức khỏe, việc làm ăn và hò hẹn thời gian, địa điểm gặp nhau, được viết bằng thể thơ 7 chữ, theo thủ pháp mượn cảnh tả tình. Khi diễn xướng được ngâm theo giọng điệu riêng, khác với hát then, hát khắp, hát cọi, hát quan làng. Có thể coi hát phong sjư là điệu hát trữ tình độc đáo của người Tày vùng sông Chảy đã được nghệ nhân ưu tú Hoàng Tương Lai dày công sưu tầm và diễn xướng rất thành công. Tập sưu tầm, khảo cứu văn hóa dân gian dân tộc Dao: “Một số phong tục của người Dao quần chẹt vùng Văn Chấn, Yên Bái” của Đặng Phương Lan, độ dài 56 trang A4, tìm hiểu khảo cứu về các tục: Tục treo tranh thờ; tục Ma phần vàng; tục chia ma; tục cưới hỏi, tục cấp sắc của người Dao quần chẹt Văn Chấn, Yên Bái. Tác giả Hoàng Nhâm hoàn thành tập khảo cứu, sưu tầm văn hóa dân gian các dân tộc, gồm 16 bài sưu tầm, nghiên cứu: Bếp lửa người Mường; Các nghi lễ khi dựng nhà sàn của người Tày; Lễ cầu mùa của người Dao đỏ Khai Trung; Lễ cúng mụ cho trẻ nhỏ; Lễ đặt tên cho trẻ sơ sinh của người Thái; Lễ hội xên Đông của người Thái; Lễ hội thánh dư; Lễ trả ơn bà mụ của người Tày; Nghi lễ sân khấu của người Mông; Yếu tố thiêng liêng trong bếp lửa của người Tày; Tín ngưỡng thần lửa của người Khơ Mú; Tranh thờ và tục treo tranh thờ của người Dao; Hội đu của người Mường; Bánh chim gâu, bánh chuột; Tục cúng cây thuốc; Lễ Trù su của người Mông.

Về nhiếp ảnh: Các tác giả hoàn thành 4 bộ ảnh nghệ thuật. NSNA Vũ Chiến, hoàn thành 5 tác phẩm: Nắng sớm trên đầm Lập An, Buổi sáng trên sông Cổ Cò, Về bến, Biển sớm, Thăm Mỹ Sơn. NSNA Tuấn Nghĩa, hoàn thành 5 tác phẩm: Nghề đúc đồng truyền thống Phước Kiều, Hoàng hôn trên dòng sông Cái, Đêm phố cổ Hội An, Tìm về thánh địa, Đam mê. NSNA Lê Bác Đạt, hoàn thành 5 tác phẩm: Du khách và di tích văn hóa, Du khách thăm quan Thánh địa Mỹ Sơn, Sông Hàn vào đêm, Sắc màu sông Hàn, Cuộc sống ven đầm. NSNA Việt Thắng, hoàn thành 5 tác phẩm: Vũ điệu Chăm, Thành quả, Bình minh trên Ngũ hành sơn, Lễ hội hoa đăng. Chuẩn bị ra khơi.

Về mỹ thuật: Các tác giả hoàn thành 5 tác phẩm. Họa sĩ Nguyễn Đình Thi, hoàn thành 3 tác phẩm: Tín hiệu biển, Hoa muống biển, Hoa bướm Khai Trung bằng chất liệu ACRYLIC, kích thước 70 x 90cm. Trong đó 02 tác phẩm về đề tài biển đảo, 01 tác phẩm về đề tài vùng cao. Các tác phẩm được sáng tác bằng ngôn ngữ tả thực, màu sắc trong trẻo, bút pháp khỏe mạnh, gam màu tươi sáng. Mỗi tác phẩm có bố cục và hòa sắc khác nhau, có điểm nhấn gây ấn tượng với người xem. Họa sĩ Việt Hưng, hoàn thành 2 tác phẩm: Đường quê, Phong cảnh vùng cao, chất liệu ACRYLIC, kích thước 70 x 90cm.

Tất cả các tác phẩm đều có nội dung tư tưởng tốt, chất lượng nghệ thuật từ khá trở lên, có thể in ấn trên các tạp chí văn nghệ địa phương, trung ương và xuất bản thành tập sách. Trong thời gian dự trại các tác giả tranh thủ đi thực tế sáng tác, tìm hiểu sự phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội, thăm các di tích lịch sử- văn hóa, danh lam- thắng của vùng đất địa linh nhân kiệt Quảng Nam- Đà Nẵng. Thánh địa Mỹ Sơn; phố cổ Hội An; Cù Lao Chàm; làng đúc đồng Phước Kiều; Điện Bàn, quê hương của anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi; Duy Xuyên, nơi yên nghỉ của nhà báo- liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý; xem bắn pháo hoa quốc tế Đà Nẵng. Với nhãn quan của người vừa làm nghệ thuật vừa hoạt động trong lĩnh vực báo chí, các tác giả đã phát hiện ra nhiều vấn đề về xã hội cần quan tâm, tạo cảm hứng và tích lũy vốn sống cho việc thai nghén nhiều tác phẩm và ý tưởng sáng tác mới. Ngoài ra còn giao lưu trao đổi nghiệp vụ với các văn nghệ sĩ của Hội VHNT An Giang cùng dự trại; thăm và giao lưu với văn nghệ sĩ Liên hiệp các hội VHNT Thừa Thiên- Huế, Liên hiệp các hội VHNT thành phố Đà Nẵng.

Điều cần nói thêm là các tác giả tham dự Trại sáng tác lần này hầu hết là các nhà báo đang làm việc tại các cơ quan báo chí như Báo Yên Bái, Tạp chí Văn nghệ Yên Bái, hoặc sinh hoạt trong Câu lạc bộ nhà báo nghỉ hưu đang là các cộng tác viên đắc lực của các báo, đài, các bản tin trong địa bàn tỉnh. Việc tổ chức cho các hội viên văn học nghệ thuật là các nhà báo, cộng tác viên của báo tham dự trại sáng tác có thể coi là một việc làm nhiều ý nghĩa. Nó vừa tạo thêm tiềm lực sáng tạo văn học nghệ thuật cho các nhà báo, các cộng tác viên báo chí, vừa tạo ra sức mạnh cộng hưởng của tính báo chí và tính văn học- nghệ thuật trong các tác phẩm văn học- nghệ thuật. Bởi văn học- nghệ thuật và báo chí có sự khác biệt song cũng có nhiều điểm tương đồng; đều là các hình thái ý thức xã hội, có chung một nguồn gốc, chung một đối tượng nhận thức, phản ánh. Thời kỳ trung đại không có sự phân biệt báo chí và văn học- nghệ thuật. Tình trạng “Văn, sử, triết bất phân” kéo dài đến hết thời trung đại. Sang thời kỳ hiện đại chúng mới có sự phân hóa thành các ngành, các loại hình, loại thể. Song sự phân hóa ở đây không phải là cắt rời, độc lập hoàn toàn với nhau. Giữa chúng luôn có sự sự gắn bó, chuyển hóa, kết tinh những giá trị ưu việt của nhau, nương tựa vào nhau để phát triển và phát huy sức mạnh phản ánh xã hội và tác động tới đời sống xã hội của con người. Riêng với loại hình văn học thì còn có mối quan hệ với báo chí còn mật thiết hơn. Bởi văn học và báo chí đều sử dụng ngôn từ làm công cụ để phản ánh hiện thực và tác động đến bạn đọc qua sự thông hiểu ngôn từ của tác phẩm. Trong một tác phẩm văn học có thể có yếu tố báo chí, tính báo chí và ngược lại. Điều đó không làm giảm đi tính báo hoặc chất văn của tác phẩm mà ngược lại. Nói cách khác, giữa văn học - nghệ thuật và báo chí có sự tích hợp. Tư duy tích hợp đang là một xu hướng tất yếu của nhận thức và phản ánh. Trong thực tế, một số thể loại của báo như tiểu phẩm, tạp văn, ký có sự giao thoa giữa văn học và báo chí. Chúng kết hợp đặc trưng hình tượng của văn học với đặc trưng thông tin sự kiện xác thực- thời sự của báo chí để phản ánh sinh động hiện thực đang phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp. Tuy nhiên, giữa báo chí và văn học- nghệ thuật cũng có những đặc trưng và sự khác biệt nhau. Văn học- nghệ thuật xuất hiện trước, nó phản ánh hiện thực thông qua những hình tượng nghệ thuật. Thông tin trong tác phẩm văn học là thông tin thẩm mỹ và tính hình tượng. Báo chí không có điều này. Nhiệm vụ chính của báo chí là thông tin kịp thời về những cái mới đang nảy sinh hàng ngày. Vì vậy báo chí luôn chịu áp lực của tính thời sự. Áp lực này đã chi phối đến dung lượng, ngôn ngữ, cách thức tổ chức tác phẩm. Còn văn học lại cần có một độ lùi nhất định của thời gian để tác giả nghiền ngẫm, chiêm nghiệm và chau chuốt cho tác phẩm của mình. Những nhận thức trên về báo chí và văn học- nghệ thuật của các tác giả dự trại là những nội dung tự bồi dưỡng nghiệp vụ rất bổ ích, tạo điều kiện để sáng tạo ra các tác phẩm báo chí và văn học nghệ thuật chất lượng. Từ những kết quả đạt được có thể khẳng định Trại sáng tác VHNT Yên Bái năm 2018 của Hội Liên hiệp VHNT Yên Bái tại Nhà sáng tác Đà Nẵng đã thành công tốt đẹp.

 

                                                                                        N.H.L


 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter