• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
“Lời Bác dẫn lối tôi đi”
Ngày xuất bản: 29/05/2019 1:26:58 CH

Ký của Vũ Quang Trung

 Tạm biệt anh trong đôi bàn tay ấm áp, tôi lên xe đi chừng vài trăm mét thì dừng lại, và ngồi xuống chiếc ghế đá bên hồ công viên cung thiếu nhi mà lòng đầy ắp những sự kiện, những câu chuyện anh vừa kể.

Anh là Hoàng Đức Quế, sinh năm 1955 tại xã Thượng Bằng La, Văn Chấn, Yên Bái, Dân tộc Tày. Năm 1974 tốt nghiệp phổ thông, anh cùng 11 bạn cùng lớp viết đơn tình nguyện nhập ngũ lên đường đánh Mỹ, Được biên chế vào C2-D428 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La. Sau khi huấn luyện tại Na Sầm, anh được biên chế vào Cục chính trị quân khu Tây Bắc. Năm 1975 được đi học tại Trường Văn hóa quân đội để thi đại học và anh đỗ Học viện Quân y. Học được vài tháng thì anh được cử sang Liên Xô học, năm 1984 tốt nghiệp với tấm bằng loại giỏi, bác sĩ ngoại khoa. Cũng dịp này anh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam rồi về nước, nhận công tác tại khoa ngoại, Quân Y viện 108. Anh xây dựng gia đình năm 1980 nhân một đợt nghỉ hè, chị là kỹ sư nông nghiệp.

Do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nên anh xin được chuyển về quân khu II và lên phục vụ tại đội phẫu thuật tiền phương ở mặt trận Hà Giang. Năm 1989 anh được chuyển về Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Yên Bái và ra quân chuyển sang công tác tại Bệnh viện Nghĩa Lộ.

Từ đây đánh dấu một thời kỳ vừa làm chuyên môn vừa làm chính trị. Trưởng khoa ngoại bệnh viện kiêm Chủ tịch công đoàn, rồi lên Phó Giám đốc Bệnh viện Văn Chấn, Bí thư Chi bộ, rồi Ủy viên Ban chấp hành Huyện ủy, Trưởng Ban Kinh tế Huyện ủy Văn Chấn. Năm 1998 anh được đi học trường Nguyễn Ái Quốc rồi về làm Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy rồi Phó Bí thư thường trực; năm 2005 là Ủy viên Ban chấp hành Tỉnh ủy, sang 2006 làm Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh và 2010 làm Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy cho đến lúc nghỉ chế độ năm 2015.

Anh pha cà phê phin mời tôi cùng tận hưởng hương vị đặc biệt của miền cao nguyên xa xôi, rồi nhẹ nhàng:

- Mỗi vùng đất của tổ tiên để lại đều có hương vị và niềm thương nhớ thiêng liêng riêng phải không anh! Thượng Bằng La quê tôi cũng thế, còn nghèo, còn lạc hậu, còn thiếu thốn trăm bề song tôi luôn nhớ về miền quê ấy, nơi có những cánh rừng bạt ngàn, xanh thẳm, nơi có những dòng suối xanh trong, chiều chiều tiếng mõ trâu lốc cốc gọi nhau về bản hòa trong tiếng gà gáy khi hoàng hôn buông dần, rồi thấp thoáng những làn khói xanh mờ nhè nhẹ cuốn lên từ những mái nhà sàn đơn sơ, nơi ấp ủ bà con chòm xóm đáng yêu và đáng kính vô cùng. Thật lòng tôi muốn và rất muốn về nơi ấy, nhất là khi tuổi già hay nhớ về quá khứ anh ạ.

Tôi nhìn anh chia sẻ:

- Cơ ngơi của anh thế này là lý tưởng quá rồi. Một ngôi nhà cao tầng giữa trung tâm tỉnh lị, xung quanh có hồ, có công viên, có quảng trường, có trung tâm văn hóa, thể thao, có trường, có chợ…

- Đấy! Đấy!- Anh ngắt lời tôi- Anh lại rơi vào cái “lý” của anh em trong quê ra đây chơi, họ xuýt xoa: “Bác thoát nghèo toàn diện và bền vững quá rồi”. “Thoát khỏi rừng núi nghèo nàn để ở giữa nơi đô thị phồn vinh”. Song với tôi, đó là phần tảng băng nổi thôi, phía chìm trong nước sâu nặng hơn nhiều. Đó là Đất và Người quê tôi. Từ lúc tôi hiểu và đi theo cách mạng cầm súng cứu nước, cha tôi đã nhắc nhở: “Ngày bố vào bộ đội được nghe lời Bác kêu gọi quyết tâm giải phóng hoàn toàn Tây Bắc để cứu dân thoát khỏi ách cai trị của bọn giặc Pháp và bè lũ tay sai. Bà con Tây Bắc cùng nhân dân cả nước đã làm nên chiến thắng lịch sử để có ngày hôm nay. Bác Hồ ở tận Trung ương mà thương người dân Tây Bắc chúng ta lắm. Con hãy nhớ nhé”. Đến ngày được đi học trường Nguyễn Ái Quốc tôi hiểu nhiều hơn về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và ngày càng thấm nhuần sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác chính là tư tưởng thương dân, vì dân. Bác luôn dặn: “Việc gì làm có lợi cho dân thì kiên quyết làm cho được”. Cũng từ lời dạy đó mà ngày ngày sau mỗi ca trực, sau mỗi buổi làm việc, mỗi tối trước khi nghỉ ngơi, tôi tự kiểm tra lại mình, hôm nay làm được gì để góp thêm một chút nho nhỏ giành lại sự sống cho người bệnh, đem lại lợi ích cho dân. Hiệu quả công việc chính là thước đo cho mình học tập và làm theo lời Bác đấy anh ạ. Chuyện ở Nậm Mười cũng vậy. Hồi ấy vào năm 1993, tôi đang là Phó Giám đốc Bệnh viện Văn Chấn, sáng sáng sau khi sắp xếp công việc của mình, tôi xuống các khu khám chữa bệnh, đến các khoa, đến từng giường người bệnh thăm hỏi, lật từng trang nhật ký điều trị của từng bệnh nhân và bỗng phát hiện bệnh nhân bị giang mai ngày một nhiều, đa phần ở Nậm Mười.

Hiện tượng này được đưa ngay vào kế hoạch của Ban Giám đốc bệnh viện, được cấp ủy phê duyệt, một tổ công tác được tung xuống Nậm Mười. Cũng nói thêm anh hiểu, hồi đó giao thông ở đó chỉ là đường mòn dân sinh, gập ghềnh sống trâu, mưa trơn lầy lội, xe đạp chỉ có vác. Tôi trực tiếp cùng 5 y sĩ, y tá với 6 chiếc xe đạp lỉnh kỉnh y cụ, thuốc men lập bập, dò dẫm hơn hai chục cây số mới đến bản. Đến đây mới thấu hiểu cuộc sống vất vả và lạc hậu của bà con mình, còn nói chi đến văn hóa, khoa học. Mời lên Trạm y tế họ không đi vì xấu hổ, chúng tôi phải chia làm 2 tốp lần mò đêm hôm xuyên rừng, lên nương, lên rãy, qua khe, lội suối, đèn pin chẳng đủ sáng phải đốt đuốc tìm đến từng nhà, từng lán, từng gia đình để khám cho từng người. Ban ngày họ đi nương, đi rãy nên chỉ có khám ban đêm mới không để sót một ai. Cuối cùng tập hợp lại, thật sửng sốt cả xã có 86 người mắc bệnh, cả nam cả nữ. Thương tâm lắm.

Một kế hoạch thanh toán bệnh xã hội ở Nậm Mười được trình lên phòng y tế huyện, lên ủy ban nhân dân và được huyện phê duyệt sẽ tổ chức chữa tập trung tại huyện.

Anh biết đấy! Người Dao đỏ vùng cao không thích ra khỏi bản, khỏi nhà, lại xấu hổ khi có tên gọi đi chữa bệnh, nên huyện có kế hoạch hỗ trợ toàn diện để mời họ lên chữa bệnh. Nơi ăn, ở, khu chữa bệnh do huyện lo, được tập trung vào một khu riêng, nội bất xuất, ngoại bất nhập, cách li khu nam, khu nữ. Giường, chiếu, chăn, màn, quần áo được phát và có cả máy nổ phục vụ ánh sáng, ti vi cho hơn tám chục người bệnh. Ngoài chữa bệnh, bệnh nhân còn được nghe giảng tại sao bị bệnh? Đề phòng phải thế nào? Cách phát hiện và mạnh dạn đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt để chữa trị. Mười ngày sau, tất cả mặt ai cũng tươi như bông hoa rừng khi nghe bác sĩ tuyên bố: “Khỏi rồi”. “Về nhớ giữ gìn theo lời bác sĩ dặn”. Họ được ở lại thêm một ngày dạo chơi quanh phố huyện rồi được xe đưa về nhà.

Anh ạ! Nhìn họ vui bao nhiêu thì người thầy thuốc chúng tôi vui bấy nhiêu. Sau này có dịp qua Nậm Mười, Bí thư Đảng bộ xã Bàn Quốc Hưng, hay Chủ tịch Bàn Kim Thanh cứ nhắc mãi: “Dân Nậm Mười nhớ ơn bác sĩ lắm. Từ ngày ấy người Dao ở đây sống khỏe mạnh hơn, không còn bệnh nữa”.

Chủ tịch phụ nữ xã Triệu Thị Côi lại mạnh dạn hơn:

- Bác sĩ ơi! Nhiều chị em sau khi khỏi bệnh lại sinh con, họ bảo muốn đặt tên con là Quế đấy, để nhớ ơn mà. Song lại sợ. Cái Bàn Thị Síu cứ đặt tên con là Triệu Anh Quế, nghĩa là anh Quế đấy. Chị liếc nhìn mình rồi cười nắc nẻ, chạy mất.

Tình cảm của người quê tôi thế đấy. Thật đơn giản, vô tư, thật ấm áp và sâu nặng.

Rồi cái chương trình đưa trường, lớp về bản cho con em đồng bào vùng cao được học cái chữ cũng thế thôi. Mình thấu hiểu hoàn cảnh, nguyện vọng của dân thì sẽ có những biện pháp hữu hiệu làm lợi cho dân anh ạ. Vùng cao mật độ dân cư thưa lắm. Trường có xuống tận xã rồi nhưng nhiều em không theo học được vì quá xa, đường đèo dốc. Năm 2004 tôi đang là Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, mỗi lần đi cơ sở tiếp xúc với bà con, nhất là lớp thanh niên tôi càng thấy họ không phải là không biết, chỉ thiếu người bảo họ thôi. Tức là thiếu người dạy, thiếu kiến thức dạy cho họ từ lúc còn trẻ, đó là trường, lớp, thầy giáo. Một khát vọng ấp ủ trong tôi làm sao đưa trường, đưa lớp về tận bản, tận nậm và có nhà ở cho các em. Rồi muốn tìm một cán bộ ở cơ sở có chút hiểu biết thì khó vô cùng. Đương thời Bác Hồ có dạy phải phát triển, mở rộng văn hóa, giáo dục cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc vùng cao… Anh dừng lại nhìn tôi, rồi tiếp- Tôi đang là Phó Bí thư lại ấp ủ một chương trình có tính chiến lược về con người thuộc ngành giáo dục đào tạo quản lý. Nghịch lý này đặt tôi phải hạ quyết tâm vào theo học chương trình cao học để có tấm bằng Thạc sĩ giáo dục. Kế hoạch được huyện phê duyệt, Phó Chủ tịch huyện Hà Tài, Trưởng Phòng giáo dục Hà Kim Nhăng cùng các thầy cô giáo hết lòng ủng hộ, giúp đỡ, sẵn sàng nhận thêm lớp, thêm giờ, nhận quản lý, chăm sóc các em. Các nhà tạm trú mọc lên cạnh trường thu hút các em đến trường, đến lớp. Lương thực, thực phẩm gia đình lo, rồi kêu gọi sự hỗ trợ của cán bộ, nhân dân quanh vùng giúp các em. Gia đình tôi tuần nào cũng có một đợt ủng hộ. Nhân dân góp công, góp của đóng cho các em hàng trăm chiếc giường gỗ, giường sắt, bàn, ghế, tủ. Tất cả cùng đồng lòng giúp các em có nơi ăn ở để yên tâm học cái chữ. Buổi tối các thầy mở thêm lớp bổ túc văn hóa cho lớp người quá tuổi đi học. Đa phần họ đã hiểu chỉ có văn hóa, khoa học mới cho con cháu họ đỡ vất vả sau này và nâng cao đời sống. Từ điểm sáng Cát Thịnh lan sang Đồng Khe, Tà Xi Láng, Nậm Mười, Nậm Lành… và lan khắp toàn huyện Văn Chấn. Các lớp vùng cao có nhà bán trú, nhà nội trú. Rồi lan sang huyện bạn như Trấn Yên, Văn Yên… và lan khắp toàn tỉnh. Từ mô hình đơn giản đó được Bộ Giáo dục Đào tạo nâng cao và trở thành mô hình trường bán trú, trường nội trú phát triển khắp toàn quốc.

Anh ạ! Nói thì nhanh thế đấy nhưng lúc làm thì cơ man vất vả, nhưng đã có công sức gieo hạt ắt có ngày hái quả. Văn Chấn nói chung, các xã vùng cao như Nậm Mười, Nậm Lành, Tà Xi Láng… nói riêng, các em học sinh người Dao, người Mông lớp lớp trưởng thành, đi học rồi về phục vụ làng, bản, như Giàng A Chu, Giàng A Sư, Giàng A Tú, Vừ A Sức… Với riêng tôi, được rất nhiều cháu học sinh thời ấy đền ơn đáp nghĩa, nhận làm bố nuôi, giỗ tết nào cũng đến thăm, biếu quà. Hạnh phúc của các cháu chính là hạnh phúc và niềm vui của tôi và gia đình.

Anh dừng lại, đôi mắt mơ màng, xa xăm như tận hưởng niềm vui đang tràn về. Tôi tranh thủ:

- Anh à! Có nghĩa là mô hình trường bán trú, nội trú hiện nay trên toàn quốc bắt đầu sinh sôi từ Văn Chấn mình?

- Chính xác! Từ Văn Chấn lan ra toàn tỉnh rồi được nâng cao nhân lên toàn quốc. Năm Bộ Giáo dục tổng kết mô hình này có mời tôi về báo cáo, song bận quá không về được. Thực lòng, mình nghĩ làm cho địa phương mình thôi. Tốt thì bộ cứ nhân lên. Ngay cả cuộc vận động người Mông Yên Bái ăn chung một tết Nguyên đán với cả nước ấy, mình cũng chủ trương làm ở tỉnh mình thôi. Khi thành công và thấy có lợi cho xã hội thì được nhiều tỉnh học tập, như Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang đưa các đoàn về tham quan, tìm hiểu và học tập.

- Anh Quế! Hấp dẫn đấy! Anh kể đi.

- Cũng không đơn giản đâu anh ạ!- Anh nhìn tôi chậm rãi- Một phong tục cổ truyền lâu đời của một dân tộc, họ chuẩn bị đón tết từ vài tháng trước rất kỳ công, chu đáo, từ trang phục áo, quần, váy, ô, mũ, đồ trang sức, lương thực, thực phẩm, lợn, gà để ăn chơi nửa tháng hoặc cả tháng trời. Khu trung tâm có sân bãi, cây nêu, cây đu, cây còn, quả còn, quả pao, trống, chiêng, kèn, sáo, khèn… Mồng một tháng chạp âm lịch là mồng một tết của họ.

Việc ăn tết riêng của họ có nhiều bất lợi cho chính họ và cả xã hội. Tết vui chơi hàng tháng giữa lúc cả nước các ngành, các cấp đang phấn đấu gấp rút hoàn thành kế hoạch trong năm. Con em họ đi công tác, đi làm, kinh doanh dịp ấy cũng rất bận rộn, học sinh thì thi cuối kỳ không về được. Khi tết Nguyên đán đến, cả nước vui chơi với các hoạt động văn hóa, thể thao thì họ lại đi nương, làm rẫy, không được thưởng thức để tăng thêm mối quan hệ, hiểu biết, nâng cao tầm nhìn. Ngay cả tết riêng của họ, các cấp lãnh đạo địa phương cũng hạn chế thời gian đến tặng quà, chúc tết, thăm hỏi và vui chơi do bận công việc cuối năm.

Vì vậy Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân giao cho Ban Dân vận chúng tôi tiến hành cuộc vận động người Mông cùng ăn chung tết với cả nước. Đầu tháng 11 năm 2012 tôi cho triển khai kế hoạch có sự phối kết hợp toàn diện giữa Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Ban dân vận Tỉnh ủy, Sở Giáo dục Đào tạo, Đài Phát thanh Truyền hình, Báo Yên Bái, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch… lấy trọng điểm là Trạm Tấu và Mù Cang Chải. Sau nửa tháng triển khai, khắp các thôn, bản của Trạm Tấu, Mù Cang Chải sôi động một bầu không khí vui có, buồn có, tranh luận cả thuận chiều lẫn trái chiều, để rồi mọi người hướng về các già làng, trưởng bản, các cán bộ ủy ban xã. Các đoàn công tác mừng khôn xiết khi đến bản nào, nậm nào, các già làng đều cười vui vẻ.

- Dân bản mình đồng ý hết mà. Nghe theo lời Đảng, lời cán bộ mà.

Thắng lợi thật bất ngờ, trong vòng gần một tháng, gần như tất cả các gia đình người Mông ở Trạm Tấu, Mù Cang Chải ăn tết Nguyên đán cùng các dân tộc cả nước, các làng bản có người Mông trong tỉnh được nhà nước đầu tư vượt trội để cùng chia vui với bà con đón xuân mới. Chỉ còn lác đác vài hộ của 3 thôn Lũng Cú- Phình Ngài- Làng Giàng ở Mù Cang Chải đã chót mổ lợn rồi, không để lâu được thì họ ăn tết trước. Cũng trong ngày vui ấy, họ đều hứa sang năm cùng ăn tết chung. Thế thôi nhỉ?

Anh lại nhìn tôi cười: - Báo cáo! Hết.

- Đừng vội! Anh cho hỏi câu cuối cùng nhé - Tôi nhìn anh chờ đợi.

- Hơn hai mươi lăm năm công tác phục vụ nhân dân…

Anh ngắt luôn lời tôi:

- Tôi hiểu rồi! Hiểu rồi. Lại hỏi thành tích, rồi Huân Huy chương chứ gì? Đừng! Đừng hỏi nữa. Đầu tháng 3 vừa rồi tôi được nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Đảng và Nhà nước phong tặng, có một cậu phóng viên rất trẻ muốn phỏng vấn mình, mình nắm tay cậu ta rất chặt, sau lời cảm ơn mình cười vui: Thanh niên như các cháu có câu hát “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta/ Mà tự hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay”, đúng không? Thế thì bác cũng vậy thôi! Lời dạy của Bác Hồ kính yêu luôn sống trong trái tim bác.

 

V.Q.T

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter