• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Mùa dưa hấu
Ngày xuất bản: 22/08/2018 2:14:45 SA

Truyện ngắn của Hoàng Tương Lai

Sau ba tháng huấn luyện ở Phú Bình (Bắc Thái), Chiến được giữ lại làm cán bộ khung rồi thành rể ở đấy. Còn tôi cùng đồng đội vào chiến trường chiến đấu trên khắp các mặt trận. Sau năm 1975 tôi được phục viên. Hè năm đó, Chiến về thăm quê có mang quà cho tôi, trong đó có dưa hấu- thứ đặc sản nổi tiếng của vùng đất sỏi đá Phú Bình. Dưa hấu thì ai chả một lần được ăn, ăn để khỏi khát, ăn sau đám cỗ và ăn để nhớ An Tiêm bị vua cha đày ra đảo rồi trồng dưa hấu trong câu chuyện xa xưa đó. Còn tôi một lần được ăn dưa hấu ở Phú Bình để rồi nhớ mãi. Ăn lâu rồi nhưng cái hương vị ngọt ngào, thơm mát lẫn xót xa nghèn nghẹn vẫn còn trong tôi đến bây giờ.

Chiều tháng 4 năm một 1971. Trời nắng như như đổ lửa xuống những đồi sim đồi mua đất Phú Bình. Sau khi biên chế ở đại đội, tổ ba người của tôi được phân công vào nhà dân để ở. Theo lối mòn lợp mát của những hàng bạch đàn, những rặng tre, đồng chí tiểu đội trưởng chỉ cho tổ ba người chúng tôi vào một ngôi nhà gỗ bốn gian, mái rạ. Quanh nhà là những cây bưởi, cây mít xum xuê bóng mát. Lối vào nhà được quét dọn sạch sẽ, lưa thưa vài sợi tơ hồng đan dọc lối vào sân. Trên chiếc sân gạch trước nhà là đống thóc lẫn rơm cạnh chiếc bàn đập lúa. Bên trái nhà là hai gian bếp, kề bếp dưới bóng cây hoa đại có chiếc gầu cao su để ngay ngắn trên thành giếng. Trên dây phơi bên trái nhà có mắc chiếc áo nâu non, đôi áo lót trắng. Chiến bấm Khang: “Chú ý, nhà có tiểu thư đấy!”.

Như được báo trước, ông chủ nhà ra tận cửa đón. Dáng ông thấp đậm, có hàng râu ria xén bằng ngay ngắn. Chúng tôi đeo ba lô theo ông chỉ vào một gian nhà nhỏ có sẵn sạp nằm, giá súng, chỗ để mũ của lớp tân binh trước vừa trọ ở đây. Đặt ba lô xong, chúng tôi cùng bước vào nhà để làm công việc xã giao ban đầu của người chiến sĩ mới. Chiến vừa được giao chức tổ trưởng, đẹp trai, mau miệng: “Dạ! Chúng con xin kính chào bố mẹ, cho phép chúng con được tự giới thiệu, con là Chiến, đây là Khang còn kia là La, cả ba chúng con đều quê ở Yên Bái”. Ông bà chủ tươi cười mời cả ba chúng tôi lại bàn uống nước. Ông chủ rít nốt hơi thuốc lào từ chiếc điếu bát, ông nhả khói thuốc lên trần nhà rồi thư thả: “Vâng! Tôi tên là Thìn, nhà có năm khẩu…”. Bà chủ rót đầy ba bát chè xanh đưa tận tay chúng tôi.

Đang uống dở bát nước chè xanh thì ngoài ngõ có người gánh lúa vào sân. Gánh lúa gồi chi chít những bông là bông trên chiếc đòn tre uốn cong trên vai người con gái áo nâu non đẫm mồ hôi, quần đen sắn gần đến gối để lộ đôi bắp chân tròn lẳn. Cô gái nghiêng đòn bỏ cả hai gồi lúa xuống cạnh chiếc bàn đập lúa trên sân. Cô gỡ nón, quay vào nhà nở nụ cười cùng hai lúm đồng tiền trên đôi má ửng hồng chào ba người lính mới chúng tôi. Chiến hết nhìn Khang lại quay sang nhìn tôi, ba đôi mắt gặp nhau như cùng nói lên một điều: Em xinh quá! Cô đội lại nón, quay lại bàn đập lúa, mỗi lần đôi néo trên tay cô cùng nắm lúa vung lên đập là thóc bay rào rào xuống sân. Cô lỏng đôi néo giơ lên cao tung nhẹ, nắm rơm bay vù đi nằm gọn thành đống bên góc sân.

Thấy tôi đang mải chuyện với ông bà Thìn, Chiến và Khang nháy nhau ra sân giúp đập lúa. Tôi nhìn ra sân, lễ phép hỏi ông Thìn:

- Thưa hai bác, em đang đập lúa là con cả của hai bác phải không ạ?

Bà Thìn nhìn tôi chân thành:

- Cảm ơn anh hỏi đến. Cháu cả tôi đấy, cháu tên là Thảo. Thú thật vợ chồng tôi vất vả lắm. Ông nhà tôi được phục viên, ăn ở với nhau bốn năm mà chả có con. Mẹ cháu bị bom Mỹ chết ở cầu Gia Bảy khi cháu mới ba tháng tuổi. Bố cháu tái ngũ cùng đợt với nhà tôi rồi hy sinh ở Quảng Trị. Vợ chồng tôi đón cháu về nuôi, bốn năm sau mới có các em của cháu. Cháu năm nay bước sang tuổi mười chín rồi đấy!

- Thế hai bác sắp có rể rồi?- Tôi hỏi.

Ông Thìn:

- Đâu anh, cháu học hết lớp bẩy thì xin nghỉ ở nhà giúp bố mẹ. Cũng có ba đám đặt vấn đề tìm hiểu cháu, có cả một anh cán bộ tiểu đoàn ở đây, nhưng cháu đều chối cả. Cháu cứ nằng nặc, các em còn nhỏ, bố mẹ vất vả với con từ tấm bé, con chưa trả ơn được gì, cứ để thư thư cho con đã. Được cái cháu ngoan, chịu thương chịu khó lại mát tay, việc trồng dưa hấu sai quả thì cả xóm này chả ai theo kịp…

Ngoài sân, Chiến đã nhận được đôi néo đập lúa từ tay Thảo, anh lóng ngóng xiết lấy nắm lúa từ tay Thảo. Nhưng khi giơ nắm lúa lên thì từng bông đã rời ngay trên đầu Chiến. Khang cầm lấy néo làm theo. Cũng thế. Thảo vừa cười bảo: “Thôi hai anh đi tắm rồi nghỉ cho lại sức”. Thảo buông néo cầm đòn đi lấy gánh lúa khác.

Trong nhà tôi vẫn hỏi ông bà Thìn. Tôi hỏi việc học hành của các em Thảo, công điểm theo hợp tác xã vụ này có được nhiều không? Lúa đang đập trên sân là ruộng tư hay của hợp tác xã… Ông Thìn quay sang hỏi tôi:

- Thế ở nhà cháu cũng làm ruộng à?

- Vâng ạ! Gia đình cháu neo người lắm. Bố đi công tác xa, các em còn nhỏ, có mỗi mẹ cháu theo hợp tác xã lấy công điểm, nên mọi việc lớn bé từ cày bừa, đập lúa, thái chuối cho lợn, dần sàng cháu tập làm đỡ mẹ cháu.

Bà Thìn nhìn tôi có vẻ thân thiện:

- Thế sao không bảo mẹ cháu cưới vợ cho anh để có người đỡ đần mẹ rồi anh đi bộ đội có phải hơn không?

- Thưa hai bác, nhà cháu neo người thì lại càng khó. Cháu đang học dở lớp chín đành phải nghỉ ở nhà giúp mẹ. Với lại cháu còn trẻ phải cùng anh em vào bộ đội tham gia đánh xong giặc rồi về cưới vợ cũng chưa muộn, phải không hai bác!

Ông Thìn gật đầu:

- Con nghĩ thế là chí phải, trai thời loạn mà lậy, phải cứu nước đã chứ…- Ông cười hề hề.

Tôi xin phép quay xuống sân, cầm lấy đôi néo để làm cái công việc quen thuộc từng làm giúp mẹ ở quê. Lúa chắc hạt nên chỉ bốn lần đập là trơ lại rơm, tôi giơ néo lỏng tay tung nhẹ rơm nằm vào góc sân. Đập xong lúa thì Thảo cũng vừa gánh lúa vào sân, tôi buông néo đỡ gánh lúa từ vai em. Tiếng ông Thìn từ bếp nói vọng ra:

- Thôi con mệt rồi, đi tắm để em nó đập.

Tôi vơ gọn ít rơm, trả lại đôi néo cho Thảo rồi ra giếng tắm. Nước giếng mát, mùi hoa đại thơm nồng nàn, nghe rõ tiếng ông bà Thìn đang khen mình ở bếp: “Con nhà nông vất vả có khác, gánh lúa của cái Thảo to thế mà anh ấy đập một loáng là xong”.

 

Đơn vị bước vào huấn luyện khẩn trương để bổ sung cho các đơn vị ở chiến trường. Đồi đất ở đây toàn sỏi đá chỉ có sim với mua là mọc được. Nắng như thiêu như đốt cháy cả da thịt, đào rộp tay mới được chiếc hố cá nhân. Ở nhà tuy lao động mệt nhọc nhưng thoải mái, chả ai hô, chả giờ giấc, mệt thì nghỉ, mưa thì chơi. Giờ thì ăn cơm theo hiệu kẻng, quần áo bộ nghiêm bộ nghỉ. Báo động hành quân dã ngoại ba lô nặng trĩu trên vai có lúc phải chạy bộ tưởng đứt hơi, đôi chân sưng tấy rã rời. Mười lời thề và mười hai điều kỷ luật nhất nhất phải thuộc làu. Huấn luyện được hai tháng thì cứ một tuần lại có lệnh chuẩn bị hành quân vào chiến trường. Giờ giấc được quản lý chặt chẽ. Chủ nhật được nghỉ nhưng mỗi chiến sĩ phải có một gánh củi nộp cho đơn vị. Đi nửa ngày mới tới Trại Cau có cây có núi để mà lấy củi, trên đường đi phải đeo lá ngụy trang để tránh máy bay Mỹ. Lấy được gánh củi về thì đã trọn ngày chủ nhật. Không biết vì thấy tôi yếu hay vì thương, ông Thìn bảo: “Thôi củi con khỏi phải lo, chủ nhật này đi giúp cái Thảo thu dưa hấu”.

Tôi không ngờ cái vùng đất toàn sỏi đá mà những ruộng dưa hấu của nhà ông Thìn lại sai đến thế. Nhớ hôm ông Thìn khen Thảo mát tay quả không sai. Cả ruộng dây dưa đan lấy nhau, mỗi đốt một quả, chi chít nằm trên ruộng. Thảo cầm trái dưa trên tay:

- Đây anh xem, trái nào vỏ nhẵn, căng, nằng nặng như thế này là ngọt đấy. Quê anh có trồng dưa hấu không?

Tôi thành thật:

- Có, nhưng ít quả và không ngọt như dưa ở đây! Hay là tại giống, hôm nào về phép em gửi cho nhà ít để trồng…

Cứ thế, mỗi chủ nhật tôi được ông bà Thìn cho cùng Thảo ra ruộng bứt dưa hấu, dỡ khoai lang. Hai em của Thảo theo ra ruộng là dịp để chúng đuổi bắt chuồn chuồn, tìm nước đổ vào hang dế, đến chiều chị gọi mái chúng mới chịu về. Đến nhà ông bà Thìn đã sắp sẵn cho một gánh củi, ông còn bắt Thảo gánh hộ tôi lên nộp cho đơn vị. Thảo chối đây đẩy: “Chịu thôi, con mà gánh lên các anh lại trêu con, con xấu hổ lắm”.

Tôi không hành quân dã ngoại cùng đơn vị được vì bị lên đinh đốt ở ngón tay trỏ. Cả bàn tay phải của tôi xưng tấy, mọng đỏ. Tôi đã trộm khóc vì đau, vì nhớ mẹ ở quê nhưng cố giấu. Nhưng Thảo đã biết. Ông Thìn lại cầm tay tôi: “Chết, con bị lên đinh đốt rồi, dưa hấu thì ăn được, nhưng cấm ăn chuối, ăn vào là rụng ngón tay đấy con ạ!”. Ông đắp cho tôi một ít lá giã nát, chỉ một đêm là mủ đã bưng miệng. Ông nặn mủ cho rồi bảo Thảo đưa cơm đến tận chỗ nằm cho tôi. Thảo xới cơm ra bát, gắp thức ăn rồi đưa thìa cơm tận miệng giục tôi ăn. Thảo dỗ dành: “Anh phải ăn cho chóng khỏe, chủ nhật tới giúp em hái buổi dưa là hết mùa dưa hấu”. Thảo giục tôi thay quần áo để cô đem giặt. Thảo ngồi xuống cạnh tôi với đôi mắt ươn ướt hiền dịu. Tôi quay đi lau vội những giọt nước mắt của mình. Những bữa cơm đó tôi thấy ngon lạ, người thấy khỏe lại, bàn tay không còn đau nhức nữa.

Đêm đó, đến phiên gác của tôi vào lúc nửa đêm. Khi ngồi xuống chiếc ghế băng bên hiên nhà thì trăng cuối tháng đã lên khỏi ngọn tre. Ánh vàng lúc thưa lúc mau trải khắp sân nhà. Trăng đêm nay đẹp lạ kỳ, trên trời những đám mây lang thang dắt nhau đi đâu đó, ngọn tre đung đưa trong gió nhè nhẹ. Trời vẫn oi bức. Chợt có tiếng gầu động nhẹ nơi bờ giếng. Tôi vội nhẹ nhàng nhòm qua tấm liếp thưa. Đúng Thảo rồi. Sao liều thế, mọi ngày lúc nào cũng bộ áo cánh, mái tóc dài cuốn gọn trên bờ vai thon thả. Thảo nhẹ nhàng đưa gầu nước lên bờ vai, ánh trăng lấp lánh chảy tràn từ vai xuống ngực, xuống cơ thể trắng ngần của Thảo. Tôi chớp chớp mắt, quay lại chỗ ghế ngồi đúng tư thế của một người đang trực gác. Tôi nghĩ, giá mình đẹp trai như Chiến thì nhất định phải lấy Thảo về làm con dâu của mẹ. Đang như mê như tỉnh trong phút giây ánh trăng xao động bên thềm thì Thảo cầm chiếc quạt nan ngồi xuống đầu chiếc ghế băng. Em nhỏ nhẹ: “Cho Thảo gác cùng anh một lúc được không?”. Thảo quạt cho mình từ đầu bên kia chiếc ghế băng, nhưng ngọn gió mát mang theo hương lá sả lá bưởi cứ ngan ngát về phía tôi. Lúng túng mãi, tôi cũng cất được lời: “Thảo không ngủ được…?” “Oi quá anh ạ! Nóng oi thế là sắp có mưa bão! Anh kể chuyện cho em nghe đi!” “Biết kể chuyện gì với Thảo được!” “Truyện Kiều mà hay vịnh cùng bố em đấy, bố em nghiện Kiều, chuyện với anh là hợp lắm đấy!”.

Quả thật, tôi mê truyện Kiều từ năm lớp bảy và thuộc gần hết. Lần ấy vào một đêm trăng sắp mọc, thấy ông Thìn ngồi thừ trước chậu hoa quỳnh chờ trăng lên, tôi đã đánh bạo đem Kiều ra nói với ông: “… Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên…”. Ông Thìn quay lại kéo tay tôi, thế là kẻ tung người hứng chẳng muốn dừng. Có hôm chủ nhật tôi đã cùng ông to nhỏ vịnh Kiều đến gà gáy.

Tôi hỏi Thảo: “Em thích đoạn nào nhất?” “Đoạn Thúy Kiều tương tư nhớ Kim Trọng được không anh?” “Nhớ rồi. Sau khi hẹn gặp nhau dưới ánh trăng sáng đẹp ngời ngời. Ánh vàng lọt vào song cửa, vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân. Kiều một mình lặng ngắm bóng trăng. Nguyễn Du đã tả: “… Người đâu gặp gỡ làm chi/ Trăm năm biết có duyên gì hay không…” “Thế chàng Kim nhớ Kiều thế nào hở anh?” “Có chứ: “… Phòng văn hơi giá như đồng/ Trúc se ngọn thỏ, tơ trùng phím loan/ Mành tương phân phất gió đàn/ Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình…”. Chiếc quạt trên tay Thảo vẫn nhè nhẹ, làn gió mát hình như gần tôi hơn. “Thế họ có thề thốt gì không anh?” “Có chứ! “… Vầng trăng vằng vặc giữa trời/ Đinh hai miệng một lời song song/ Tóc tơ căn vặn tấc lòng/ Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương…”. Thảo xin phép vào nhà, lúc quay ra tay cầm quả dưa hấu cùng con dao nhỏ. Thảo nhẹ nhàng bổ dưa hấu rồi đưa tận tay tôi. Những đám mây bay nhanh khi mờ khi tỏ, đêm đã về khuya, tiết trời dịu mát hơn. Thảo định bổ tiếp nửa dưa còn lại, tôi đã kịp ngăn lại: “Thôi em ạ, ăn thế thôi, để phần cho hai em với chứ! Để ngăn Thảo, tôi đã vô tình cầm vào tay Thảo, em đã để tay mình trong tay tôi. Trăng như ngời tỏ hơn. Cánh sóng tình yêu không biết có tự bao giờ nay bỗng như cùng một tần số bùng cháy lên những khát khao cháy bỏng yêu thương mong đợi của hai người. Ôi cái lúm đồng tiền, cả đôi môi cháy rực… Tích tắc thôi. Thảo đẩy nhẹ tôi ra, em nói trong hơi thở gấp gáp. Đừng mà anh, bố chả nói Kiều với anh: “… Gieo thoi trước chẳng giữ giàng/ Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai…”

Cái ngày xa bộ khung huấn luyện, xa những đồi sim mua đầy nắng gió, xa gia đình Thảo để vào chiến trường đã đến. Một trưa, ông bà Thìn kéo tay tôi ra ngoài hiên nhà dặn: Ở trên Phú Bình có hiệu ảnh, chủ nhật tới con cùng cái Thảo lên đó làm một kiểu để kỷ niệm. Nấn ná mãi cũng chẳng có thời gian mà đi. Bà Thìn hàng ngày vẫn gánh dưa hấu đi chợ Phú Bình bán. Trưa ấy, bà dẫn thợ ảnh về rồi giục: Con chỉnh tề quần áo ra vườn cùng cái Thảo để ông phó nháy cho đôi kiểu, con sắp đi xa rồi đấy. Thảo mặc chiếc áo nâu non, tay cầm nón, còn tôi đeo quân hàm binh nhất vừa được phong. Tôi đặt tay lên vai Thảo, cô nghiêng đầu vào kề má tôi như nhờ tôi che chở. Tách. Xong rồi. Nếu là ảnh mầu thì chắc đẹp lắm, vì đôi má em ửng hồng trong vành nón che cho cả hai mái đầu.

Ngày hành quân đi chiến đấu. Bà Thìn cùng Thảo dậy từ nửa đêm. Cả tổ ba người được bà Thìn cho vào túi cóc cả bánh chưng lẫn cam ở vườn. Tôi được Thảo đeo ba lô đưa ra tận xe của đơn vị. Lúc ngồi trên xe tôi mới giở túi cóc ra xem; hai túi cóc là hai quả cam vừa bứt còn xanh, một quyển sổ tay cùng bút rồi chiếc khăn tay thêu hai chữ Lvà T lồng nhau quấn quýt.

Cuộc chiến đấu đã đưa chúng tôi đi khắp các chiến trường. Hết làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào lại về Tây Nguyên rồi tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Tôi vẫn tranh thủ mỗi trận đánh viết thư về cho Thảo cùng gia đình và vẫn nhận được thư của Thảo trên mỗi nẻo đường hành quân. Thảo dặn: “Anh nhớ giữ gìn sức khỏe, lập nhiều chiến công. Dạo này ở quê, máy bay Mỹ bắn phá ác liệt lắm, nhất là ở Hà Nội, Hải Phòng và khu gang thép Thái Nguyên… Ngày toàn thắng sắp tới gần… Em vẫn chờ anh…”.

 

Từ tháng 2 năm 1973, tôi không nhận được thư của Thảo nữa. Hôm đánh vào Đồng Dù tôi bị thương nặng. Một đêm tôi mơ thấy Thảo bổ tiếp nửa dưa hấu đưa tận miệng cho tôi ăn. Dưới ánh trăng gieo vàng di động xuống bên thềm Thảo ngả vào lòng tôi rất lâu.

Sau năm 1975, tôi được phục viên. Vừa về nhà một tuần thì Chiến từ Thái Nguyên tới thăm tôi. Tôi đã theo Chiến về lại Phú Bình. Đường vào nhà ông Thìn vẫn quang quẻ sạch sẽ. Những dây tơ hồng vàng nõn giăng hai bên lối vào sân. Căn nhà đã được lợp lại bằng ngói đỏ. Bên hiên nhà, trên dây phơi không thấy có quần áo mắc.

Ông bà Thìn đón tôi rồi òa lên nức nở.Trên khung ảnh Thảo nép bên tôi trong vành nón che nghiêng. Tiếng ông Thìn trầm đục: “Chiến tranh mà con! Con xả thân nơi bom đạn, nay nguyên vẹn trở về đây. Thảo nó gánh dưa hấu đi chợ Phú Bình bán rồi đi gửi thư con. Nó bị trúng bom Mỹ rồi vào viện”. Tiếng bà Thìn nức nở, đứt quãng: “Lúc mê man cái Thảo gọi con mãi. Ở nhà bố mẹ vẫn nhận được thư con, nhưng không dám báo tin dữ ấy cho con vì con đang ngoài mặt trận”.

Trên khung ảnh, Thảo vẫn còn đó. Khuôn mặt vẫn như nửa vầng trăng lấp ló. Trước mặt Thảo đặt một trái dưa hấu. Tôi thắp hương vái em mà nghẹn ngào trong nước mắt. Trong khói hương thấy Thảo nhẹ nhàng đón tôi, lộng lẫy trong bộ đồ áo cưới. Bỗng như có trái bom vừa nổ sau lưng, đưa tôi và Thảo lên cao, cao mãi, lên tận những đám mây hồng xa tít tắp.

 

H.T.L

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter