• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Người đã truy điệu
Ngày xuất bản: 18/07/2018 2:41:27 SA

Truyện ngắn của Trần Cao Đàm 

   Nơi ấy, bên dòng sông Hồng, có chiếc cầu sắt đầy thương tích sau bao năm chiến tranh ác liệt. Cây cầu sứt sẹo do bom đạn còn bị nghiêng. Xung quanh nham nhở những hố bom. Những thanh ray đường sắt bị bom vặn cong nằm ngổn ngang. Mấy búi tre bị bom chém, những thân cây gẫy gập, tướp nát đang nhú chồi xanh. Người dân xóm đầu cầu ấy mới trở về, vội làm tạm vài gian nhỏ để ở. Trong những người trở về ấy có anh bộ đội, chính xác hơn là anh thương binh. Trên người anh vẫn mang bộ quân phục may bằng vải ka ki mồng 8 tháng 3, da xanh mái, cơ thể xương xương của người từng trải chiến trường, quen sương gió gian khổ. Anh tên là Sửu. Anh vồn vã tiếp chuyện mọi người đến thăm, nhưng tinh ý vẫn thấy nét buồn đau do mất mát. Anh Sửu, sinh năm con rồng, tuổi đi mây về gió. Anh lại sinh vào tháng tý, con chuột, theo tướng số là vào lớp người chui lủi được tới bất cứ chỗ nào mình muốn. Vào cuối năm 1967, là thanh niên xóm Đầu Cầu lở lói hố bom, anh chia tay đơn vị dân quân, tình nguyện nhập ngũ. Tưởng được ra chiến trường, sau ba tháng huấn luyện tân binh anh được chọn sang nước bạn, vào học trường lục quân. Chẳng biết có phải do lý lịch, sinh năm rồng, tháng tý hay không, anh được chọn vào học trinh sát. Môn học này thật xa lạ với cuộc sống chiến đấu ở quê hương mình. Môn học chính là… uống rượu. Cứ đến giờ học là cả lớp ra phố, là la cà ở các quán, vừa uống rượu, vừa nghe ngóng, thu lượm mọi chuyện. Cứ thế, không được say, cuối ngày về lớp tập trung, phải tỉnh táo, báo cáo những gì đã thu lượm được.

   Những ngày ở nhà, như bao thanh niên khác, anh mơ ước được cầm súng ra chiến trường làm nhiệm vụ của người “thanh niên ba sẵn sàng” để đất nước mau được hòa bình thống nhất. Ai ngờ, khí thế là vậy để rồi làm việc trái khoáy, đi la cà uống rượu ngược hẳn với ý nguyện của mình. Nhưng rồi, do trách nhiệm, do ý thức kỷ luật anh lại tự nhủ cứ chấp hành, biết đâu cấp trên có kế hoạch gì, do bí mật quân sự mà mình chưa biết. Dù không muốn anh vẫn cố lao vào học theo cách uống rượu.

   Anh học vào loại giỏi, nhưng giữa chừng phải bỏ dở. Rượu nhiều đã làm bụng anh bị hỏng. Bụng cứ cồn cào, nóng rát, ấm ách làm người mệt mỏi, khó chịu. Lớp cho anh đi khám. Bác sĩ kết luận anh bị viêm dạ dày, phải cấm uống rượu, không ăn uống các thứ cay nóng. Như thế, muốn chữa bệnh anh phải thôi học. Thế là anh phải rời lớp, ra trường sớm và phải ra quân. Trở về anh buồn. Còn lo căn bệnh, còn sợ không còn điều kiện thực hiện ước mơ cầm súng.

   Về lại vùng đất bom đạn nóng bỏng, anh lại tiếp tục vào dân quân trực chiến. Về địa phương anh không có điều kiện khám bệnh, chữa thuốc, bữa ăn cơm độn, mỗi tháng tem phiếu chỉ được mua vài lạng thịt, rượu là món xa xỉ nào ngờ cái bụng anh trở lại bình thường. Rồi anh lấy vợ. Đó là chuyện thường tình của các chàng trai đến tuổi. Nhưng, cưới vợ rồi, trai tráng trong vùng cứ lớp lớp sôi nổi lên đường ra tiền tuyến.

   Từ ngày trở lại quê nhà, cái “tật” đã một lần nhập ngũ do yếu sức khỏe, bị loại ngũ làm anh không mơ mộng đến chuyện tòng quân. Xã cứ hết đợt này đến đợt khác tiễn đưa thanh niên lên đường. Nào thiếu nhi đánh trống, vác khẩu hiệu. Nào hội phụ nữ, phụ lão tặng quà, căn dặn. Anh em thì hớn hở hăng hái. Nhìn người mà anh không thể không ao ước thực hiện trách nhiệm của trai thời chiến. Dòng máu tươi trẻ trong anh sôi lên. Còn tình yêu quê hương đất nước ai cũng sẵn. Rồi hằng ngày ngay trên quê mình, chỗ này bị bom, làng kia bị máy bay oanh tạc. Người đang đi gặt cũng chết vì mảnh bom. Con đò đang hiền từ qua sông bị đạn bắn chìm… Nơi đầu cầu, với bao kỷ niệm của tuổi thơ, chiếc cầu thân thương ngày ngày thằng Sửu quàng khăn đỏ cắp sách qua cầu đi học cũng bị bom làm nghiêng. Đâu đã hết, bất ngờ máy bay vẫn ào đến, vẫn ùng oàng. Bao chuyện đau lòng diễn ra hằng ngày mà mình chứng kiến, chịu đựng được ư?

   Rồi xã lại có đợt tuyển quân. Sửu chợt nghĩ đến việc làm táo bạo. Anh dấu kỹ quyết định của đơn vị, lờ cái chuyện đã một lần nhập ngũ liều thử một phen. Thực ra việc này cũng chẳng phải xấu. Nghĩ là làm. Cũng may cho anh, xóm Đầu Cầu xa các thôn khác, chuyện về anh ít người biết. Mà đất nước đang chiến tranh, mọi người đều hướng ra tiền tuyến, ít tóc mách đến chuyện riêng tư của nhau. Cũng như lần trước, anh lại trúng tuyển, lần này thì được vào Nam chiến đấu, ngày ấy còn bí mật, gọi là “đi bê” (B).

   Trong chiến tranh có nhiều chuyện bất ngờ. Có chàng trai hiền lành, củ mỉ cù mì ai cũng bảo “làm sao đi được bộ đội”, thế mà đi tuyển lại đắt, ra tiền tuyến vài năm đã là dũng sĩ, được khen thưởng. Có người ở nhà thì tật này, kém cỏi thế kia mà ra chiến trường, được rèn luyện thử thách lại lập công, còn trở thành sĩ quan… Còn ra tiền tuyến, bom đạn ác liệt, ai đi cũng xác định có sự thương vong, tháng này tháng khác vẫn có giấy báo tử về xã. Riêng với anh Sửu, nhập ngũ là đơn vị hành quân luôn. Anh ra đi là biệt tin tức, chẳng có một lá thư về. Cho mãi sau này đất nước hòa bình thống nhất anh mới có giấy báo tử về xã. Xã tổ chức truy điệu anh trọng thể. Rồi, vợ anh đi lấy chồng. Những việc làm đó diễn ra với mọi người chẳng có gì đáng chê trách. Vợ anh đã chờ hết cuộc chiến tranh, sang cả những ngày hòa bình thống nhất. Người ta còn khen Liên, vợ anh sống có tình nghĩa, có trước có sau. Người ta còn khen bố mẹ anh coi con dâu như con gái, lo lắng cho Liên “hoa nở có thì”. Chồng mới của Liên là một thương binh nặng, hoàn cảnh cũng tội nghiệp, cần được bù đắp. Việc làm này chính bố mẹ anh bàn tính, gợi ý với con dâu, rồi hội phụ nữ, đoàn thanh niên vun xới, se duyên, tổ chức cưới theo đời sống mới, hát hò là chính…

   Điều trớ trêu có vẻ nghiêng về Sửu. Một người đã có giấy báo tử, mọi người đã truy điệu bỗng lù lù trở về, làm cả xã xôn xao. Hỏi ra mới biết, trong trận đó Sửu chỉ bị thương nặng. Mà ở chiến trường đâu có tôn ti trật tự, xác địch, thi thể chiến sĩ ta chưa kịp thu chuyển đi, còn nằm lẫn lộn. Mà xác địch thì nhiều, đơn vị sau lên tới, qua quân trang mặc trên người, nhận ra đồng đội còn sống đã băng bó, chuyển về tuyến sau chữa trị. Khi đơn vị Sửu đuổi được địch, đánh thắng, kiểm lại thấy thiếu người, quay lại tìm, nơi diễn ra trận đánh đã bị máy bay địch đánh tan tác phi tang. Tất cả chỉ còn là bãi đất bom đạn cày bới, nhôm nhoam lửa khói na pan. Dù không thấy xác, đơn vị vẫn buộc báo tử về địa phương để gia đình anh được hưởng chính sách.

   Chuyện tất cả còn hằn sâu trong đầu Sửu. Sau nhiều tháng điều trị mới lành vết thương, anh còn được đi điều dưỡng. Anh cũng nhớ, cũng thương, nhất là người vợ trẻ. Có lúc anh đã lấy giấy, bút định viết thư gửi về nhà, rồi lại cất đi. Anh định cứ bí mật để lúc về, xuất hiện làm cả nhà, cả xóm cùng đột ngột, mừng vui tột đỉnh. Nào ngờ, ý định thì tốt mà anh đã gây ra hậu quả ghê gớm. Thấy anh về, bố mẹ anh chết lặng. Còn Liên nghe tin anh về, chạy vội sang, cứ lăn ra khóc, gào trời, gọi đất. Biết được chuyện, anh cũng đau đớn ghê gớm, chẳng kém lúc bị thương ở chiến trường. Còn Biên, người được thương, được bù đắp bỗng thành nạn nhân, choáng váng, như phát cuồng. Anh kịp chắp tay vái lậy Sửu, nói lạc cả giọng:

   - Xin anh ở lại… Tôi sẽ ra đi… Trả hạnh phúc lại cho anh …

   Sửu lúc này cũng thật bất ngờ, lúng túng, giày vò, chỉ kịp gọi “Biên”. Mà lúc này, Biên còn chú ý gì đến lời gọi. Anh như người chạy trốn, trối bỏ. Sửu gặp bước đường cùng cũng quay gót ra đi. Anh đi lang thang cho tối ngày, vẫn lang thang. Anh bước đi trong vô định. Đi suốt ngày đến đêm. Đêm khuya, thanh vắng, bình tĩnh lại phần nào anh thấy cô đơn. Anh nghĩ đến bố mẹ già. Anh hiểu được phần nào cảnh già cả, yếu đau, mà từng giờ mong nhớ, ngong ngóng trông tin con. Lúc này, đất nước đã hòa bình, thống nhất, người người trở về, anh cũng đã trở về, lẽ nào còn để cha mẹ anh đau đớn vì con? Nghĩ đến đây anh quay lại nhà. Anh lại gặp cảnh buồn đau. Trong buồng, tiếng mẹ anh thút thít. Còn Liên vẫn khóc, vẫn than, khản cả giọng. Rồi nghĩ đến Biên, anh lại ra đi. Lúc này, có lẽ anh phải quay lại với rượu. Anh sẽ uống như chưa hề uống tới mức ấy, uống cho đời đi đến đâu cũng thây kệ. Uống cho quên đời. Uống cho thật say, cho chìm đi trong mê man, cho qua đi những thời gian buồn đau, bực bội, mất mát. Uống cho đến ngày mai. Không, uống cho đến tháng sau, năm sau. Sẵn tiền đơn vị giải quyết chính sách, anh gọi cửa quán. Anh uống. Cầm cả chai tu. Uống như tuôn dế. Cũng lạ, lâu ngày không uống rượu mà anh uống vào người cứ tỉnh táo ra. Rồi anh còn gặp Biên. Đầu tóc rũ rượi, Biên lầm lũi bước vào quán. Biên thẳng bước lại, chủ động gặp anh. Thật hiếm thấy ở đời có người tình địch nào lại đến với nhau như vậy. Biên cầm tay anh, khẽ lắc lắc, như xin, như nhận lỗi cả về mình:

   - Tôi có lỗi với anh!… Tôi sai thì xin sửa…

   Giọng Biên đến thật thà, đau khổ tột cùng. Sửu ngờ ngợ, cảm như Biên có cách gì giải quyết? Hóa ra vẫn là cách cũ:

   - Anh là người phải ở lại… Liên của anh trước… Hai người thực sự yêu thương nhau…

   Biên như nghẹn trong họng, ngồi lặng đi. Rồi Biên lại đột ngột lên tiếng:

   - Chẳng qua chỉ tại chiến tranh… Tôi, anh, cả Liên, cả mọi người đều không có tội lỗi gì… Gặp đau thương thì cùng nhau chia chịu, cùng gánh vác, mỗi người một ít, rồi sẽ qua. Chúng ta đều phải sống, cần sống, sống cho ra sống, vì ta là người chiến thắng, ta phải sống vì phẩm giá, vì đất nước này…

   Sửu nhìn Biên không chớp mắt, từ lạ lùng, đến thông hiểu, nhưng cũng thấy cần giữ mình. Chợt Biên cầm lấy hai tay Sửu, nhìn thẳng vào mặt Sửu, như thăm dò, như dồn hỏi, như thôi thúc, làm Sửu lúng túng, lúng túng đến khổ sở… Anh cũng biết, mối tình của mình là do sự vun đắp, đâu có tình yêu thương sâu nặng như Sửu…

   Họ đến với nhau như vậy. Họ ở bên nhau như vậy. Rồi Biên đứng dạy, ra đi. Còn Sửu cứ ngồi lặng người. Anh cảm như mình bắt đầu vào cuộc chiến đấu mới, cũng ác liệt, mà đơn độc chiến đấu.

T.C.Đ

  

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter