• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Mệnh lệnh của lương tâm
Ngày xuất bản: 24/12/2018 2:04:49 SA

Ký của Hoàng Việt Quân

Biết Đại úy- Cựu chiến binh Đào Xuân Thái luôn sống nghĩa tình, có tấm lòng tri ân với đồng chí, đồng đội, tôi tìm đến tổ 34, đường Nguyễn Du, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái hỏi chuyện ông. Ông vui vẻ tiếp đón, trò chuyện. Thật ngạc nhiên khi biết ông vào tuổi 88 vẫn minh mẫn nhớ bao chuyện của thế kỷ trước.

Ông nói từ thuở ấu thơ, ông thường được mẹ dạy “Thương người như thể thương thân” theo đạo lý của dân tộc. Mẹ ông còn theo đạo Phật, thường nói

"Cứu một người phúc đẳng hà sa”. Cha mẹ ông có nghề làm lò gạch, cuộc sống gia đình một thời có của ăn của để, cha mẹ cũng hay giúp đỡ, cưu mang người nghèo. Năm 1943, lúc ông ở tuổi 14, được cha cho đi theo phục vụ ông Hà Ngọc Dậu làm nghề thầy bói, thực chất là cán bộ cách mạng đang hoạt động bí mật ở vùng trung du và miền núi phái Bắc. Ông Dậu cũng luôn khuyên bảo cậu bé Thái nên làm những việc thiện và dần dần giác ngộ cho cậu bé hiểu về Việt Minh, đi theo Việt Minh. Ông Dậu còn giúp cậu bé Thái sang học chữ quốc ngữ bên thị xã Yên Bái do đồng chí Nguyễn Hữu Minh (tức Minh Đăng) dạy và trở thành liên lạc cho ông Minh Đăng. Nạn đói năm 1945 khiến cho bao người nông dân Nam Định, Thái Bình phiêu dạt lên miền núi, nhiều người chui vào các bầu lò gạch sinh sống ở dọc đường Giới Phiên- Hợp Minh, chết đói. Vốn có lòng thương người, chính tay cậu bé Thái cùng bố đã lấy cuốc xẻng đào hố, chôn cất mộ cho 9 người, trong lòng cảm thấy thanh thản, càng ngộ ra những lời khuyên bảo làm việc thiện của cha mẹ và ông Dậu. Có lẽ tính thiện đã tích sẵn trong lòng ông từ thuở ấu thơ mà sau này trong những ngày hoạt động cách mạng và tham gia quân ngũ, ông luôn thương yêu đồng đội, hết mình tri ân với những người đã hy sinh vì dân vì nước.

Ông kể:

- Ngày 17/8/1945, tôi ở phân đội anh Long đánh nhau với quân đội Nhật ở thị xã Yên Bái. Đang lúc tấn công, tôi thoáng thấy anh Hà Mạnh Thắng đánh giặc ở Tòa sứ bị Nhật bắn chết, trong tay vẫn khư khư ôm giữ khẩu súng dựa vào tường Sở lục lộ. Thương anh quá, chẳng biết làm thế nào, chỉ biết báo cho lực lượng tự vệ, trong đó có anh Trương Cát, anh Hồng Hà vào lấy súng và đưa thi thể anh đi chôn cất. Sau khi thắng giặc, buộc chúng đầu hàng, tôi trở về hỏi thì những người ở Sở lục lộ nói đã chôn cất anh ở cây nhội Sở lục lộ. Tôi không an tâm tìm đến xem, hóa ra việc chôn cất rất sơ sài, chỉ vùi đất bùn lên. Tôi bèn đào lại hố chôn cất anh tử tế và báo cáo cho ông Nguyễn Phúc biết. Sau này ông Phúc bị bọn Việt Nam Quốc dân đảng bắt, thủ tiêu năm 1946, tôi đi chiến đấu ở xa, tôi vẫn canh cánh trong lòng không biết anh Thắng đã được đưa vào nghĩa trang liệt sĩ hay chưa? Hòa bình có dịp trở lại, tìm đến nơi chôn cất anh, tôi đã thấy bà con xây dựng nhà cửa san sát. Hỏi dân, dân bảo chỉ có hai hài cốt: một người có tuổi và một đứa trẻ con. Vậy là không phải. Tôi liền tìm về nhà thân nhân anh Thắng hỏi, họ bảo chưa tìm thấy hài cốt anh. Anh vẫn nằm đâu đó, đến nay tôi vẫn luôn băn khoăn, day dứt, như thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm với đồng đội, đồng chí của mình.

Kể đến đây, khuôn mặt ông Thái bỗng trầm hẳn, giọng rưng rưng:

- Tôi luôn nghĩ, các liệt sĩ đã vì mình, vì đồng đội, vì Tổ quốc mà hy sinh nên không thể quên họ. Tôi tự nhủ, dù khó khăn vất vả đến mấy, tôi sẵn sàng cùng anh em đi tìm mộ đồng đội, giúp các gia đình liệt sĩ, thương binh được hưởng chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước, không để cho ai bị thiệt thòi.

Quả vậy! Suốt một đời quân ngũ, ông đã chứng kiến biết bao cán bộ, chiến sĩ chiến đấu dũng cảm và hy sinh cao đẹp. Gần đây, sau những lần đào bới tìm kiếm thi hài liệt sĩ chống Pháp ở Mỵ, Thanh Bồng, Đại Lịch, ông vẫn nhớ như in những đơn vị đánh giặc và gương mặt một số liệt sĩ. Chẳng hạn: khi ta đào được 7 mộ ở Ca Vịnh, ông kể lại cho mọi người biết đây là đơn vị thuộc Tiểu đoàn anh Huyền Tràng, cháu của ông Nguyễn Thái Học, sau là Cục phó Cục tác chiến của Tổng cục tham mưu, để từ đó có cơ sở xác định danh tính các liệt sĩ. Riêng đơn vị ông có 2 người hy sinh ở Khe Lường là Nguyễn Văn Khánh và Hà Văn Ơn. Ông đã trực tiếp chôn cất cho họ và có dịp tìm đến xã Việt Cường báo tin cho gia đình anh Khánh, nhờ đó gia đình đã vào bốc mộ cho anh Khánh. Nằm lại Khe Lường còn anh Hà Văn Ơn. Mãi đến năm 2016, ông mới có dịp bảo cháu lai xe máy đưa ông vào Khe Lường, hỏi dân thì được biết hài cốt anh Ơn đã được đưa về nghĩa trang Đại Lịch, bấy giờ ông mới yên tâm.

Năm 1953 khi ông làm Chính trị viên phó Đại đội Mường Khương thuộc Huyện đội Muờng Khương (Lào Cai), tháng 11 ông đưa 4 đợt quân chi viện cho Sa Pa. Đợt 4 đến cầu Móng Sến gặp phỉ, ông tổ chức đánh phỉ vượt vòng vây, hôm sau giao quân đúng hẹn cho Đại đội 961 ở Sa Pa, rồi cùng chiến sĩ Phúc trở về, tới cầu Móng Sến lại bị phỉ phục kích. Ông nhìn thấy một vệt lửa xanh vọt ra trong đêm tối, vội vàng nằm ngay xuống, còn anh Phúc không kịp tránh đạn, hy sinh ngay. Ông bắn trả bọn chúng, nhanh chóng vác anh Phúc ra khỏi khu vực giặc phục kích khoảng 300- 400 mét. Biết mình sức yếu, bọn phỉ còn đông, ông đành đặt thi thể anh Phúc bên lề đường, trong lùm cây rồi luồn rừng về đơn vị báo cáo, hôm sau Tỉnh đội cho bộ đội lên đưa xác anh Phúc về.

Lại có chuyện hai người lính nhà ở phố Hồng Nam (thị xã Yên Bái) đi chiến dịch đánh Pháp bị hy sinh ở hai nơi: một người hy sinh ở Than Uyên, một người hy sinh ở Đèo Khế. Đơn vị cử anh Nghi lên chôn cất liệt sĩ ở Than Uyên, còn ông Thái trực tiếp chôn cất cho liệt sĩ ở Đèo Khế. Người chiến sĩ hy sinh ở Than Uyên còn trẻ, có một đứa con gái mới 3 tuổi. Anh Nghi có con trai khoảng 7- 8 tuổi. Chẳng may chuyến đi ấy, anh Nghi vào đến tận khe suối ở Than Uyên, nơi người chiến sĩ hy sinh thì cũng tử nạn. Khi đứa con trai lớn lên, được sự giúp đỡ của ông đã tìm được mộ bố và người chiến sĩ kia, đưa về chôn cất ở nghĩa trang. Cô con gái của người chiến sĩ lâm trận lớn lên học hết cấp ba, vào sư phạm, tình nguyện lên dạy học ở Than Uyên, lấy chồng lại đúng là chàng trai đã chôn cất bố mình. Khi kể chuyện này, ông Thái tỏ ra khá vui, lên tiếng:

- Thật thú vị! Cứ như trời se duyên, chắp nối cho họ lấy nhau.

Còn người chiến sĩ hy sinh trên Đèo Khế, ông Thái nhớ rất rõ tên anh là Ngọ, Đại đội phó Đại đội 96 của Tỉnh đội Lào Cai. Một hôm, ông nghe trên Đài thấy gia đình anh Ngọ nhắn tin tìm mộ liệt sĩ, ông mới biết mộ anh chưa được quy tập. Ồng liền liên lạc với gia đình anh Ngọ, vận động anh em cựu chiến binh quyên góp tiền, giúp gia đình anh Ngọ cùng ông lên Đèo Khế tìm được mộ, đưa về an táng tại Hải Phòng, nơi các con anh đang sinh sống và công tác.

Năm 1954, Đai đội anh Tính thuộc Tỉnh đội Yên Bái tiến vào đánh phỉ ở Suối Thần, Sa Pa (tỉnh Lào Cai), hy sinh 5 người, để lại 5 tử thi ở Suối Thần. Nghe tin, lúc đó ông Thái đang làm Chính trị viên Đại đội Bảo Thắng, bèn trực tiếp tổ chức cho anh em lên ngay Suối Thần thu lượm thi hài các liệt sĩ. Ngày đó đang giữa mùa hè nắng nóng, thi thể các liệt sĩ đã nặng mùi. Ông Thái bảo mọi người lên rừng chặt những cây mai, cây vầu về làm nẹp dài, lấy ni lông bện cuốn anh em liệt sĩ cẩn thận, rồi ông không ngần ngại cùng anh em khiêng vác họ đem đi chôn cất ở Suối Bo. Năm 2015, ông lên Huyện đội Bảo Thắng gặp anh Dẻn (phụ trách Huyện đội) hỏi lại, anh Dẻn cho biết đã đưa phần mộ các anh vào nghĩa trang liệt sĩ của huyện.

Cũng thời gian ấy, đơn vị anh Kích bị phỉ phục kích ở Nậm Ngấn, hy sinh một chiến sĩ, anh em đem đi chôn bên bờ suối. Sau này, ông Thái lên Nậm Ngấn (Sa Pa) hỏi anh Dẻn thì được biết: dân đi lấy nước suối thấy bộ xương của người chiến sĩ đó bị trôi, dân vớt về chôn, Huyện đội đã đưa hài cốt anh về nghĩa trang.

Một lần quy tập mộ liệt sĩ, có 5 ngôi mộ không rõ tên tuổi, Tỉnh đội hỏi ông Thái. Ông bảo còn nhớ ngôi mộ số 5 là mộ anh Nguyễn Văn Hiệp, người Lan Đình, huyện Trấn Yên (Yên Bái), bởi anh đã từng là Tiểu đội trưởng ờ đơn vị cũ của ông, còn 4 liệt sĩ kia ông không biết. Chỉ việc ấy thôi cũng khiến ông băn khoăn, suy nghĩ, mong làm sao trả lại được danh tính cho họ.

Thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ông Đào Xuân Thái được giao chức trách Chính trị viên Tiểu đoàn công binh thuộc mặt trận Quân khu 5 (1966- 1968), Chính trị viên tiểu đoàn 1 (Phay Khắt- Nà Ngần) thuộc Trung đoàn 246, chiến đấu trên mặt trận Đường 9 Quảng Trị- Thừa Thiên Huế (1968- 1970). Đây là thời kỳ cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Đơn vị ông đánh giặc ở nhiều nơi lúc ở Đồi Không tên, lúc ở địa điểm 300 Đấu, 300 Đá, Động Tiên, Động Long, Động Nóc, Động Cô Ha, Động Khỉ trong mùa xuân Mậu Thân 1968 rồi đánh giặc ở Làng Vây, Hướng Hóa, Tà Cơn, Đường 9, Đường 12, Xa Lát Xa Mùa giáp Lào. Từ khi bước vào chiến trường đến khi.ra, đơn vị ông hy sinh 156 người. Ông nói:

- Biết trước vào chiến trường sẽ không tránh khỏi có người hy sinh nên chúng tôi căn dặn anh em chuẩn bị khá kỹ: Ghi tên mình ở nắp túi áo, ở giầy dép, hoặc khắc tên trong một tấm đuya ra bỏ trong túi áo, bỏ trong một cái lọ thuốc, cài trong quần, đến cả trong võng, bạt cũng ghi tên để khi hy sinh, người ta còn biết thi hài mình là ai. Chúng tôi quyết tâm chiến đấu, chiến thắng, quyết tâm không để mất xác đồng đội. Vì vậy, số người hy sinh đưa về nơi tập kết hầu hết đều được đưa về nghĩa trang đầy đủ. Còn số người chưa kịp đưa về nơi tập kết, chúng tôi đều tổ chức cho anh em đi tìm, trong đó có 3 đợt không tìm thấy, bởi đã mất xác, mỗi đợt có khoảng 9 đến 13 người. Đó là nỗi đau mà không một ai muốn.

Ông còn kể:

- Đơn vị anh Tạ Tráng Ấp chết 5 người, bị giặc bắt 2 người, chúng tôi cử một bộ phận, chọn toàn những cán bộ gan dạ dưới sự chỉ huy của một đồng chí Trung úy- Chính trị viên Đại đội vào trận địa tìm cho được các chiến sĩ hy sinh, chôn cất cho họ chu đáo. Có một đồng chí bị thương, lạc trong rừng, đến sông Bến Hải thì hy sinh. Chúng tôi cho người đi tìm mãi không thấy, khi phát hiện ra thì xác anh ấy đã thối rữa. Mấy anh em chiến sĩ trẻ nghĩ đơn giản, đem xẻng xúc xác anh vào ni lông. Thấy thế, tôi rất thương tâm, bèn bắt dừng tay lại, chỉ đạo họ không được làm như thế, mà phải chặt cây làm cáng khiêng lên rừng chôn cất tử tế. Từ đó, anh em mỗi khi đi lấy xác đồng đội đều làm như lời tôi khuyên bảo.

Trở về Bắc, ông phụ trách một số công việc ở Quân khu Việt Bắc, rồi làm Thị đội Trưởng thị xã Yên Bái từ năm 1975 đến khi nghỉ hưu tháng 12/1976, có công góp sức xây dựng Hội cựu chiến binh phường Hồng Hà từ năm 1987 do ông làm Chủ tịch. Đây là thời gian ông có nhiều trăn trở đối với các liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt và những người có công với cách mạng, những thân nhân liêt sĩ chưa được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước. Ông nói:

-    Tôi thường viết thư cho anh em bị thương, gia đình liệt sĩ để hỏi thăm họ đã được hường chế độ, chính sách chưa? Hoặc viết thư cho đồng đội cũ để từ đó bắc cầu sang nhau thăm hỏi tin tức, cuộc sống của họ. Tôi đã trở lại chiến trường xưa tìm lại được mộ cho 36 người. Còn một số anh em khác chưa có điều kiện đến được, tôi lập danh sách và địa chỉ mộ táng gửi cho Quân khu 4, đề nghị họ quy tập hộ. Với anh em cựu chiến binh, tôi luôn tuyên truyền, xây dựng cho anh em có ý thức "ăn quả nhớ người trồng cây", không được quên đồng đội.

Những suy nghĩ và việc làm của ông thật đáng trân trọng. Những cán bộ tiền khởi nghĩa, lão thành cách mạng đến nay không còn mấy, nhưng nhà ông vẫn là nơi họ lui tới hội họp bàn bạc, xác minh, chứng thực cho những ngươi có công với cách mạng, những gia đình liệt sĩ trước, trong và sau Cách mạng tháng 8/1945, để các cấp có thẩm quyền làm chế độ, chính sách cho họ. Đó là việc quan tâm đến gia đình ông Ngũ Bò. Đó là việc xác minh, đề nghị cho gia đình ông Nguyễn Văn Hợi có 3 người được hưởng chế độ chính sách: Đề nghị cho ông Hợi được hưởng chế độ cán bộ tiền khởi nghĩa, 2 con trai của ông là Nguyễn Văn Giáp và Nguyễn Văn Chung (tức Mậu) là liệt sĩ. Đây là công việc khó khăn, phức tạp, bởi một thời Bảng vàng danh dự do Viện Huân chương làm mà danh hiệu liệt sĩ, từ trần do Bộ thương binh làm. Viện Huân chương do cụ Ngô Đức Đệ là Viện trưởng lại quan niệm tử sĩ cũng là liệt sĩ nên trên Bảng vàng danh dự viết cho hai anh Giáp và Chung đều ghi là "tử sĩ". Do đó, khi cô con dâu duy nhất còn lại là Nguyễn Thị Vang làm đơn đề nghị xin giải quyết chính sách cho cha chồng (cụ Hợi) được hưởng chế độ cán bộ tiền khởi nghĩa và các anh Giáp, anh Chung được hưởng chế độ liệt sĩ theo Nghị định 28, Chỉ thị 27, Nghị định 59 Chính phủ thì gặp khá nhiều khó khăn, rắc rối, mặc dù có sự xác minh của các cụ Lê Đức, Chương Cát, Bái Thân, Thanh Phong, Cao Hiên và những cán bộ, chiến sĩ cùng đơn vị với anh Giáp, anh Chung. Trước tình hình đó, ông Đào Xuân Thái và các cán bộ tiền khởi nghĩa Phạm Văn Quán, An Văn Trọng, Phạm Văn Tuyên, Cao Văn Hiên... tiếp tục kiên trì xác nhận, đề nghị làm chính sách cho họ. Từ ngày 20/5/2002 đến ngày 1/9/2004, ông Đào Xuân Thái đã 21 lần giúp đỡ cô Vang lo liệu việc xác nhận hồ sơ, về Lào Cai gặp đồng đội cũ, lên Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trích lục sao lại danh hiệu liệt sĩ cho các anh. Bằng những nghĩa cử như vậy, gia đình ông Hợi đã đủ chứng cứ được hưởng chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước.

Để chứng minh việc làm của mình, ông Đào Xuân Thái còn lấy cho tôi xem bộ hồ sơ của gia đình ông Hợi, trong đó có cả đơn của cô Vang, gỉấy chứng thực của các cán bộ tiền khởi nghĩa, đơn vị anh Giáp, anh Chung và nhiều chứng từ khác, Bảng vàng danh dự, Bằng Tổ quốc ghi công... Đặc biệt còn có một bản viết tay của ông ghi lại 21 lần làm việc giúp gia đình ông Hợi trong suốt hơn 2 năm trời ròng rã. Ông ghi rõ ngày, tháng, năm, làm việc gì, gặp ai, đi đến đâu, kết quả ra sao, giống như một bản nhật ký tường trình quá trình làm công việc tri ân, "đền ơn đáp nghĩa”. Ông quả là một con người cẩn thận, chu đáo và tâm huyết, thật khó có ai làm được như thế.    

Gần đây nhất, khi biết gia đình liệt sĩ Nguyễn Công Định có nguyện vọng tha thiết tìm lại mộ anh, ông Đào Xuân Thái lại là người chỉ huy trực tiếp chôn cất liệt sĩ Nguyễn Công Định trên chiến trường đồi Con Vịt ở chân cao điểm 425, Bắc Đường 9, ông sẵn sàng nhận lời lên đường ngay. Thật cảm phục khi bước vào tuổi 84 tóc bạc trắng mà ông vẫn không quản ngại đường xá vất vả, đi cùng nhà thơ Ngọc Bái vượt qua ngót ngàn cây số tìm đồng đội trong tháng 5/2012. Cuộc tìm kiếm sau 43 năm không đơn giản chút nào. Đi xe, rồi đi bộ, leo đèo lội suối như một cuộc hành quân năm xưa. Nhà thơ Ngọc Bái trong bài ký "Tìm đồng đội ở chiến trường xưa không dễ" có kể lại hình ảnh ông thật cảm động: "Ông Đào Xuân Thái đi đường nhẩm đếm phải qua 13 đoạn suối và khe, có chỗ nước sâu ngang ngực và chừng ấy đoạn đèo mới đến được chân cao điểm 425. Trông ông Thái chống gậy lội suối, leo dốc, cực nhọc chẳng khác gì xưa hành quân, lắm lúc thấy ông mệt, mọi người bảo nhau dừng lại chờ". Ông còn trả lời nhà báo Tân Lâm rằng: "Các liệt sĩ hy sinh vì đất nước nhưng cũng vì chính cuộc sống của tôi. Tôi nhớ ơn họ và cũng là mệnh lệnh của lương tâm. Để thấy chúng tôi không bội bạc". Ông kể: "Địa bàn này đơn vị tôi tác chiến 117 trận lớn nhỏ, có trận thắng và có cả những trận hy sinh quá lớn". Ông thấy tự hào về họ và không thể không đến đây tìm họ. Chuyến đi ấy không chỉ đưa được hài cốt liệt sĩ Nguyễn Công Định về, mà ông còn giúp cho Quân khu 4 có được địa chỉ tiếp tục tìm kiếm, quy tập hài cốt các liệt sĩ khác.

Bay giờ, mỗi khi đồng đội cũ đến nhà thăm ông, ai nấy đều muốn lên tầng hai thắp hương cho hai bàn thờ: một bàn thờ tổ tiên và một bàn thờ Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Nguyễn Phúc và anh em đồng đội đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Ông nói:

- Tôi lập thêm bàn thờ thứ hai nàytừ năm 1980. Thờ Bác Hồ, Bác Giáp thì đã rõ rồi. Còn thờ ông Nguyễn Phúc không chỉ vì ông là Phó Chủ tịch tỉnh Yên Bái đầu tiên bị giặc thủ tiêu, mà ông còn hoạt động cùng tôi, cùng bị giặc bắt. Như có linh tính báo trước, ông bảo tôi: ”Nếu tôi có mệnh hệ gì thì anh nhớ thắp cho tôi một nén hương”. Ngoài ra, tôi thờ anh em đồng đội đã hy sinh, vì họ là anh em thân thiết, sống chết bên nhau trên các chiến trường, không thể quên họ được. Với bàn thờ này, cứ hai năm tôi làm cầu siêu tại nhà, có anh em đồng đội ở Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Cao Bằng... đều kéo nhau về dự đông đủ. Còn các năm khác tôi làm lễ cầu siêu ở chùa Hợp Minh, coi như năm nào tôi cũng làm lễ cầu siêu cho họ.

Có lẽ không có gì đẻ nói hơn nữa. Chỉ những suy nghĩ và việc làm của ông, ta cũng đã thấy tấm lòng tận tụy tri ân của ông đối với đồng chí, đồng đội. Đó là một trong những phẩm chất cao quý của anh ”bộ đội Cụ Hồ” vẫn tỏa sáng trong ông.

 

 

H.V.Q

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter