• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Mộng Mị Mạ
Ngày xuất bản: 21/12/2018 12:50:11 CH

Truyện ngắn của Thúy Hợp

Sau hai ngày bà mối đến nói chuyện, bà ngoại tôi vẫn phân vân chưa biết nói thế nào với con gái, vì nó còn đang tuổi “Ăn chưa no, lo chưa tới”. Mà nghe đâu anh ta lại đi bộ đội, đóng quân ở tận đẩu, tận đâu, lấy ai dìu dắt nó. 3 ngày sau, bà mối dắt một chàng thanh niên mặc quần áo bộ đội, chân đi đôi dép cao su bốn quai, đầu đội mũ sao vàng chỉnh tề đến nhà bà ngoại.

Bà mối nói với bà ngoại:

- Thằng Chỉ phải đi đuổi thằng Tây ở xa lắm. Nếu gia đình đồng ý thì cho chúng nó gặp nhau rồi chúng tôi xin cưới luôn.

Mẹ tôi ở trong buồng đựng lúa ngay chân cầu thang, nghe nói đến cưới bỗng giật thót tim. Mẹ ghé mắt qua khe cửa nhìn từ đầu đến chân anh bộ đội ngồi trước mặt bà ngoại. Bỗng hai má mẹ ửng hồng, hai tai mẹ nóng ran, trái tim mẹ thổn thức. Bà ngoại gọi mẹ:

- Mơ! Mơ ơi?

Mẹ tôi rón rén từng bước một đi vào chào khách. Bà ngoại ngước nhìn mẹ. Mẹ tôi bối rối rót nước mời khách, đôi má mẹ đỏ như bôi son.

Bà ngoại lại nhắc cho mẹ biết:

- Bà mối đưa anh Chỉ sang nhà hỏi con về làm dâu con bên nhà, ý con thế nào?

Đôi má mẹ ửng hồng cúi xuống, hai bàn tay níu chặt vai áo bà ngoại, đôi mắt liếc sang anh bộ đội thì thầm:

- Thế nào cũng được mẹ ạ!

Cả bà mối và bà ngoại tôi cười ồ lên, chỉ có anh bộ đội và mẹ tôi xấu hổ đỏ mặt. Thế rồi chỉ vài ngày sau xóm núi chúng tôi đón cô dâu người Dao, còn chú rể người Tày. Cả làng ai cũng khen bố mẹ tôi đẹp đôi. Mẹ thẹn thùng sánh bước bên bố sau dãy núi về nhà chồng trong ánh nắng mùa thu se lạnh. Nụ cười nở trên môi mẹ, hạnh phúc tràn đầy trái tim bố. Họ tan vào nhau, hạnh phúc vô bờ.

Mấy ngày phép của bố trôi thật nhanh. Sau 15 ngày phép bố phải về đơn vị. Hai người bịn rịn chia tay giữa cái nắng nhạt của miền rừng sơn cước. Nước mắt mẹ vòng quanh. Vẫn bộ quần áo mới còn thơm mùi chàm, đôi vòng bạc bà ngoại sắm cho mẹ để bằng chị, bằng em trong ngày mẹ về nhà chồng, hôm nay tiễn bố lên đường ra trận, mẹ mặc nguyên bộ quần áo ngày ấy để sau này chiến thắng bố nhớ đường về bản.

Nắng mùa thu vừa tan, mẹ bâng khuâng lê bước về nhà. Bà nội đã thắt bao dao vào lưng, đuổi trâu ra. Bà nội gọi mẹ nói:

- Con dâu hôm nay ở nhà nghỉ ngơi đã, đừng buồn nữa. Nó đuổi hết Tây rồi nó về thôi mà.

Mẹ tôi lau dòng nước mắt còn vương trên gò má, thẹn thùng nói với mẹ chồng:

- Mẹ để con chăn trâu cho mẹ.

Bà nội mảnh mai, nhưng còn nhanh nhẹn, bà bảo với mẹ tôi:

- Con mới về làm dâu, chưa biết thung thổ hàng ngày con trâu, con bò nó ăn ở đâu nên con cứ ở nhà, làm việc nhà cho quen đã.

Nói rôi bà nội tôi đuổi con trâu lên núi, rồi lại quay về nương sau nhà lùa mấy con bò lên ăn cùng.

Ruộng lúa, bờ mương mẹ tôi đã từng làm quen từ khi còn nhỏ, nên cũng không có gì làm mẹ bỡ ngỡ. Những ngày mới chân ướt, chân ráo về nhà chồng mẹ tôi chẳng được vui, hết việc đồng áng lại đến việc nhà. Rồi đến ngày cái bụng mẹ mỗi ngày một to ra, cơm mẹ chẳng muốn ăn. Bà nội bảo mẹ:

- Con dâu có tin vui rồi. Mẹ mừng lắm nhưng mẹ không được học nhiều chỉ biết đọc, biết viết được vài chữ, làm thế nào mà viết thư báo cho chồng con bây giờ?

Mẹ tặc lưỡi:

- Thôi đành chờ bao giờ anh Chỉ đuổi hết Tây rồi về, chứ biết ai đến đơn vị anh ấy đóng quân mà nhắn cho anh ấy biết tin vui hả mẹ.

Thời gian cứ thế trôi đi. Qua những ngày nghén ốm, mặt mũi tái xanh, bụng mẹ to dần, niềm vui của mẹ nhân lên. Mẹ càng phải làm việc nhiều hơn để có lúa thóc trong nhà. Mẹ nuôi thật nhiều gà để sau này nó đẻ trứng, vừa cho mẹ, vừa để dành cho những đứa con đang nằm trong bụng mẹ lúc chào đời.

Việc đồng áng, nhà cửa, con trâu, con bò giúp mẹ nguôi dần nỗi nhớ. Bà nội thương mẹ chỉ biết nhìn ra ngõ. Những chiếc lá vàng bắt đầu rơi thưa thớt, những chùm hoa cuối mùa rụng cánh. Dòng suối cứ lặng lẽ trôi. Bước chân bố tôi còn hằn in trong tâm trí bà nội.

Đủ chín tháng, mười ngày, mẹ tôi bảo bà nội:

- Mẹ ơi! Hôm nay con thấy người lạ lắm, đau bụng từng cơn, hai chân mỏi nhừ.

Bà nội rối rít bảo mẹ:

- Con sắp sinh rồi đấy!

Mẹ tôi ôm bọc quần áo chạy ra Trạm xá xã. Mới được vài bước, mẹ đã ngồi thụp xuống, cởi quần bò lê, bò càng ra đường cái lớn kêu thất thanh:

- Ai ơi, cứu! Hàng xóm láng giềng cứu tôi….

Cả xóm núi đổ xô ra đường cái lớn. Mẹ tôi lấy quần đắp lên bụng, nằm tô hô ở ven đường. Cả xóm, đàn ông, đàn bà, người đỡ cái nọ, người giúp cái kia, rồi mọi người kêu ồ lên:

- Hai đứa bé, bà con ơi!

Một cụ ông trong xóm sốt ruột chống gậy ra nói với mọi người:

- Mỗi người một chân, một tay giúp nó mẹ tròn con vuông.

Cụ lại nói tiếp:

- Nó là vợ bộ đội đấy!

Cụ lại gật gù:

- Mẹ con nó khoẻ đấy nhỉ?

Mọi người đón chị em tôi về nhà băng rốn, vệ sinh, còn mẹ tôi chưa về được, rau chưa ra, ai cũng lo lắng. Cũng may có bác nông dân xóm trên ở ruộng lên, thấy vậy vội vàng rửa tay, sắn áo, vuốt nhẹ lên bụng mẹ. Chỉ bằng hai ngón tay bác làm mẹ đau nhói lên một cái, thế là một phút sau nhau thai theo tay bác nông dân ra luôn.

Thế rồi cả xóm, mỗi người một tay đưa mẹ về nhà. Bà nội nhìn ba mẹ con tôi vẻ bằng lòng:

- Nhà tôi thật là có phúc. Con dâu đẻ hai đứa con, mà chẳng phải lên Trạm xá, cũng chẳng phải phiền đến bác sĩ nào cả. May thật đấy!

Hai chị em tôi theo dòng sữa mẹ lớn lên dần. Bà nội tôi đã già, không giúp gì được cho mẹ nữa. Con trâu, con bò phải bán đi một phần để lo thuốc thang chạy chữa cho bà nội. Dù biết “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, không có trâu lấy gì mà cày cấy nhưng mẹ vẫn bảo: Nước đến đâu, bắc cầu đến đấy.

Mỗi ngày bà tôi cứ nhìn ra đầu ngõ ngóng đợi. Những viên gạch lát đầu ngõ đã rêu phong, lá vàng rơi xuống, dòng suối vẫn trôi xuôi. Bà nội tôi không còn sức đợi bố tôi về nữa. Bà theo tiên tổ về nơi chín suối, để lại cho mẹ tôi nỗi đau vô bờ. Mẹ tôi vẫn nhắc cho chị em tôi nhớ bà đặt tên cho hai chị em tôi là Mộng và Mị. Chị em tôi lớn lên như củ khoai, củ sắn.

Mẹ tôi vất vả quanh năm, nhiều khi không còn thời gian để nhắc đến bố tôi nữa. Vụ này qua vụ kia, mẹ tôi làm việc thâu đêm suốt sáng, có nhiều đêm trăng không đủ sáng, mẹ phải buộc đèn pin lên đầu để đi cấy ban đêm. Mẹ bảo vừa được việc, vừa đỡ nắng. Tuy mẹ vất vả ngày đêm lo cho hai chị em tôi, nhưng bù lại trời phú cho mẹ sức khoẻ phi thường, chân tay mẹ tôi hình như suốt một ngày chỉ được nghỉ mấy phút ăn trưa còn đến khuya khi tôi đã ngủ say, qua một giấc tỉnh dậy mẹ mới hết việc. Cầm cái quạt, quạt phành phạch một lúc cho ráo mồ hôi rồi mẹ ra thích nước. Nước lần chảy rả rích suốt ngày từ trên núi xuống cái máng nước bằng gỗ để đầu nhà. Mẹ tôi cởi cái áo chàm đập bành bạch vào cột nhà sàn, rồi lại cởi áo yếm ném vào chậu, múc nước dội ào ào. Mẹ lấy tay kỳ cọ từ trên xuống dưới, làn da trắng hằn lên, từ thớ thịt trắng ngần núng nính của mẹ. Có lẽ sau một ngày vất vả chỉ lúc này đây mẹ tôi mới được thoải mái nhất. Bỗng dưng, tôi nghĩ đến bố: Không biết giờ này bố đang ngủ hay đang chiến đấu với kẻ thù? Bố có còn nghĩ gì đến mẹ nữa không? Tôi còn ít tuổi, nhưng tôi đã bắt đầu hiểu được nỗi khổ của cái mối tình chờ đợi của bố mẹ.

Tôi không ngủ được, vẫn ngồi ở chân cầu thang chờ mẹ tắm xong, rồi cùng mẹ đi ngủ. Em Mị đang ngủ say. Thỉnh thoảng con tắc kè trên mái nhà sàn tặc lưỡi kêu “Tắc kè, Tắc kè”. Mẹ vẫn dội từng gáo nước ào ào, nước suối mát ngấm vào làn da trắng ngần của mẹ. Một lát, tự mình cúi xuống ngắm mình từ dưới lên trên, vẻ mặt mẹ đậm nét buồn. Rồi mẹ lần lượt mặc cái yếm, dây buộc lên cổ, dây buộc qua người ra sau lưng rồi lại mặc bộ quần áo chàm. Đôi chân săn chắc của mẹ đậm mầu nắng.

Mẹ vò vội mấy bộ quần áo rồi bước từng bước lên bậc cầu thang. Tôi sợ mẹ buồn vì không nghe lời nên lẻn vào giường vờ như đang ngủ say. Mẹ vặn cây đèn Hoa Kỳ soi hai chị em tôi, kéo chăn đắp cho chị em tôi rồi mẹ mới đi ngủ.

Tôi biết, đêm nay mẹ không ngủ được vì nghe mấy cái giát giường bằng nứa kêu lạch cạch. Tôi càng thương mẹ nhiều hơn. Tôi cứ nghĩ từ ngày bà nội mất, mẹ không còn nước mắt để khóc nữa. Giá như mẹ có thể khóc thật to để vơi đi những nỗi buồn trong lòng mẹ thì tốt biết mấy. Nghĩ miên man rồi tôi với mẹ cũng thiếp đi lúc nào không biết.

Ánh nắng đầu ngày rọi qua mái lá xóm núi, lách cách tiếng mõ trâu, tiếng gà loác quác đòi ăn. Tôi và em Mị bừng tỉnh giấc, mẹ tôi đã phần mỗi đứa một bát cơm sáng, còn mẹ ra đồng lúc nào không biết.

Dưới cái nắng tháng 5 chói chang vào da thịt, mẹ hì hục cuốc từng nhát cuốc, giơ lên, bổ xuống. Không có trâu để cày ruộng, mẹ phải tự cuốc xới. Tôi càng thương mẹ hơn.

Hôm nay chú Dân ở trong làng đi cày về qua thửa ruộng của mẹ. Thấy mẹ đang hì hục, chú Dân đứng lại nhìn xuống ruộng. Cái nắng gay gắt tháng 5 làm chú mủi lòng. Chú Dân gọi:

- Chị Mơ à? Nghỉ thôi, muộn rồi chị ơi!

Mẹ bỏ nón nhìn lên rồi nói vọng lên:

- Vâng! Chị làm cố, sợ không kịp mạ, chú về trước đi.

Chú Dân không đành lòng. Chú lùa trâu quay lại, đuổi trâu xuống ruộng mẹ đang cuốc. Chú Dân bảo mẹ:

- Chị Mơ lên đi. Em cày đỡ chị hai tiếng, bằng chị cuốc hai ngày.

Mẹ tôi bối rối, chưa kịp cảm ơn chú Dân, con trâu đã băng băng kéo cày. Tiếng chú Dân thỉnh thoảng lại quát trâu, mồ hôi của chú Dân chảy dài trên má. Con trâu lạch bạch từng bước đi khó nhọc. Mẹ tôi đứng gọn vào góc ruộng, không làm mà đẫm mồ hôi. Mẹ quá bất ngờ vì từ khi mẹ về làm dâu của bà nội đến giờ, hàng xóm láng giềng nhà nào cũng bận, mẹ cũng không dám nhờ ai, cố được việc gì thì hay việc ấy. Việc chú Dân giúp mẹ cày ruộng là ngoại lệ nên mẹ thấy băn khoăn. Loáng cái chú Dân đã cày xong thửa ruộng. Chú còn hẹn hôm nào chú bừa ruộng cho để mẹ gieo mạ. Mẹ tôi cảm ơn chú Dân rối rít, chú Dân chỉ cười rồi lùa trâu về. Chú Dân nhiều tuổi rồi mà chưa xây đựng gia đình. Hễ ai gán ghép, mai mối cho chú Dân là cả tháng chú tránh mặt, không dám gặp đối phương. Thế mà hôm nay chú Dân xung phong cày ruộng cho mẹ tôi, kể cũng lạ. Nhưng mẹ tôi cũng có khác gì đàn bà goá. Từ ngày cưới bố, ở với bố được 15 ngày phép, hết chống Pháp rồi đến chống Mỹ mà bố vẫn biệt tăm. Mẹ cứ một mình nuôi bà nội, rồi lúc khó khăn như thế, hai chị em tôi lại chui ra khỏi bụng mẹ. Người phụ nữ một mình sinh nở, nuôi con đã vất vả. Đằng này, mẹ tôi lại đẻ sinh đôi, còn vất gấp đôi người khác. Một mình mẹ gánh nặng hai vai, việc đồng, việc nhà, đêm đến mẹ mới có thời gian nghĩ về bố. Không biết mẹ nghĩ thế nào, nhưng từ lúc tôi còn bé tí đến lúc tôi lớn lên, mỗi khi đi ngủ mẹ lại lấy cuốn sổ tay của mẹ ra để vuốt vào tấm ảnh đen trắng của bố cài trong quyển sổ rồi ngắm nhìn. Lúc ấy tôi thấy mặt mẹ sáng bừng, đôi mắt long lanh ngấn lệ. Chắc mẹ nhớ bố lắm.

Chú Dân đã hẹn như thế nào là chú làm y như thế. Chú cày bừa xong của nhà lại đến bừa giúp mẹ cho kịp thời vụ. Mẹ tôi chỉ biết đỏ mặt mà cám ơn chú Dân.

Vừa cấy xong vụ hè thu thì mẹ tôi nhận được giấy báo tử của bố. Mẹ tôi như muốn phát điên, vò võ một mình nuôi con, chờ chồng, cuối cùng nhận được cái giấy báo tử, hy sinh tháng 1/1968. Nỗi đau đến tột cùng, mẹ khóc cho cả bà nội, khóc cho cả chị em tôi. Chúng tôi còn nhỏ dại, có biết mặt bố thế nào đâu, chỉ biết khóc thương mẹ, vì mẹ rơi nước mắt quá nhiều. Tôi không thể tính những lần mẹ khóc vụng, khóc thầm.

Từ ngày bố tôi có giấy báo tử, cả xóm núi ai cũng thương mẹ tôi một mình một bóng. Hội phụ nữ trong xóm thỉnh thoảng ghé qua nhà động viên mẹ. Chú Dân cũng vậy, mỗi lần đến vụ cày bừa, chú lại đến cày bừa giúp mẹ tôi. Nhưng có vẻ lần này chú không còn xấu hổ như trước nữa, chú thương mẹ tôi hơn. Còn mẹ tôi thì cứ cầm chừng, dạ, vâng cho xong chuyện. Mẹ tôi luôn giữ khoảng cách với chú Dân. Mỗi lần chú đến ruộng bừa xuống mạ cho mẹ tôi, không biết chú có nói gì không, nhưng cả hai người cứ cúi gằm, mặt đỏ như quả cà chua chín mọng.

Tháng 2 năm 1972, có lệnh tổng động viên, chú Dân cũng phải lên đường. Mẹ nghe tin chú Dân phải nhập ngũ, lòng mẹ buồn chẳng kém gì lúc bố tôi về đơn vị năm ấy. Lúc chú Dân chào, mẹ tôi không dám khóc mà chỉ dám chúc chú lên đường bình an, giải phóng miền Nam về còn xây dựng gia đình. Rồi mẹ nhìn xa xa khoảng không gian tĩnh lặng. Mẹ tôi đã bao lần cố nén dòng nước mắt bởi lần này chú Dân đi bộ đội rồi mẹ tôi lại phải cặm cụi cuốc từng nhát cuốc cho cả thửa ruộng.

Thời gian cứ thế trôi đi, chị em tôi mỗi ngày mỗi lớn lên, còn mẹ cũng không còn trẻ nữa. Tóc mẹ đã điểm bạc. Tin chiến thắng từ miền Nam gửi ra rầm rộ tới tận xóm núi. Chúng tôi nhà ai có người đi bộ đội cũng chờ đến giờ Đài tiếng nói Việt Nam báo tin chiến thắng.

Thế rồi, ngày giải phóng miền Nam đã đến, cả nước vui mừng. Xóm núi chúng tôi vui mừng không kém. Vài tháng sau lác đác các anh bộ đội từ miền Nam ra Bắc ghé thăm nhà. Cho đến một ngày tháng 7/1975, xóm núi như thức dậy sau cơn mơ. Bố tôi khoác ba lô trên vai, tay bắt mặt mừng từ đầu xóm đến cuối xóm. Cô Hậu tôi chân thấp, chân cao chạy đến ôm chầm lấy bố, vừa khóc vừa nói:

- Đúng đây rồi, anh Chỉ tôi bằng xương bằng thịt thật đây rồi.

Còn mẹ nghe tin bố về vội chạy ra ngõ. Thấy bố, mẹ ngồi bệt xuống khóc hu hu như ngày còn trẻ. Bố nhẹ nhàng đỡ mẹ dậy, âu yếm nói với mẹ:

- Tôi nợ mình nhiều quá! Vì nước, vì dân mình vất vả, tôi biết mà. Từ nay hoà bình rồi, tôi sẽ dành tất cả thời gian còn lại cho mình.

Mẹ kể chuyện cho bố nghe về tất cả những gì xảy ra sau 15 ngày phép. Bố gọi chị em tôi vào và ôm chầm lấy hai chị em tôi. Tôi hỏi bố:

- Bố ở miền Nam có gặp chú Dân không bố?

Bố hỏi lại:

- Chú Dân nào?

Mẹ tôi kể cho bố tôi nghe chuyện chú Dân ở nhà giúp mẹ cày bừa ruộng giúp mẹ tôi. Bố tôi không giấu được xúc động. Bố nói:

- Chiến tranh mà. Nó xảy ra nhiều việc không định trước.

Nếu chú Dân được về, bố tôi nhận chú làm anh em kết nghĩa, bố tôi bảo thế. Rồi bố ngồi xuống ghế nhìn vô định. Cả cuộc đời bố vào sinh ra tử, chính bản thân bố đã báo tử để đảm bảo an toàn nhiệm vụ. Bao đồng chí của bố đã hy sinh, bao nhiêu người được về với quê hương. Còn chú Dân mới nhập ngũ năm 1972 để vào chiến dịch kết thúc chiến tranh. Chú Dân chưa có gia đình, vợ con, bố mẹ thì mất hết, sống một mình. Giờ chú ở nơi nào? Rồi bố tôi nấc nghẹn, cảnh chiến trường khói lửa hiện lên trước mắt. Mẹ nhìn bố động viên:

- Mình về được đến nhà là mẹ con tôi mừng lắm rồi, đừng nghĩ nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Hết phép bố tôi về đơn vị xin ra quân vì hoàn cảnh gia đình. Đơn vị giải quyết để bố phục viên. Sau một năm bố về, mẹ lại có bầu và sinh em bé. Đợt này mẹ lại sinh em gái. Ngày đầy tháng đặt tên cho em, bố mời họ hàng, bạn đồng ngũ và cả xóm núi đến chung vui đặt tên cho em bé. Cả xóm và bạn bè đều tán thành bố đặt tên em bé là Mạ, để nhớ ơn chú Dân giúp mẹ cày bừa xuống mạ khi bố vắng nhà.

Thế là ba chị em tôi, ba cái tên Mộng, Mị, Mạ ra đời là như thế.

 

T.H


 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter