• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Những đứa con mồ côi
Ngày xuất bản: 25/11/2017 2:01:42 CH

 Truyện ngắn của Quang Bách

 

   Hắn thấp lùn, bắp chân bắp tay cuồn cuộn. Nếu đôi con mắt đừng ty hý như mắt lươn, vầng trán đừng thấp tè và hẹp chỉ vừa hai ngón tay thì còn có tý tẹo vóc dáng con nhà võ. Thế nhưng oái oăm thay đôi lông mày lại rậm rì, mũi tẹt, môi cong nên trông dữ tợn như một tướng cướp. Hắn ở chung nhà với bà dì vợ, mặt rỗ như tổ ong bầu, chuyên bán hàng mã ở chợ huyện. Từ ngày vợ bỏ đi, nếu không có người đàn bà này cưu mang không biết cuộc đời hắn sẽ như thế nào.

   Nghề bốc vác ở ga tàu hoả gắn bó với hắn đã hơn chục năm nay. Lương tháng hưởng theo mức khoán sản phẩm bốc dỡ, vận chuyển nên hắn thường được gấp đôi hoặc gấp rưỡi người khác bởi sức khỏe trời phú. Sau mỗi kỳ lương, trong túi hắn chỉ còn vài ba trăm ngàn. Số còn lại vợ quản lý tất cả. Ngoài ăn uống chi tiêu cho hai vợ chồng, số dư bao nhiêu gửi vào cuốn sổ tiết kiệm do vợ đứng tên, phòng khi trái gió trở trời hoặc thất cơ lỡ vận. Hắn cho rằng như vậy là hợp lý, cho nên hết năm này tháng khác hắn chỉ biết nai lưng ra làm, mọi việc đều do một tay vợ thu vén.

   Cô gái bán xôi trên tàu khách có tên là Nụ trở thành vợ hắn trong hoàn cảnh không hẹn mà nên. Những ngày còn ở trong gian nhà kho chứa dụng cụ bốc vác là những ngày cơ cực nhất trong đời làm thuê của hắn. Ở cái nơi chất chứa "Tạp phế lù" các thứ này, khươm mươi niên rồi chưa hề có một nhát chổi quét nền nhà. Họ hàng nhà chuột chù, chuột cống... thế hệ này kế tiếp thế hệ kia tự do đi lại, cuốn tổ, đào hang, xương lợn, xương gà, lõi ngô, vỏ sắn... ngổn ngang, bề bộn. Một thứ mùi ô hợp không thể gọi tên chế ngự bất cứ ai đặt chân vào đây khi có ý định muốn ở lại dù chỉ là chốc lát. Thế nhưng với hắn chẳng hề hấn gì. Rất dễ hiểu, vì sau một ngày quần quật bốc dỡ, thân thể hắn nhừ nhiễn, nhiều lúc cảm thấy như thở ra cả tai. Khi nghỉ tay thì trời đã nhá nhem tối. Dưới ánh đèn tù mù ở quán cơm bà Hai Chỉ, hắn gật gù tợp vài chén rượu rồi ngốn ngấu xong một tô cơm to với đĩa cá kho. Xúc miệng òng ọc vài cái, chân nam đá chân chiêu, loạng choạng lần đến tấm phản gỗ kê trên nền xi măng, đánh một giấc đến sáng.

   Công việc đầu tiên của một ngày mới đối với hắn đã theo công thức định sẵn. Sau việc cần phải giải quyết của quy luật tất yếu, có đầu vào thì phải có đầu ra là đến ngày việc lên sân ga làm một bọc xôi ngô cho căng phồng cái dạ dày. Người cung cấp định lượng quá khổ theo đơn đặt hàng ấy, không ai khác, chính vợ hắn bây giờ. Nụ quê quán ở đâu, bố mẹ, anh em, họ hàng ai còn ai mất những người cùng kiếm ăn lay lắt trên sân ga này đều không rõ, chỉ biết rằng đã lâu rồi, có con bé tóc đỏ hoe, mắt toét nhẻm, lúc nào cũng chỉ thấy mặc chiếc áo nâu cũn cỡn, cái quần cháo lòng ống lướp tướp như cá rô đớp chuyên rửa bát thuê cho hàng cơm phở rồi trở thành cô Nụ phổng phao, lấy chồng làm nghề bốc vác ở ga ...

   Được Nụ gọi là dì, nhưng thực ra bà Đỏ không có quan hệ họ hàng dây mơ, rễ má gì với cô. Mọi sự bắt đầu từ một lần bé Nụ ốm nằm bất động ở góc sân ga. Với nghề gồng thuê gánh mướn cho khách lên xuống tàu, bà Đỏ biết quá hoàn cảnh của Nụ. Động lòng trắc ẩn, bà đem Nụ về nhà chạy chữa thuốc men, cho ăn uống và nghỉ ngơi ấm áp. Chút vốn dành dụm nhỏ nhoi, bà giúp Nụ mua các thứ phục vụ cho việc bán xôi sáng ở ga tàu. Ngày hai buổi đi về, dì cháu nương tựa vào nhau. Nụ lớn khôn là nhờ bà Đỏ.

   Duyên số trời định. Hắn và Nụ nên vợ nên chồng bắt nguồn từ sự việc vô cùng đơn giản. Sáng ấy, khi Nụ vừa đặt thúng xôi xuống sân ga thì có hai thằng côn đồ xuất hiện. Chúng xô ngã Nụ, định bê cả thúng xôi bỏ chạy. Đúng lúc đó thì hắn đến nơi. Chỉ hai cái đá, mỗi thằng du côn ngã vật ra một nơi, mặt tái xanh, lồm cồm bò dậy lẩn vào phía sau toa tàu đổ. Hắn đỡ Nụ ngồi dậy và đợi cho đến khi Nụ trao cho gói xôi nóng hổi lấy từ thúng ra. Nụ mang ơn hắn từ đấy. Thế rồi nên vợ, nên chồng. Hắn theo vợ về ở hẳn nhà bà Đỏ.

   Cuộc sống cứ tưởng yên bình. Ai ngờ cơn sốt hàng lậu từ bên kia biên giới về xuôi khiến gia đình hắn tan nát. Nụ bỏ hẳn đi theo gã chủ hàng lậu đến làm ăn ở một cửa khẩu biên giới. Ham tiền nên Nụ bỏ đi lặng lẽ, không một lời từ biệt hắn và người dì đã cưu mang, nâng đỡ mình. Mấy năm ăn nhắt để dành có khoản tiền kha khá, Nụ cuỗm đi tất cả. Uất hận trào dâng, hắn quyết tìm Nụ để trừng trị, bỏ lại phía sau những lời can ngăn, đến mức gần như van xin của người dì tội nghiệp.

   Tứ cố vô thân, cứ tưởng mối tình với người đồng cảnh gắn bó bền lâu. Ai ngờ chỉ vì hám của mà Nụ lại dứt tình, đoạn nghĩa. Hắn nghĩ mà tiếc cho sự phí hoài tình yêu thương của mình dành cho vợ. Hắn bỏ việc, hậm hực ra đi. Định rằng nếu thấy con người phản trắc ấy sẽ xé vụn ra làm nhiều mảnh cho bõ ghét. Còn nữa nếu gặp được thằng đàn ông đã cướp Nụ, hắn cũng quyết cho nó về chầu ông bà ông vải. Lửa giận hừng hực khiến hắn quên cả mệt, cả đói trên đường đi. Ngày thứ ba hắn mới nghĩ ra rằng mình đi tay không. Quần áo độc nhất một bộ mặc trên người, không đồng xu dính túi. Cho đến lúc mặt toá hoa cà hoa cải hắn mới dừng lại, tựa lưng vào gốc cây to bên đường thở hổn hển. Mớ suy nghĩ lộn xộn trong đầu dần dần được sắp xếp lại. Trước hết phải kiếm việc làm để có tiền đi tiếp. Thế nhưng ý nghĩ này khó mà thành hiện thực. Vì ở giữa nơi đồng không mông quạnh  tìm đâu ra người thuê mướn công việc. Hoặc nếu có thì lại là việc nhà nông, cấy, gặt, cày bừa, cuốc ruộng, phá bờ... hắn chưa hề động tay bao giờ. Bỗng nhiên cái mệt, cái đói ở đâu kéo đến hành hạ. Phải cố gắng lắm hắn mới khỏi quỵ hai chân xuống. Đang định đi thẳng thì phía trước có hai người đàn bà đi tới. Người con gái chừng 17, 18 tuổi đi trước. Cụ già váy áo xộc xệch, bập bõm theo sau, mối liên hệ giữa hai người là chiếc gậy tre cũ kỹ, bóng nước thời gian. Một người lành đang dẫn đường cho một người mù. Cô gái không được tự nhiên khi thấy người con trai lạ nhìn mình. Bước chân cô có vẻ khác thường. Bà lão nhận ra, cất tiếng hỏi:

   - Có chuyện gì à, cháu?

   - Bà ơi, người đàn ông kia cứ nhìn cháu. Trông anh ta mệt mỏi thế nào ấy! Bà lão dừng lại khiến cô gái cũng khựng theo. Câu hỏi bâng quơ vì không định hướng được vị trí người đàn ông đứng của bà lão:

- Này, anh về đâu, sao lại như người ốm vậy?

Hắn bừng tỉnh. Câu trả lời không chủ định buột ra:

- Cháu nhỡ đường, đói quá!

Nghe giọng nói thều thào, bà lão hiểu đây là người cơ nhỡ. Thương người như thể thương thân, những người nghèo như hai bà cháu nhà này, đó là phương châm sống của họ. Bà lão ân cần:

- Tội nghiệp anh. Bà cháu tôi cũng chẳng dư dật gì nhưng nhà gần đây. Anh về cùng ăn củ khoai cho ấm bụng rồi hãy đi.

Không còn đủ kiên nhẫn để khách sáo. Hắn lẽo đẽo theo hai bà cháu rẽ vào con đường đất gồ ghề, loang lổ những hố còn đọng nước mưa.

Căn nhà của hai bà cháu nằm ở góc vườn chuối. Gọi là nhà hay lều đều được vì nó chỉ có một gian, một chái bằng tre mai đã tã tượi từ mái đến phên vách. Nắng, mưa tự nhiên vào nhà như đến nơi không có chủ. Bà lão và đứa cháu mồ côi sống lay lắt qua ngày bằng sự thu vén, nhặt nhạnh bán cây, bán quả ở vườn chuối đã quá cỗi già.

Khi bà lão chủ nhà và ông khách bất đắc dĩ ngồi yên vị mỗi người một đầu trên chiếc chõng tre xiêu vẹo, cô gái xăng xái bưng rổ khoai lang luộc lẫn chuối xanh để trước mặt hai người.

- Bà cháu tôi chỉ có vậy, anh ăn cho qua cơn đói lòng!

Giọng bà lão trầm hẳn xuống, khiến hắn tự nhiên nhớ tới mẹ mình. Mẹ hắn không mù nhưng cơ khổ trăm đường. Bà chết vì cảm lạnh khi phải đi dầm bùn bắt ốc, mò cua. Bố hắn cảnh gà trống nuôi con. Muốn thoát cảnh đói nghèo nên đã xin đi làm thợ rừng. Trận lũ quét năm ấy khiến ông trôi mất xác. Hắn bơ vơ, trôi dạt đến sân ga tàu hoả, đối mặt với bao nhiêu khốn khổ, hiểm nguy ...

Hắn ở lại nhà hai bà cháu đúng ba ngày. Một phần để có cái ăn uống lấy sức lực đi tiếp, một phần để giúp hai bà cháu nghèo nhưng tốt bụng sửa lại mái nhà, phên vách đỡ đi phần nào nỗi cực nhọc khi nắng, lúc mưa. Hai ngày đầu hắn cùng cô gái đi kiếm lá mía về ken lại thành những phên gianh lợp lại mái, che xung quanh. Ngày thứ ba san lại nền nhà cho bằng phẳng và sửa lại chiếc chõng tre cho đỡ ọp ẹp, mối mọt.

Hắn đi. Bà lão và cô gái lưu luyến nhìn theo. Đường lên biên giới theo sự chỉ dẫn của mọi người thì còn xa lắm. Hắn đã quyết rồi. Xa thế, xa nữa cũng vẫn phải đi. Tiền bán mấy buồng chuối cô gái đưa chỉ đủ ăn trong hai ngày đầu. Những ngày tiếp theo vừa đi vừa phải làm thuê. Ai thuê gì làm nấy. Gánh nước, bổ củi, khuân vác, quét dọn... không nề hà, miễn là có tiền để sống. Thế rồi đi mãi cũng đến nơi. Thị xã biên giới làm hắn choáng ngợp. Xe cộ, hàng hoá, kẻ bán người mua tấp nập. Chim chích lạc rừng. Biết tìm đâu cho thấy Nụ bây giờ. Lúc giận, lúc thương làm hắn cứ rối tinh, rối mù chẳng biết đằng nào mà lần. Chỉ có cách duy nhất, đi hỏi thăm khắp thị trấn may ra gặp Nụ. Hắn kiên trì làm theo kế hoạch đã định, hành trình từ đầu đến cuối thị trấn. Tối đâu ngủ đấy. Hôm sau đi tiếp. Hết tiền tìm việc làm thuê. Chợ nào cũng đến. Cửa hàng, cửa hiệu nào cũng qua. Thấy người phụ nữ nào hao hao giống Nụ theo gặp cho đến tận cùng. Nơi nào khả nghi có Nụ đều đến hỏi thăm. Một tuần, hai tuần, ba tuần ..., một tháng... Nụ vẫn chỉ là bóng chim, tăm cá. Hắn đã nản lòng.

Bỗng một hôm. Lúc ấy đã quá trưa. Hắn đang uể oải với xuất cơm bình dân, khô khốc mấy miếng thịt kho đậu, luểnh loảng bát canh rau muống thì nhìn thấy một phụ nữ vóc dáng rất giống Nụ. Tay xách làn nhựa. Lưng địu con nhỏ, vừa đi vừa chạy ngược dốc sang phía bên kia quả đồi. Rút tiền đặt chốc tô cơm mới ăn chưa được một phần ba, hắn bí mật lần theo hướng đi của người đàn bà. Đường mòn vắt qua đồi, lối đi chỉ đặt vừa hai bàn chân, trơ đá tai mèo sắc lạnh bởi dòng chảy nước mưa từ đỉnh đồi xuống chân đồi. Hai mép đường cỏ chè vè như lưỡi dao cứa ngang, cứa dọc vô hồi kỳ trận vào bắp chân trần người đi qua. Hắn nhắm mắt chịu đau, quyết tâm theo người đàn bà địu con đi như chạy trốn. Chân dốc bên kia là bản người Dao. Các ngôi nhà một nửa bám đất liền, một nửa là sàn gỗ, vầu đều quay mặt xuống dòng suối nước chảy róc rách dưới chân đồi. Hắn nhìn rõ người đàn bà địu con vào ngôi nhà khuất sau một gốc cây to.

Chủ nhân ngôi nhà đầu tiên bên bờ suối là một ông lão người Dao, tuổi chừng 70, mũ nồi đen, quần áo đen, nói tiếng Kinh lơ lớ.

- Nó là vợ nhặt của thằng Bàn Văn Hây, nghe đâu từ biên giới bên kia trốn về.

Ông già trả lời khi hắn hỏi về người đàn bà địu con.

- Tên nó gì gì?

- Không biết mà!

Hắn tìm cách ở lại nhà ông già qua đêm với lý do đi mua ngựa về kéo xe nhưng bị lỡ đường. Tối ấy được gặp đông đủ vợ con ông lão, hắn dò hỏi một cách cặn kẽ về người mà hắn khả nghi là Nụ. Người miền núi rất mến khách và thật thà, chất phác. Anh con trai ông chủ kể rằng "Bàn Văn Hây là con mồ côi, lớn lên trong vòng tay cưu mang đùm bọc của mọi người dân bản Dao, đã 30 tuổi nhưng chưa có vợ vì chưa được làm lễ cấp sắc do không có bố mẹ và bàn thờ tổ tiên. Từ ngày người đàn bà ấy đến nhà, gia đình ấm cúng hẳn lên. Hây coi đứa bé như con đẻ của mình". Con dâu ông già thêm vào lời kể của chồng : "Nó bảo tên là Nụ, quê ở xa lắm, bị lừa bán sang biên giới làm vợ người ta. Khổ quá, tìm cách chạy trốn khỏi gia đình chồng mua. Hai mẹ con đói rét nằm ôm nhau ở cổng chợ được Hây đưa về nhà. Bây giờ mà nó bỏ đi chắc là thằng Hây buồn đến chết".

Đêm vùng cao sương lạnh. Gió từ bờ suối luồn lách qua khe cửa vào nhà, vô tình chạm phải là tê buốt cả chân tay. Bên bếp lửa bập bùng, nghe xong câu chuyện hắn cảm thấy mệt rã rời, mí mắt nặng trĩu, ý định hành hạ Nụ cho hả giận tự nhiên tan biến đi đâu cả. Giận Nụ bạc tình nhưng lại thương Nụ gian nan vất vả, nhẹ dạ cả tin. Không hiểu sao tự nhiên hắn lại mừng cho Hây gặp được may mắn.

Khuya lắm rồi, nằm bên cạnh con trai ông già bản Dao hắn trằn trọc không tài nào chợp nổi mắt. Hắn quyết định ngày mai sẽ quay về. Duỗi thẳng chân tay,  chuyển sang tư thế nằm thoải mái, hắn mỉm cười trong đêm khi tưởng tượng ra cảnh bà cụ mắt loà và đứa cháu gái tốt bụng dang rộng vòng tay đón hắn.

Ngoài kia trời đã rạng, lớp sương mỏng mùa thu tan dần, nhường chỗ cho một ngày mới đang đến gần.

                                                                                       Q.B

 

 

 

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter