• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Những người bạn ra trận
Ngày xuất bản: 24/12/2018 2:08:12 SA

Trích Hồi ký của Bùi Hòa Bình
 

Đơn vị hành quân gấp, đêm ba mươi Tết Kỷ Dậu (1969) nằm giữa đỉnh dốc Cao Bồi miền Tây Thừa Thiên- Huế. Đây là điểm trú quân của các cơ quan Quân khu Trị thiên- Huế sau Mậu Thân 1968 do đó có rất nhiều hầm đào sẵn, chỉ tội ẩm mốc, nước và rắn xanh nhiều. Suốt đên nghe tiếng đề ba đầu nòng của pháo bầy trên các cao điểm Cô Ka Va, đầu mầu, Cồn Tiên, Dốc Miếu, chúng tôi nói với nhau “gần địch rồi”.

Sáng mồng 1 Tết các đơn vị chuẩn bị hành quân thì bị thằng B57 thả toạ độ đúng đội hình. Vệt bom cắt chéo 5 đoạn của đoàn hành quân, cây đổ đè lên đồng đội, bom cắt nửa thân người, nhiều chiếc ba lô văng khắp nơi, những chiếc xà beng công binh cong vếu, cắm ngập vào thân cây... Một cảnh tan hoang giữa sáng mồng một Tết. Đang băng bó, cứu giúp đồng đội thì đơn vị của tôi được lệnh hành quân gấp vào suối Khỉ tiêu diệt nhóm thám báo mà tiểu đoàn phòng không 12,7 ly Quân giải phóng Trị Thiên phát hiện (chắc bọn này đêm qua đã phát hiện đơn vị chúng tôi nên báo cho máy bay đến đánh toạ độ).

Tôi nói anh em trao lại dụng cụ công binh cho đơn vị bạn rồi nhanh chóng đưa Đội vượt lên đầu đội hình hành quân và tiến về suối Khỉ. Đi gần 3 km chúng tôi dàn đội hình chiến đấu tiến dần đến mục tiêu.

Suối Khỉ sâu hun hút, nước chảy ào ào, lối mòn hai bên im lặng như tờ. Đơn vị tôi nhích dần trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Tôi cho một tiểu đội đi trước, nếu phát hiện địch thì báo tín hiệu để toàn đội thành thế bao vây tiêu diệt. Tiểu đội đi trước phát hiện nhiều lựu đạn gài và mìn vướng nổ (phần này đối với cánh phá bom chúng tôi không đáng ngại), sau nửa tiếng vừa cảnh giới vừa vô hiệu hoá các bẫy lựu đạn gài, anh em đã tiếp cận đến suối Khỉ. Tiểu đội nhanh chóng chiếm các mỏm đá hai bên bờ suối sẵn sàng chiến đấu rồi đón cả đội xuống. Tôi lại cho 1 tiểu đội vượt lên phía trước đề phòng địch gài mìn và phục kích. Cứ như vậy đơn vị tôi dùng chiến thuật “sâu đo” đã hoàn thành nhiệm vụ mở đường qua suối Khỉ cho đơn vị hành quân. Có lẽ bọn thám báo khi bị  đơn vị 12,7 ly phát hiện, chúng chỉ kịp gài mìn rồi chạy về A Sầu gọi máy bay trực thăng chuyển về căn cứ.

Ngày hôm đó chúng tôi vượt qua bãi ổi (Bản của chị Can Lịch) rồi từng Đại đội chia quân theo dọc tuyến (D67 của chúng tôi làm nhiệm vụ mở lại đường và bảo đảm giao thông từ sân bay A So đến ngầm A Vương, đèo Bù Lạch). Đội phá bom của chúng tôi đóng trên đèo Bù Lạch có nhiệm vụ phá bom từ đỉnh đèo đến A So; do đường tuyến đã bỏ từ Mậu Thân 1968 nên chúng tôi vẫn bí mật đào các hầm gần đường, dưới các bụi lau sậy, bụi le và vận chuyển gỗ từ rừng cách hàng cây số để làm hầm. Chúng tôi phải làm vào ban đêm, ban ngày không hoạt động để giữ bí mật cho đến lúc xe chạy và để tránh thằng Utiti phát hiện làm khó dễ khi xe chưa hoạt động. Sau 5 đêm đào hầm dọc tuyến, ngày thứ 6 toàn tiểu đoàn đồng loạt khai thông lại đèo Bù Lạch. Con đèo là một trọng điểm ác liệt trong những năm 1965- 1967 nhưng gần một năm nay đã bỏ không do Mỹ nguỵ chiếm đóng sau tết Mậu Thân năm 1968.

Mấy ngày qua, đội phá bom của chúng tôi đã cho một tiểu đội đi kiểm tra tháo gỡ hết bom mìn địch cài lại trên đèo trước khi rút chạy.

Ngày thông đèo và cho xe vượt tuyến đã đến, ngay từ chập tối, đội phá bom chúng tôi đã đào trên 200 lỗ bộc phá dọc cua 1 và cua 2; 8 giờ tối, giờ điểm hoả đã đến, chỉ một ánh chớp, trên 200 quả bộc phá đã được chúng tôi tính toán lượng nổ đồng loạt hất tung đất; cua 1 và cua 2 của đèo đã định hình mặt đường rộng gần 4m, công binh dùng bàn trang và chiếc xe gạt DT75 là phẳng mặt đường. Đội chúng tôi lại tiếp tục đào và đặt bộc phá ở cua 3 và cua 4; sau một giờ lượng nổ chuẩn bị xong, một chớp lửa lớn cua 3 và cua 4 cũng được khai thông cơ bản để xe gạt và công binh nhanh chóng san gạt. 3 giờ sáng toàn tuyến đã được khai thông, đoàn xe 20 chiếc chở đầy hàng nối đuôi nhau vượt đèo an toàn. Xe vừa qua, đơn vị cho xe gạt lên giấu ở rừng cây lim trên đỉnh đèo, lực lượng công binh nhanh chóng dùng bàn trang gạt đất xoá sạch vết xe từ ngầm A Vương lên hết đèo thì trời cũng vừa tảng sáng. Công binh rút về nơi an toàn nghỉ ngơi còn Đội phá bom của chúng tôi vào hầm trên đỉnh đèo nghỉ và ăn sáng.

Trời vừa sáng, làn sương còn chưa tan dưới thung cua 2 và cua 3 thì thằng L19 đã vè vè từ Huế mò ra; nó nghiêng ngó vài lần rồi mở rộng vòng lượn tới dốc Con Mèo. Hình như đã thấy những thay đổi khác lạ nó liền gọi thêm 2 thằng OV10 mò đến; hai thằng OV10 hạ độ cao, chao đảo, nghiêng ngó rồi nó chúi xuống bắn cối khói vào ngầm A Vương. Chỉ một loáng 3 thằng AD6 ầm ầm lao đến thi nhau cắt bom từ ngầm A Vương lên cua 1 của đèo Bù Lạch; ngoài dốc Con Mèo hai thằng F4 cũng bổ nhào đánh phá dữ dội. Từ đài quan sát báo về chưa thấy chúng thả bom nổ chậm. Khói bom của trận oanh tạc chưa tan hết, thằng B57 đã lừ lừ thả một loạt bom toạ độ dọc sân bay A Sầu đến sân bay A Lưới, phía 2 sân bay từng đụn khói đen như những chiếc nấm bùng lên, bùng lên thành một hàng dài; vòng thứ 2 thằng B57 quay lại thả 4 thùng bom bi, tiếng bom réo như đàn ong vỡ tổ, rồi các chớp lửa nhì nhằng khắp khu vực từ sân bay A So 68 đến sân bay A Sầu, nhiều đám cháy lau sậy bùng lên cháy ràn rạt, ràn rạt.

Cứ như vậy, ngày địch đánh phá đường, ngầm thì tối chúng tôi lại san lấp, mở đường vòng cho xe chạy vì thung lũng A Lưới rộng cỏ lại bị cháy trụi nên công binh nắn đường cho xe chạy khắp nơi. Sau một tuần, địch đã rút được bài học không thể đánh chặn khu vực A Lưới được mà phải tập trung đánh dốc Bù Lạch, nơi con đường độc đạo và khó khắc phục nhất. Liên tục từ sáng đến chiều, nhiều tốp máy bay AD6, F105, F4 và B57 thi nhau đánh vào đèo; ta luy dương đất sập xuống lấp nhiều đoạn, nham hiểm hơn chúng thả nhiều loại bom hỗn hợp nên quả nọ chồng lên quả kia rất khó phát hiện và gây rất nhiều thương vong cho đội phá bom của chúng tôi. Để bảo vệ đèo Bù Lạch, Bộ tư lệnh Trường Sơn đã điều 2 tiểu đoàn 12 ly 7 vào chiếm lĩnh tất cả các điểm cao để đánh máy bay địch khi chúng bổ nhào làm giảm khả năng đánh phá trúng đường của chúng và hỗ trợ chúng tôi phá bom ban ngày. Do phải xử lý nhiều loại bom hỗn hợp cùng một lúc, đất lại phủ dày và bất chợt ụp xuống từ ta luy dương nên đội của chúng tôi thương vong nhiều; chuyện bị đất vùi, hay bị sức ép bom văng đi chục mét, bị vài mảnh bom vào phần mềm là chuyện hàng ngày của mỗi chúng tôi. Đáng ngại nhất là bị bọn trực thăng đi thấp từ khe núi ào đến dùng rốc két và đại liên bắn xối xả xuống khu vực đường chúng tôi đang khắc phục gây thương vong rồi nhanh chóng chạy mất, nhiều khi lực lượng 12 ly 7 của ta không kịp phát hiện. Để đánh lại bọn này chúng tôi phải trực tiếp dùng biện pháp cảnh giới và đánh trả quyết liệt. Tổ phá bom xong đến đâu là có 2 tổ với 4 khẩu súng trung liên RPD đi theo lập ngay trận địa trên tuyến. Chiều hôm đó khi hai đồng chí trong tổ đang lúi húi dùng xẻng gỗ đào hố nhồi thuốc nổ vì có nhiều bom từ trường nên chúng tôi phải dùng xẻng gỗ thì bất chợt thằng Utiti, một loại trực thăng nhỏ như chiếc ô tô con, khoang kính trong suốt, tiếng máy lại nhỏ lách từ khe núi ngầm A Vương lên. Do cảnh giác quan sát tôi đã phát hiện ngay từ xa. Tôi hô hai đồng chí rút vào hầm đào tạm, 4 khẩu RPĐ cùng hướng vào đầu chiếc máy bay, khi chiếc Utiti vừa ào tới cua 3 còn đang tìm mục tiêu thì cả 4 khẩu trung liên của chúng tôi đồng loạt sả đạn vào chiếc máy bay, những làn đạn lửa thẳng căng cắm thun thút vào toàn thân chiếc máy bay làm nó như khựng lại rồi vội vã nâng độ cao bay thẳng về hướng Xưởng Giấy. Tôi hô anh em nhanh chóng chạy lên đỉnh đèo để trú ẩn, vừa đến cửa hầm đã thấy ầm ầm tiếng phản lực và từng loạt bom nổ, khói lửa mịt mù ở tất cả các cua. Đêm hôm đó mặc dù có thêm lực lượng công binh bạn tăng cường, mà  chúng tôi vẫn phải khắc phục đến 3 giờ sáng mới đón được 6 xe hàng vượt qua Bù Lạch.

Ngày hôm sau khoảng 10 giờ sáng, bọn F4 mới đến đánh phá đèo, tiếp theo là thằng B57 toạ độ trong đó có 9 quả từ trường không nổ. Sau đợt đánh phá của B57 tôi và cậu Nam xuống tuyến để xác định vị trí bom. Chúng tôi đã xác định được 2 quả nằm trên đường ở cua 3 và 2 quả ở dưới ta luy âm của cua 3, hai chúng tôi cắm biển báo xong tiếp tục xuống cua 2, vừa đến đầu cua 2, phía trước một chớp loé bùng lên và tôi không biết gì nữa...

Tôi tỉnh lại thấy toàn thân như rã rời, hai chân tê buốt. Bên cạnh chõng tre là một nữ y tá tay đang cầm xi lanh, chừng như đồng chí này vừa tiêm cho tôi; một giọng nói Huế rất nhẹ:

- Eng đã tỉnh rồi.

Tôi ngước nhìn cô y tá hỏi:

- Tôi đang ở đâu đây, cậu Nam đâu rồi, Nam có sao không?.

Cô y tá không trả lời hỏi của tôi mà chỉ nhắc tôi mới tỉnh cần giữ sức nằm yên để cô đi lấy sữa cho tôi uống vì đã 5 ngày tôi mê man bất tỉnh.

Cốc sữa nóng làm tôi tỉnh táo lại nhiều. Chiều hôm ấy được báo tôi đã tỉnh lại, Chính trị viên Tiểu đoàn Nguyễn Quang Diệu vào thăm tôi. Anh cho biết tôi bất ngờ bị 2 quả bom từ  trường phát nổ cùng lúc, bom nổ chỉ cách tôi khoảng 5m nên tôi không bị dính mảnh bom mà chỉ bị sức văng của vụ nổ đưa đi khoảng 20m, hai  gót chân đều bị dạn, hai miếng da bằng nửa bàn tay bay mất, vai trái bị gãy xương đòn. Bệnh xá mặt trận Trị Thiên đã cố định lại và đang đắp thuốc lá của đồng bào Pa Cô, chỉ khoảng 15 ngày có thể đi lại được; Nam đã không còn nữa, vì Nam đi sau tôi cách khoảng 7m đã dính hai mảnh bom lớn và hy sinh ngay tại chỗ.

Chính trị viên Diệu động viên tôi yên tâm điều trị để chóng khỏi. Đội phá bom đã giao cho Trung phụ trách. Sáng hôm sau Trung, Dũng, Thanh cùng anh em trong đội phá bom đến thăm tôi. Chưa vào đến cửa hầm giọng Dũng đã bô bô:

- Thằng này số đỏ, bom nổ gần thế mà không toi, chắc bọn Mẽo nó có cảm tình với mày vì chúng mày hôm trước chỉ bắn bị thương thằng Utiti chứ gì?

Sự tếu táo của anh em làm căn hầm thương binh chộn rộn. Thanh lấy lương khô 702 và bánh quy chia cho các anh em thương binh bên cạnh, Trung pha cho tôi một cốc bột trứng và ép tôi phải uống hết. Vừa bắt tôi uống, Trung vừa thông báo lại tình hình trọng điểm mấy hôm nay khi bọn máy bay Mỹ đổi chiến thuật đánh bồi, đánh nhồi nhiều loại bom hỗn hợp hòng làm cản trở sự khắc phục của ta. Chính đợt bom tôi dính là đợt mở màn cho chiến thuật mới của chúng; những ngày sau còn 3 đồng chí nữa hy sinh thì Đội mới tìm ra cách khắc phục. Tôi động viên Trung và nói với anh em chú ý quan sát thật tốt, luôn cảnh giác với các âm mưu thâm độc của địch. Mọi người ra rồi nhưng Dũng còn lán lại và dúi cho tôi một gói giấy báo, nó bảo:

- Cà phê bọn Mẽo gửi cho mày đấy, uống đi cho lại sức.

Tôi trừng mắt và nhắc Dũng không được ra các bãi đổ bộ của địch để tìm cà phê, thịt hộp của Mỹ bỏ lại vì chúng rất hay gài bẫy, nhiều bộ đội ta đã bị hy sinh trong các trường hợp này. Dũng cười tếu táo và ừ ừ rồi chạy biến ra khỏi lán.

Khi 3 thằng bạn và anh em trong đội phá bom đã về, tôi ngồi dậy xin đồng chí Bác sĩ phó trạm mấy tờ giấy để viết lại những tình huống, đặc điểm nhận biết của các chiến thuật thay đổi cách đánh phá mà địch đã sử dụng trong  hơn 2 tháng qua ở đèo Bù Lạch và khu vực sân bay A Sầu, A Lưới.

Sau 15 ngày điều trị các vết gãy xương bằng thuốc lá của đồng bào dân tộc, tôi đã đi lại bình thường, tuy nhiên do chiến trường, việc băng bó không đảm bảo nên xương đòn vai của tôi bị lệch, nhưng thế cũng là tốt lắm rồi. Tôi xin bác sĩ trạm trưởng cho ra viện để về đơn vị, bác sĩ trạm trưởng đồng ý nhưng với điều kiện tôi về phải nghỉ ra tuyến ít nhất là một tháng cho vết thương ở gót chân lành hẳn, không sau này đi lại khó khăn vì di chứng. Tôi đồng ý ngay vì cứ được ra viện đã; trước khi tạm biệt anh em thương binh, tôi còn bao nhiêu đường, sữa, lương khô 702 mà đồng đội mang đến thăm đều để lại cho anh em thương binh trong lán, 10 gói cà phê tan của Mỹ mà Dũng cho tôi mới dùng 2 gói còn 8 gói tôi tặng anh bác sĩ trạm trưởng 4 gói và Trạm phó 4 gói.

Về đến đội, anh em đã chuẩn bị bữa cơm đón tôi. Ngoài suất cơm của đơn vị, trên mâm còn có một đĩa thịt gà. Tôi còn đang ngạc nhiên thì Dũng và Thanh lù lù bước vào, Thanh chỉ sang Dũng và nói:

- Hai ngày trước thằng này xin đơn vị nghỉ một ngày, đến nửa đêm nó mới mò về và mang theo 1 con gà để khao mày đấy.

Tôi nhìn Dũng, thằng bạn chỉ toét miệng cười và hô anh em ngồi vào mâm để bữa “tiệc” được bắt đầu. Gắp miếng thịt đùi nạc nhất Dũng bỏ vào bát của tôi và nói:

- Mừng cho mày, thoát chết và khoẻ mạnh.

Tôi thấy mắt mình cay cay nhưng vội trấn tĩnh lại rồi hô anh em ăn uống vui vẻ; nhưng trong thâm tâm tôi biết chắc Dũng đã mang bộ quần áo Tô Châu vừa được phát đợt đầu năm mà nó gói rất cẩn thận trong ba lô đi vào bản Tà Oi cách đây khoảng gần một ngày đường để đổi lấy con gà đón tôi về hôm nay. Nhìn thằng bạn tôi thương nó quá, cái lưng gù nay chịu nhiều gian khổ, gầy gò lại càng thấy gù thêm. Mà nó có để ý đến mình đâu chỉ suốt ngày lo cho đồng đội, lo cho bạn.

Ở đơn vị được 5 ngày tôi bắt đầu ra tuyến cùng anh em trong đội phá bom. Dốc Bò Lạch chỉ sau gần một tháng tôi xa mà như đã khác hẳn, nó ngoằn ngoèo hơn, chỗ cao, chỗ thấp hơn vì hàng ngàn quả bom chúng đánh phá trong những ngày qua; các thân cây to 2- 3 người ôm cứ như những cây than đỏ lừ trong đêm, thỉnh thoảng lại bùng lên như những bó đuốc khổng lồ. Rừng lim đã trụi hết lá vì chất độc hoá học, bom bi, mìn lá cứ lụp bụp, lụp bụp suốt ngày đêm, thỉnh thoảng dưới vực một quả bom nổ chậm lại nổ đánh oành, khói thuốc đắng ngắt sộc lên làm anh em công binh rất khó thở.

Những trận chiến đấu thi gan với máy bay, bom đạn Mỹ của chúng tôi dần dần đã về cuối chiến dịch vận chuyển. Địch càng đánh phá ác liệt, chúng tôi càng quyết tâm cao dọn sạch bom nổ chậm cho công binh nhanh chóng khắc phục hậu quả; đêm đêm từng đoàn xe vẫn nối đuôi nhau đưa hàng vào các mặt trận để các đơn vị quân Giải phóng mở các đợt tấn công tiêu diệt từng tiểu đoàn, trung đoàn địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở Tây Nguyên, Đà Nẵng và các vùng sông nước Cửu Long.

Ngày hôm đó, vào một buổi trưa chúng tôi đang nằm trong hầm trực trên tuyến thì Chính trị viên Tiểu đoàn và một đồng chí cán bộ của Bộ Tư lệnh tiền phương đến. Chúng tôi tập trung lên hầm trực chỉ huy của Đội. Sau khi nghe Chính trị viên quán triệt, động viên và biểu dương tinh thần chiến đấu của toàn Đội thì đến lượt đồng chí phái viên Bộ Tư lệnh tiền phương phát biểu. Anh nói sẽ thông báo 3 tin đặc biệt. Cả Đội hồi hộp chờ đợi. Sau cái hắng giọng cho thêm phần long trọng, đồng chí phái viên lấy ra từ sắc cốt tờ giấy thứ nhất và anh đọc:

- Thông báo của Bộ Tư lệnh tiền phương Trường Sơn và Bộ tư lệnh B5: xác nhận chiếc máy bay Utiti rơi ở Nam xưởng Giấy ngày 11 tháng 11 năm 1969 là do Đội Phá bom của Trung đoàn Công binh bắn tại đèo Bù Lạch.

Cả đội reo mừng vì chiến công không ngờ đó.

Anh phái viên lại công bố tiếp:

- Trung đoàn và Tiểu đoàn đã thống nhất giao nhiệm vụ Đội trưởng Đội phá bom cho đồng chí Phạm Quang Trung từ ngày hôm nay và đồng chí Lê Quang Đại Tổ trưởng tổ 3 làm Đội phó.

Nghe thông báo ấy mọi người im phăng phắc vì không hiểu tôi sẽ đi đâu sau bao nhiêu ngày tháng gắn bó với Đội. Tôi chủ động vỗ tay chào mừng Đội trưởng mới, anh em thấy tôi vỗ tay thì cũng vỗ tay theo nhưng vẫn nhìn tôi với những ánh mắt ngập ngừng khó tả. Sau khi công bố Quyết định thứ hai, đồng chí phái viên lại hắng giọng chậm dãi thông báo quyết định thứ ba là tôi được Trung đoàn cử ra Bắc học Trường Sĩ quan Lục quân khoá chính quy hiện đại đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đến phút này mọi người ồ lên sung sướng vì sự tin tưởng của cấp trên đối với tôi cũng như vinh dự cho đơn vị.

Đón nhận tin này tôi lại thấy buồn vì phải xa đội, xa anh em đã sống chết có nhau trong bao nhiêu ngày khói lửa, cái chết cận kề nhưng tình cảm gắn bó lại càng thiêng liêng; nhất là lúc này mùa chiến dịch đang vào nước rút, sự điên cuồng đánh phá và những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của địch ngày càng gia tăng. Nhận quyết định nhưng tôi đã đề nghị cấp trên cho tôi ở lại thêm một thời gian nữa cùng anh em chiến đấu, hết chiến dịch, mùa mưa tôi sẽ đi học.

Nghe tôi đề nghị đồng chí phái viên Bộ Tư lệnh nghiêm giọng:

- Đây là mệnh lệnh, không có ý kiến đề nghị nào cả. Đáng lẽ đồng chí đã phải nhận lệnh từ hơn một tháng trước nhưng vì trọng điểm Bò Lạch quá ác liệt, đồng chí lại quen địa hình nên Trung đoàn cứ nấn ná mãi. Hôm nay đưa lệnh cho đồng chí là đã chậm gần một tháng, do vậy Bộ Tư lệnh cấp cho đồng chí một giấy đi đường gặp bất kỳ xe nào đi ra đồng chí đều có thể đi nhờ, càng nhanh càng tốt nhưng phải chú ý công tác an toàn. Ngay tối nay có xe của BT42 từ xưởng Giấy ra đồng chí đi theo luôn, trên đường đi cứ đưa giấy của Bộ Tư lệnh là đồng chí được lĩnh lương thực, thực phẩm ở tại các kho, trạm.

Giao nhiệm vụ xong đồng chí phái viên bắt tay tôi thật chặt và chào anh em ra về. Chính trị viên Tiểu đoàn cũng ôm tôi, bịn rịn rồi anh ra theo đồng chí phái viên. Tôi thần người chỉ còn nói được câu chào thủ trưởng, kiểu chia tay của người lính trong chiến trường nhanh gọn như vậy nhưng sâu nặng biết bao.

Thời gian cũng không còn, tôi viết vội mấy dòng chia tay với hai thằng bạn cùng trường và dặn Trung nói lại với Dũng và Thanh. Bộ quần áo Tô Châu tôi cất kỹ định khi nào có thời cơ thì đưa cho Dũng, tôi giao lại cho Trung và dặn khi nào chuyển cho Dũng giúp tôi; tôi lục ba lô có thứ gì là tôi phát hết cho anh em chỉ giữ lại con dao găm Mỹ và 2 bộ quần áo đã cũ, nhưng rồi tôi lại lấy ra một bộ cho cậu Chiến vì hôm trước sức ép bom làm bộ quần áo của Chiến đang mặc bị rách nhiều miếng. Anh em tranh thủ viết thư để tôi mang ra Bắc và đưa về gia đình cho đồng đội.

Tối hôm đó khoảng 12 giờ 40, tôi lên xe của Binh trạm 42 tạm biệt đồng đội, tạm biệt miền Tây Trị Thiên- Huế ra Bắc.

 

B.H.B

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter