• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Trầm tĩnh những nẻo đường
Ngày xuất bản: 25/11/2019 2:24:54 SA

Tiểu thuyết của Quang Bách 

Tiểu thuyếtTrầm tĩnh những nẻo đường, NXB Hội Nhà văn năm 2019 của Quang Bách viết về đề tài giáo dục, thời gian từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến kết thúc chiến tranh Biên giới phía Bắc, tháng 2 năm 1979. Lê Quang Tân, nhân vật chính, xuất thân từ vùng quê nghèo khó trung du Bắc bộ đã không ngừng phấn đấu vươn lên trong học tập để trở thành giáo viên giỏi. Lòng yêu nghề, mến trẻ, tự nguyện đóng góp công sức cho sự nghiệp giáo dục của thầy giáo Lê Quang Tân được thể hiện một cách trầm tĩnh, bền bỉ, kiên trì trên những nẻo đường đi với rất nhiều khó khăn gian khổ.

Nhân kỷ niệm 37 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2019), Tạp chí Văn nghệ Yên Bái trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một phần chương IV của tiểu thuyết, nói về nẻo đường đến với giáo dục vùng cao của thầy giáo Lê Quang Tân.

2.

Chuyến tàu khách ngược phía Bắc xuất phát từ ga Hàng Cỏ lúc 8 giờ, thế mà mãi đến 5 giờ chiều mới đến ga cuối cùng, giáp biên giới nước bạn. Vì lên tàu ở ga tỉnh lẻ nên đoàn giáo viên của Tân phải ngồi toa ghế dọc, dành riêng cho hành khách có hàng hóa cồng kềnh. Lúc xuống tàu ai cũng có cảm giác đầu óc chao đảo, chân tay mỏi dừ. Cán bộ tổ chức của Ty Giáo dục vào tận sân ga đón đoàn. Chiếc ô tô khách của Công ty Vận tải thủy bộ do Ty Giáo dục hợp đồng đã đậu sẵn trước cửa ga. Rất nhanh chóng, đoàn giáo viên tình nguyện của Tân được mời lên xe. Loáng cái đã đến trụ sở của Ty Giáo dục. Ông Phó Trưởng ty tươi cười bắt tay từng người. Cán bộ hành chính dẫn đường đưa cả đoàn về nghỉ ở khu nhà gỗ 5 gian dùng làm hội trường cơ quan. Bữa cơm tập thể đầu tiên ở Ty Giáo dục miền núi thời bao cấp còn khá khiêm tốn. Nhưng vì gần một ngày ngồi tàu thấm đói mệt nên ai cũng cảm thấy ngon miệng. Đêm ngủ đầu tiên nơi biên cương Tổ quốc ai cũng thao thức, bồn chồn. Mỗi người một tâm sự riêng. Khu nhà dành cho giáo viên nữ còn có tiếng khóc thút thít.

Một ngày nghe giới thiệu về địa hình, thành phần cộng đồng dân cư, đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, trật tự an ninh, quốc phòng, mọi người đều nhận biết, Phúc Chẩn là một tỉnh miền núi nghèo, rất khó khăn thiếu thốn. Con em các đồng bào dân tộc thiểu số đói cơm, đói chữ, đói cả đời sống văn hóa, văn minh. Nhiệm vụ của các thầy cô giáo không chỉ dạy chữ, dạy cách làm người mà còn có trách nhiệm cùng lãnh đạo địa phương đưa miền núi dần dần tiến kịp miền xuôi. Ông Trưởng ty Giáo dục phát biểu, đại ý, sẽ là thử thách lớn lao cho mỗi thầy cô giáo tình nguyện lên đây trước nhng khó khăn gian khổ, thiếu thốn vật chất, tinh thần từ những ngày đầu tiên bám trường, bám lớp. Song ông đặt niềm tin vào lòng yêu nghề, mến trẻ của từng thầy cô giáo. Sự có mặt của các thầy cô sẽ là động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp phát triển giáo dục tỉnh nhà. Ông mong muốn các thầy cô giáo trở thành những tấm gương sáng trong phong trào giáo dục ở khắp vùng, miền trong tỉnh.

Tân cùng năm giáo viên trong đoàn được phân công về nhận công tác ở Phòng Giáo dục huyện Mường Kham. Huyện chưa có trường cấp II nên mỗi người được phân công về một xã. Trưởng Phòng giáo dục cho biết, xã gần nhất đi bộ cũng mất nửa ngày. Xã xa nhất phải hai ngày nhưng nếu gặp mưa lũ không qua được suối có khi phải ba, bốn ngày mới tới nơi. Chẳng biết run rủi thế nào mà Tân lại phải nhận phần đi một trong những xã xa nhất, xã Phìn Ngan. Có cán bộ xã xuống đón nên mọi người cũng bớt lo âu, ngại ngùng. Cán bộ đón Tân, Chủ tịch xã Phìn Ngan, Giàng Mí Và nói tiếng Kinh chưa thạo. Trên đường đi, tiếng Kinh, tiếng Mông chen lẫn nhau mỗi khi chủ tịch nói chuyện với thy giáo. Rừng núi chập trùng, vách đá cheo leo, suối khe hun hút khiến Tân choáng ngợp. Bởi vì miền núi trung du so với sự thâm u, hoang vắng ở đây chẳng thấm tháp gì. Tiếng gáy của gà rừng lảnh lót. Tiếng vượn hú, tiếng chim kêu âm thanh nghe lạ tai, rờn rợn. Bàn chân tướp máu, đầu gối rã rời, mắt hoa, đầu nặng, bụng đói, miệng khát. Có quả rừng không dám ăn, có nước suối không dám uống. Thế nhưng không hiểu sao những khó khăn gian khổ ấy không làm Tân nản lòng. Tinh thần vượt khó, tất cả cho nghề dạy học để quên đi nỗi buồn u uẩn trong cuộc hôn nhân đầu đời đã giục giã tiếp thêm sức mạnh cho Tân đi đến nơi thật xa xôi để thực hiện mục tiêu đã xác định. Tân tự nhủ mình hãy cố gắng lên, đừng chùn bước trong lúc gian nguy, vất vả này.

Đường mòn chênh vênh. Tán cây ken dày. Vực sâu hun hút… Ở rừng hình như trời tối nhanh hơn. Người địa phương nên Chủ tịch Giàng Mí Và biết bố trí thời gian, tốc độ đi để đến nơi nghỉ qua đêm đúng dự định. Trước mặt là bản người Mông. Nhà trình tường đất, mái lợp gỗ thông hiện ra lờ mờ trong sương khói. Ngôi nhà đầu bản là nơi nghỉ ngơi cho hai người. Chủ nhà và Chủ tịch Giàng Mí Và như đã có mối quen thân từ lâu. Bữa tối gồm có mèn mén ăn với ớt xào, rau cải nấu canh thịt chuột rừng. Lần đầu Tân ăn mèn mén, thứ bột ngô tơi xốp đồ qua chõ xôi, Tân đem và vào miệng như và cơm tẻ. Đột nhiên bột ngô bay xộc lên mũi, gây hắt hơi liên tục một hồi rồi ho sặc sụa. Uống vội muôi canh, mèn mén chẳng ra khỏi mũi mà ho và khó thở như lại tăng thêm. Mọi người cười. Mặt Tân đỏ bừng vì xấu hổ lẫn với ngột ngạt, rát họng, tức ngực. Phải một lúc khá lâu cảm giác bình thường mới dần dần trở lại.

Hai ngày lội suối băng rừng, Tân và Chủ tịch Giàng Mí Và đã về tới Phìn Ngan. Buổi chiều ngày thứ ba, thầy giáo Lê Quang Tân được Chủ tịch xã đưa đến trường học để bắt đầu công việc. Khu đất bằng phẳng nằm sát chân núi do công sức san đào của nhân dân địa phương, chỉ đủ chỗ cho dãy nhà ba gian, cột chôn xuống đất, mái lợp gianh, xung quanh thưng phên nứa đan long mốt. Gian đầu hồi được ngăn đôi, một nửa làm chỗ ở cho y tá Đỗ Văn Hào, một nửa còn lại để trống, đợi thầy giáo mới về thay thầy giáo Lê Văn Trực, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đã xin thôi nghề dạy học. Phía trước dãy nhà một khoảng sân rộng chừng ba mét dùng làm nơi vui chơi cho học sinh. Chủ tịch Giàng Mí Và bảo thầy giáo Tân ở đây, y tá Hào xuống bản chữa bệnh chắc cũng sắp về. Một mình trong nửa gian nhà chật hẹp, phên vách trống trải, nền nhà đầy rêu mốc vì đã lâu không có người ở, Tân cảm thấy chán nản, cô đơn. Anh đặt ba lô lên sàn nứa, cầm nắm bông chít được buộc làm chổi quét lên tấm giát giường được ken bằng những mảnh vầu rồi trải chiếc chiếu một người nằm lên đó. Bỗng nhiên từ bàn chân, cổ chân, lên đến bắp chân ngứa ran. Tân nhìn xuống thấy lấm tấm những bãi như những hạt vừng đen, vội vàng lấy tay xoa mạnh, những hạt vừng đen nhảy tanh tách ra tứ phía, để lại những vạt đỏ mọng vô cùng ngứa ngáy, khó chịu. Vừa lúc đó y tá Hào về đến nơi. Gặp Tân như bắt được vàng, nỗi vui mừng của Hào không sao kể xiết. Chưa kịp bỏ túi thuốc khoác vai, Hào đã tay bắt, mặt mừng, giọng hồ hởi như đã quen biết Tân từ lâu:

- Mới đến hả, nghe tin từ mấy hôm nay, có thầy giáo mới về trường thế mà bây gi mới gặp, khỏe chứ, quê ở đâu, tên gì nhỉ…?

Một loạt câu hỏi của người mới quen tới tấp bay về phía Tân, khiến anh không biết trả lời câu nào trước, câu nào sau, đành nhớ đến đâu trả lời đến đó. Người cũ, người mới nhanh chóng trở nên gắn bó, hòa đồng.

Đêm đầu tiên Tân và Hào ngủ chung giường. Lạ nhà, khí hậu vùng cao lạnh buốt song Tân vẫn ngủ ngon lành vì đã mấy ngày liền đi bộ. Nửa đêm tỉnh giấc thấy người ngứa ran, không thể nằm yên, đành bật người ngồi dậy. Hào giải thích vì lạ hơi nên bọ đất, miền xuôi gọi là bọ chó tìm đến. Những mảng lấm tấm như hạt vừng đen ban chiều bám vào chân Tân chính là chúng. Loại côn trùng này khi đã quen hơi người sẽ không gây phiền phức gì. Ngày hôm sau Tân và Hào tập trung tu sửa nửa gian nhà bỏ không làm nơi ở cho Tân. Quen tay, chặt nứa, đan vách, làm cửa Hào đảm nhận tất cả. Tân chỉ phải làm những việc nhẹ nhàng như quét dọn, kê, xếp… Có bàn tay tu bổ của con người, căn phòng bỏ hoang lâu ngày dần dần trở nên ấm cúng. Bữa ăn có hai người, y tá Hào bảo thấy ngon miệng hơn, mặc dù hết ngày này, tháng khác chỉ có măng rừng chấm muối ớt. Họa hoằn mới được bữa tươi khi đồng bào trong bản đem cho miếng thịt gà, thịt lợn, quả trứng hoặc con cá suối… Hai tháng một lần xuống chợ huyện cùng trưởng bản, nhờ ngựa thồ gạo mua tiêu chuẩn từ cửa hàng lương thực về ăn. Dầu thắp đèn cũng phải tiết kiệm. Nhiều lúc còn đốt nứa, đốt củi lấy ánh sáng thay đèn. Không có đài nghe tin tức. Báo chí, thư từ hàng tháng mới có một lần. Tân không ngờ đời sống đồng bào vùng cao lại khó khăn, gian khổ đến vậy. Những ngày đầu, nhất là những ngày Hào xuống bản thăm khám, chữa bệnh cho bà con nhân dân, một mình ở nhà đã có lúc Tân cảm thấy nao lòng. Tân muốn tự chiến thắng mình bằng cách lao vào công việc. Kế hoạch tổ chức lại lớp học sau rất nhiều ngày tan vỡ vì không có giáo viên được Tân xây dựng cụ thể, rõ ràng. Chủ tịch xã cho dân chặt nứa đan thưng phên vách, chặt gỗ sửa lại bàn ghế, quét dọn trong lớp, nhổ cỏ ngoài sân khiến cho khu lớp học trở nên sạch sẽ, gọn gàng. Quan trọng nhất, khó khăn nhất vẫn là việc vận động học sinh đi học. Tân có thuận lợi, từ khi có giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng tại Chi bộ xã Phìn Ngan đã được Bí thư Chi bộ, Chủ tịch xã quý mến, giúp đỡ hết lòng mọi công việc của trường học. Ngày nào Tân cũng cùng Trưởng bản, có khi cả Chủ tịch, Bí thư đến từng nhà vận động nhân dân cho con em đi học. Tập quán lạc hậu từ nhiều đời nay rất khó thay đổi. Con trai, con gái lấy vợ, lấy chồng từ khi còn rất nhỏ. Nạn tảo hôn đã gây biết bao hệ lụy cho cuộc sống con người vẫn tiếp diễn từ đời này sang đời khác. Quan niệm của bà con “đi học cũng ăn cơm, không đi học cũng ăn cơm” cản trở không nhỏ đến việc vận động các gia đình cho con em đến lớp. Với phương châm “mưa dầm thấm lâu”, kiên trì bám dân, bám bản, cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, đã có những lần Tân ở dưới bản hàng tuần, giúp dân thu ngô, gặt lúa, lấy củi, chăn lợn, chăn bò… Bà con quý mến thầy giáo lúc đầu cho con trai, con gái bé trong nhà đi học. Sau đó nghe lời thầy giáo cho cả con trai, con gái lớn đi học cái chữ, hy vọng đời sống của con cháu mình sau này sẽ khá hơn.

Trường học ở xã vùng cao thời điểm này không phân biệt cấp học, bậc học. Do vậy giáo viên cấp II, cấp I, vỡ lòng, mẫu giáo xếp hạng như nhau. Mỗi người đều có thể được Hiệu trưởng phân công dạy bất cứ lớp nào khi có con em đồng bào các dân tộc đến học. Ngày đứng lớp một buổi hoặc hai buổi. Mỗi buổi dạy ghép hai lớp, tùy theo trình độ học sinh để chia thành lớp. Thí dụ lớp 1 có 4 học sinh, lớp 2 có 3 học sinh. Hai lớp ngồi chung một phòng. Lớp 1 làm bài tập toán, lớp 2 học tập đọc. Lớp 1 tập viết, lớp 2 học toán… Cứ theo nguyên tắc một lớp tự làm bài, một lớp nghe giáo viên giảng mà thực hiện chương trình, sách giáo khoa các môn trong năm học. Tân vừa làm Hiệu trưởng, vừa làm giáo viên. Trường Phìn Ngan có 4 lớp được chia theo trình độ hiện có của học sinh. Lớp vỡ lòng 8 em, lớp một 10 em, lớp hai 5 em, lớp ba 6 em. Buổi sáng ghép hai lớp vỡ lòng và lớp một; buổi chiều dạy ghép hai lớp 2 và 3. Lúc đầu bỡ ngỡ từ cách dạy ghép vần đến tập viết, rồi tập đọc hay làm toán cộng trừ. Lâu dần thành quen, Tân tự mình tìm ra cách dạy sao cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ nhất các bài học có trong sách giáo khoa. Những khó khăn về chuyên môn Tân có thể hoàn toàn chủ động tìm cách khắc phục. Riêng phần đảm bảo duy trì sĩ số học sinh đến lớp hàng ngày có khi, có lúc Tân tỏ ra bất lực hoàn toàn. Nhiều lý do khiến học sinh dễ dàng nghỉ học ở nhà. Lý do nào cũng có nguy cơ nếu không khéo vận động, thuyết phục sẽ làm cho học sinh thôi học mãi mãi. Những ngày mùa đông giá lạnh, nước sắp đóng băng, hầu hết học sinh phải nghỉ học ở nhà vì thiếu quần áo mặc. Hơn nữa củ mài, củ sắn trên rừng không lấy được nên cái đói níu giữ chân người không cho ra khỏi cửa. Chưa nói đến những ngày mùa vụ thu ngô, thu lúa, giỗ tết, đám cưới, đám ma… thường xuyên có ở mỗi nhà, mỗi bản. Họp Chi bộ Tân đề xuất với Chủ tịch xã, Bí thư Chi bộ cùng các đảng viên tìm cách tháo gỡ khó khăn này, nhưng bế tắc vẫn hoàn bế tắc. Chi bộ chỉ vẻn vẹn có 5 đảng viên, lực lượng quá mỏng không thể đi hết các bản, các nhà vận động, nhắc nhở từng em học sinh. Trong khi đó cán bộ đảng viên của xã hầu hết cũng nghèo đói. Một mình tự thân vận động, Tân tìm đến các nam nữ thanh niên đã có chồng, có vợ nhưng chưa có con hoặc mới chỉ có một, hai đứa, tập hợp họ, lập thành Chi đoàn thanh niên, hướng dẫn sinh hoạt, hội họp, tham gia văn nghệ để họ trở thành nòng cốt trong mọi phong trào, trước mắt là phong trào thi đua học chữ của thanh thiếu niên trong xã. Nhiều người hưởng ứng lời kêu gọi của thầy giáo Tân, thu xếp việc nhà, tham gia sinh hoạt Chi đoàn thanh niên. Có gia đình cả hai vợ chồng cùng đăng ký tham gia vì có bố mẹ đồng ý trông con giúp. Tiếng hát, tiếng cười trong các buổi sinh hoạt thanh niên đã làm cho các bản Mông vốn hẻo lánh, âm u trở nên nhộn nhịp, vui vẻ. Nhiều thanh thiếu niên biến giai điệu các bài hát Tân dạy thành tiếng khèn, tiếng sáo lảnh lót, thiết tha nơi lưng đèo, chân núi cứ mỗi độ Tết đến, xuân về.

Giàng A Chơ, con trai thầy mo Giàng A Khin sắp lên 15 tuổi mà mới học lớp ba. Chơ thích đi học nhưng không phải vì cái chữ mà chỉ vì muốn được nhìn con gái đẹp. Nó thích Seo Ly ở bản Sén Mần nên ngày nào đến lớp nó cũng tìm cách để được ngồi gần người nó thích. Seo Ly ngoan ngoãn, chăm học và rất yêu bố mẹ. Từ ngày trường học không có thầy giáo, Seo Ly buồn lắm. Quanh quẩn ở nhà giúp mẹ tẽ ngô, chăn lợn, lấy củi… buồn chán đến mềm cả chân tay. Hôm được tin trường học có thầy giáo mới, Seo Ly là người đến đầu tiên. Nhờ có Seo Ly mà thầy giáo Tân biết được nhà của nhiều học sinh ở bản Sén Mần cùng các bản xung quanh. Ngay từ lần gặp đầu tiên Seo Ly đã rất quý mến thầy giáo Tân. Em chủ động rủ các bạn học cùng lớp với mình trước đây đi học. Giàng A Chơ thấy vậy cũng xăng xái đi cùng Seo Ly gọi bạn bè đến lớp. Chơ có dáng người thấp, béo. Đặc biệt giọng nói khàn khàn  như tiếng kêu con vịt đực bên máng cám ngô dành cho lũ lợn của nó, không hiểu sao lại gây được thân thiết với nhiều đứa con trai trong bản. Lũ con trai nghe theo lời nó kéo đến lớp rất đông. Bỗng một ngày gần Tết năm ấy, cả Giàng A Chơ và Seo Ly cùng nghỉ học. Lũ con trai, con gái đến lớp cũng chỉ còn lèo tèo vài đứa. Hỏi ra mới biết thầy mo Giàng A Khin đã được bố mẹ Seo Ly đồng ý gả Seo Ly về làm dâu họ Giàng, làm vợ của Giàng A Chơ. Vì thế tất cả những người bạn thân thiết của Seo Ly và Giàng A Chơ đều nghỉ học, ăn cưới. Sau đó nghỉ luôn ở nhà để ăn Tết nguyên đán theo phong tục của người Mông. Thầy giáo Tân lo lắng, đến gặp các trưởng bản, rồi Chủ tịch, Bí thư nhưng đều được trả lời “Xưa nay vẫn thế, không nói được đâu, đợi khi nào hết cưới, hết Tết học sinh lại đi học thôi mà!”. Tân định họp Chi đoàn nhờ các anh chị gọi học sinh ra lớp nhưng chẳng còn ai để họp, mọi người đã về đám cưới cả rồi. Tâm trạng Tân thực sự bối rối, ngao ngán.

Q.B

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter