• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Âm vang khèn bè
Ngày xuất bản: 25/11/2019 2:38:37 SA

        Ký của Quang Văn

Trên ngôi nhà sàn nhỏ giữa cánh đồng Mường Lò mênh mông, nghệ nhân Lò Văn Biến đưa chiếc khèn bè lên thổi, tiếng khèn lúc ngân vang, rộn rã, lúc trầm lắng, thổn thức. Tôi mải mê nhìn chiếc khèn đơn sơ, mộc mạc, lặng đi, tan ra cùng tiếng khèn đầy mê hoặc. Tiếng khèn như tiếng đồng vọng của núi rừng, sông suối, hòa cùng nhịp sống của người dân Mường Lò. Có lẽ vì thế, mỗi khi tiếng khèn bè của người Thái cất lên, ai ai cũng muốn nhảy múa, cũng muốn cầm tay nhau vào xòe. Tiếng khèn bè đã làm rung động biết bao trái tim. Nhấp một ngụm nước chè, hất lại mái tóc bạc trắng như tiên thả dài, lơ phơ, nghệ nhân Lò Văn Biến kể cho tôi nghe truyền tích về chiếc khèn bè, chuyện rằng: “Xưa, có đôi trai gái cùng lớn lên, quấn quýt bên nhau. Cứ thế họ yêu nhau lúc nào không hay. Tình yêu ngày càng thắm thiết. Nhưng chàng trai thì quá nghèo trong khi cô gái là con một gia đình giàu có nhất mường. Khi chàng trai đánh tiếng muốn cưới cô gái làm vợ thì gặp phải sự phản đối kịch liệt của cha mẹ cô gái. Biết không thể lay chuyển được cha mẹ cô gái, chàng trai quyết chí đi làm ăn xa, tìm cách kiếm tiền về cưới nàng làm vợ. Ngày chàng trai lên đường, hai người cùng nhau hẹn ước dù chàng có đi bao nhiêu năm nàng cũng đợi. Tiễn người yêu đi, cô gái đem miếng sáp ong dùng dệt vải còn in dấu tay của mình tặng chàng. Chàng trai ra đi trong túi chỉ có miếng sáp ong của người yêu và một con dao nhỏ. Chàng cứ thế băng rừng, vượt núi mà đi. Bỗng một ngày chàng gặp một con suối lớn, nước lũ ầm ào khiến chàng không qua được. Ngồi đợi nước rút bên bờ suối, chàng thấy nhớ người yêu cồn cào. Buồn quá, chàng lấy dao chặt lấy ống nứa tép bên suối, tỷ mẩn gọt tỉa rồi đưa lên miệng thổi thấy phát ra tiếng kêu. Cứ thế chàng trai chặt tới 12 ống nứa to nhỏ, dài ngắn khác nhau, mỗi ống có kích cỡ khác nhau lại phát ra âm thanh khác nhau. Chàng liền tìm cách ghép các ống nứa lại với nhau, tìm một ống nứa to, khoét thành một cái bầu để cắm tất cả các ống nứa vào. Nhớ tới miếng sáp ong của người yêu trong túi áo, chàng bèn đem ra trát vào bầu nứa. Chiếc khèn lúc này đã chắc hơn nhưng thổi lên chàng vẫn có cảm giác thiếu thiếu một thứ gì đó. Chàng nhận ra âm thanh phát ra từ những ống nứa đều là âm thanh sóng đôi, tròn vẹn như những cặp đôi có vợ có chồng, có nhà có cửa, vậy thì hẳn cần phải có cặp đôi trẻ chưa vợ chưa chồng mới đủ. Nghĩ vậy, chàng trai bèn chặt thêm hai ống nứa nhỏ gắn thêm vào. Quả nhiên thổi lên nghe lúc trầm, lúc bổng, sâu lắng, ngân nga. Chàng trai đã đem theo chiếc khèn bên mình làm bầu bạn, giúp chàng vượt qua khó khăn trên đường đi. Sau một thời gian, chàng trai kiếm đủ tiền, trở về dựng nhà và cưới được cô gái làm vợ. Ngày ấy, người Thái chưa có nhiều loại nhạc cụ như bây giờ. Trong những dịp lễ tết, cưới hỏi hay mừng nhà mới, người Thái cũng hát hò và cùng nhau múa xòe nhưng không có âm nhạc dẫn dắt. Một hôm, trong bản có gia đình tổ chức mừng nhà mới. Khi cơm rượu đã no say, người ta lại tổ chức hát múa. Vì muốn góp vui, chàng trai liền về nhà mang khèn đến thổi. Tiếng khèn của chàng khiến cả bản mường tưng bừng, rộn rã, điệu xòe như lôi cuốn uyển chuyển hơn. Kể từ đó, cuộc vui nào của bản, mường cũng không thể thiếu tiếng khèn bè. Câu chuyện về chiếc khèn của chàng trai họ Lò và người con gái được khắp chín bản mười mường người Thái cổ nhắc đến như một biểu tượng của tình yêu bất diệt. Ống nứa dong dỏng như người con trai, nhựa sáp ong mềm mại thơm nồng tựa như người con gái. Sáp ong tỏa hương thơm dịu ngọt làm ấm lòng người con trai thổi khèn và người con gái nghe khèn. Tâm hồn và trái tim rung động, đưa đẩy, sự linh hoạt trên đầu ngón tay người con trai tạo âm hưởng đung đưa, dìu dặt, mượt mà, quyến rũ, như một lời khẳng định về lòng chung thủy của chàng trai nơi cô gái…”. Nghệ nhân Lò Văn Biến ngừng kể, ánh mắt xa xăm. Có lẽ ông đang hồi tưởng lại những ký ức đẹp cùng chiếc khèn bè. “Tiếng khèn làm đẹp bản Mường/ Như nắng dệt gấm trên quê hương/ Như núi lam xanh sương đêm vừa gội/ Như suối hát tình ca…”. Ông Biến cao hứng thổi một điệu khèn rồi lại chìm vào dòng hồi tưởng: “Ngày ấy, những đêm trăng sáng, đám trai bản cùng mình thường đi dạo khắp bản, mỗi tốp vài chiếc khèn bè thổi cho vui bản, vui mường. Về khuya, khi những ngọn đèn đã tắt, tiếng khèn bè bắt đầu đi lẻ, thì thầm từng tiếng cạnh bờ rào hay trước cổng nhà các cô gái. Càng đêm tiếng khèn càng tha thiết, đó là những lời thổ lộ, tâm tình yêu thương. Đêm này qua đêm khác, tiếng khèn làm cho các cô gái trăn trở, rạo rực rồi nhớ thương chờ đợi. Con gái Thái đọc được từng lời khèn bè, phân biệt được tiếng khèn của người mình yêu hay của người khác. Khi đã yêu, tai người ta tinh lắm đấy!...”. Nghệ nhân Lò Văn Biến cầm chiếc khèn bè, thổi cho tôi nghe điệu "Púc xao" (Gọi bạn tình): "Dậy đi em! Dậy đi em!/ Anh hồi hộp nâng khèn/ Trăng vàng sóng sánh/ Đầu khèn chạm vào hò hẹn/ Sao hôm đậu xuống mái nhà/ Đêm trở mình da diết nhớ sàn hoa/ Đầu khèn chạm vào đợi chờ/ Sao mai lung linh cửa sổ/ Đầu khèn chạm vào nỗi nhớ/ Trăng neo khau cút bâng khuâng/ Em như nàng tiên mùa xuân/ Bước ra từ câu khắp... ". Vợ nghệ nhân Lò Văn Biến ngồi gõ nhịp, mắt mơ màng xa xôi, có lẽ bà cũng đang trôi theo tiếng khèn thời son trẻ. Tình yêu của người Thái đến từ tiếng khèn bè, thật giản dị nhưng cũng vô cùng lãng mạn…

Ông Lê Doãn Hợp- Chủ tịch Hội Xác lập kỷ lục Việt Nam trao quyết định công nhận kỷ lục Việt Nam cho chiếc khèn bè Thái của Thị xã Nghĩa Lộ

Chỉ tay lên bức vách có treo rất nhiều loại nhạc cụ, nghệ nhân Lò Văn Biến giới thiệu: “Hệ thống nhạc cụ của người Thái rất đa dạng và phong phú, gồm bộ gõ, các loại pí, đặc biệt là khèn bè, đó là nhạc cụ chủ đạo và là biểu tượng độc đáo của nền âm nhạc Thái, gắn bó với đời sống tinh thần và không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi, lễ tết hoặc các ngày hội trọng đại… Xưa hễ là con gái Thái thì phải biết múa xòe, dệt vải, con trai phải biết thổi khèn bè…”. Tiếng khèn bè làm xao xuyến lòng người, mê say đêm hội, rộn rã bản mường. Âm thanh của khèn bè vừa có giai điệu lại vừa có phần đệm tạo cho người nghe cảm giác thư thái, yên bình; khèn bè còn mang những nét thâm trầm của sự trải nghiệm. Giữa đêm trăng, bên những ngôi nhà sàn, hay trong vòng xòe tiếng khèn bè lúc da diết cháy bỏng, lúc lại ngân nga, trong trẻo như tiếng suối reo, như nhịp đập trái tim. Tiếng khèn bè là khúc dạo đầu không thể thiếu cho mối tình của các chàng trai, cô gái Thái. Có lẽ vì thế, khèn bè trở thành sản phẩm nghệ thuật kết tinh cả tâm hồn, trí tuệ và tình yêu đôi lứa.

Tôi nhìn chiếc khèn bè trên tay nghệ nhân Lò Văn Biến, chiếc khèn được sử dụng nhiều, lên màu bóng nhẫy. Chiếc khèn bè đã gắn bó với ông từ thời trai trẻ cùng biết bao kỷ niệm. Khèn cùng ông biểu diễn ở bản, ở mường, tham dự các liên hoan, hội diễn nghệ thuật quần chúng. Tôi hỏi: “Giờ Mường Lò có nhiều người biết thổi khèn bè như ông không?”. Nét mặt nghệ nhân trầm ngâm. Có lẽ tôi đã chạm vào nỗi trăn trở của ông bấy lâu. “Những người thổi khèn bè được như mình còn ít lắm. Thanh niên giờ nhiều người xếp khèn bè lên chái bếp, không thuộc lòng các làn điệu…”. Ngừng một lúc, tôi thấy mắt ông lại ánh lên niềm vui: “Nhưng mấy năm gần đây thì khác rôi! Mình đã mở được lớp dạy thổi khèn bè ngay tại nhà, lớp đầu tiên đã có ba mươi hai người đến học. Rất mừng là có nhiều thanh niên đến xin học, còn thổi tốt cả mười hai bài khèn cổ…”. Đó sẽ là những hạt giống lưu giữ và phát triển tiếng khèn bè trên quê hương Mường Lò, Nghĩa Lộ. Đêm đêm tiếng khèn bè vẫn vang trên ngôi nhà sàn bé nhỏ của nghệ nhân. Lớp học bắt đầu từ tám giờ tối đến rất khuya. Với nỗ lực của nghệ nhân Lò Văn Biến cùng sự ủng hộ của thị xã Nghĩa Lộ, Câu lạc bộ nhạc cụ dân tộc Thái Mường Lò đã được thành lập do ông làm chủ nhiệm. Với 21 thành viên chủ chốt, Câu lạc bộ đã có mặt ở hầu hết các sự kiện văn hóa do địa phương tổ chức. Tiếng khèn bè đã sống dậy cùng tiếng khắp, điệu xòe và những đêm hạn khuống đắm say.

Nghệ nhân Lò Văn Biến vui mừng dẫn tôi đi xem chiếc khèn bè do chính tay ông cùng các nghệ nhân vùng Mường Lò chế tác, đã xác lập kỷ lục guines chiếc khèn bè lớn nhất Việt Nam tại Lễ khai mạc Tuần Văn hóa- Du lịch Mường Lò 2017. Chiếc khèn bè cao 2m, dài 5m. Điều đặc biệt, chiếc khèn không phải mô hình tượng trưng mà có công năng thực sự, được chính nghệ nhân Lò Văn Biến thổi trong màn trình diễn đầu tiên của lễ hội. Để làm được chiến khèn bè này, ông cùng các nghệ nhân phải mất chừng một tháng. Tôi hỏi: “Ở Mường Lò có nhiều người biết chế tác khèn bè không?”. Nghệ nhân Lò Văn Biến lại thở dài: “Còn vài người thôi, bởi làm được một chiếc khèn bè không phải dễ…”. Khèn bè được cấu tạo bằng 14 ống nứa, loại nứa tép bánh tẻ, nhỏ, mỏng, ít mấu và xếp từ thấp đến cao. Khèn có 2 bè, mỗi bè 7 ống. Bầu khèn làm bằng gỗ, một đầu khoét thủng để thổi, một đầu bịt kín bằng sáp ong đá. Độ dài của ống khèn tùy thuộc vào nghệ nhân làm khèn, nhưng quan trọng là phụ thuộc vào lưỡi khèn. Lưỡi khèn được làm bằng đồng hoặc bạc trắng đánh thật mỏng, gắn trong các ống khèn. Âm thanh của khèn phụ thuộc vào cách cài những lưỡi khèn và độ chính xác về khoảng cách của những nốt bấm. Khèn bè dài, tiếng trầm thì dùng cho người già; khèn ngắn, tiếng nhỏ, thanh dùng cho thanh niên. Vì khả năng biểu cảm phong phú nên việc chế tác khèn bè đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế, kỳ công và cần có trình độ thẩm âm cao. Khèn bè là tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo thể hiện sự khéo léo, tài hoa của người nghệ nhân, được tạo nên bởi sự sáng tạo, tình yêu con người. Trăn trở với suy nghĩ chẳng bao lâu nữa sẽ không còn người biết chế tác khèn bè, ý thức được trách nhiệm của mình, một lần nữa nghệ nhân Lò Văn Biến lại đi tìm người, cặm cụi truyền dạy cách chế tác khèn bè.

Nghệ nhân Lò Văn Biến tâm sự: “Từ nhỏ mình đã được bố cho đi học chữ Thái, lớn lên, được đọc và tiếp xúc với nhiều sách Thái cổ, nhiều loại nhạc cụ, tình yêu, đam mê với văn hóa Thái đã ăn vào trong máu. Sau này theo ngành sư phạm, có hơn mười năm đứng lớp, thấy văn hóa dân tộc ngày càng mai một mình không khỏi trăn trở…”. Không nói nhiều về mình nhưng tôi biết, ngoài việc bảo tồn, truyền dạy và phát huy giá trị khèn bè, nghệ nhân Lò Văn Biến còn là người đầu tiên mở lớp dạy chữ Thái cổ do ông tự biên soạn giáo án và đứng lớp. Cả một phong trào học chữ Thái cổ ở Mường Lò được hình thành và phát triển. Có chuyên gia người Nhật, Thái Lan, Hàn Quốc đến ở nhà ông cả tháng để học. Năm 2007 nghệ nhân Lò Văn Biến được giao chủ biên “Bộ tài liệu dạy tiếng và chữ Thái cổ Mường Lò” theo yêu cầu của Bộ Nội vụ để dạy cho cán bộ, viên chức đang công tác tại vùng dân tộc, miền núi. Tiếp đó nghệ nhân Lò Văn Biến bắt tay vào sưu tầm và truyền dạy 6 điệu xòe cổ cũng như xây dựng hồ sơ đề nghị múa xoè ở Mường Lò trở thành di sản văn hoá phi vật thể. Xong việc, ông lại tất bật xây dựng hồ sơ về lễ hội Hạn Khuống, hoàn thiện hồ sơ gửi lên Trung ương đề nghị công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Ông cũng là người góp công lớn vào việc khôi phục các lễ hội như “Xên bản xên mường”, “Lồng tồng”. Nhờ có ông, những tài liệu liên quan đến lịch sử, văn hóa của người Thái như: Hồ sơ về khu Rừng hồn trâu và Nậm Tốc Tát, hồ sơ về khu di tích lịch sử bản Viềng Công… đã được dịch và lưu lại cho thế hệ sau. Sau mỗi thành công, người Thái Mường Lò vui một thì nghệ nhân Lò Văn Biến vui mười bởi công sức của ông đã được đền đáp. Với những đóng góp trong việc lưu giữ, truyền dạy và phát triển văn hóa Thái, nghệ nhân Lò Văn Biến đã được Chính phủ phong tặng Nghệ nhân ưu tú. Sau khi hoàn thành tất cả các công việc nhiều năm đau đáu, giờ nghệ nhân Lò Văn Biến lại trở về với tiếng khèn bè.

Hôm nay, về với Mường Lò, trong vòng xòe nồng say cùng các cô gái Thái dịu dàng, uyển chuyển hay trên sàn Hạn khuống, giữa đêm hội, đêm trăng… ta lại bắt gặp âm thanh lúc da diết, trầm ấm, lúc thôi thúc, cứ thấm dần, say mê như uống phải một thứ men. Tiếng khèn vang lên như hơi thở, niềm vui, nỗi buồn, là tiếng lòng, còn là biểu tượng cho sự gắn kết cộng đồng, biểu tượng văn hóa độc đáo của người Thái Mường Lò. Khèn không chỉ dành riêng cho những chàng trai, cô gái mà là tiếng khèn của cả người già lẫn người trẻ, cả bản, cả Mường. Rời Mường Lò, tôi không thể nào quên được hình ảnh nghệ nhân Lò Văn Biến cùng chiếc khèn bè. Đã hơn tám mươi tuổi, nghệ nhân Lò Văn Biến vẫn đang ngày đêm làm việc hết mình vì sự nghiệp bảo tồn và phát huy vốn văn hóa của dân tộc Thái Mường Lò, Nghĩa Lộ. Lòng tôi chợt bùi ngùi trước câu nói lúc chia tay nghệ nhân: “Phải chạy đua thôi, thời gian của mình còn ít lắm!...”.

 

                                                                                                                                 Q.V

 

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter