• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Người lo chuyện “Bao đồng”
Ngày xuất bản: 25/11/2019 2:29:13 SA

Ký của Lương Thi Tuyết Nga

Trong một chuyến đi thực tế, tôi được đồng chí Lê Quang Minh- Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Văn Chấn- giới thiệu thầy giáo Vũ Mạnh Cường hiện đang giảng dạy tại Trường TH&THCS Hoàng Văn Thọ xã Đại Lịch huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái là một tấm gương tiêu biểu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Vốn là giáo viên, tôi tin nhân vật này sẽ ẩn chứa rất nhiều điều thú vị. Tôi xin cuộc gặp, đáp lại đề nghị của tôi là giọng nói đầy nội lực nhưng vẫn lộ rõ vẻ khiêm nhường:

- Vâng, nhưng cháu cũng bình thường thôi ạ.

  Hẹn, lỡ hẹn để rồi đến tận một chiều muộn ngày cuối tuần tôi mới có cơ hội gặp mặt vì cả hai cô cháu đều có lịch kín mít. Khi tôi đang áp điện thoại vào tai, ngó nghiêng để tìm người cần gặp thì:

-  A, cháu nhìn thấy cô rồi, áo xanh lét!

Vòng xe quay lại, hình ảnh đầu tiên về nhân vật của mình là một chàng trai có vẻ bề ngoài xuềnh xoàng và nụ cười thân thiện. Bên ly café, sau cái bắt tay làm quen, câu chuyện dần trở nên cởi mở. Tôi gợi chuyện:

- Được biết, cháu vừa là thầy giáo, vừa chữa bệnh bằng thuốc Nam lại cũng say mê tham gia các hoạt động từ thiện?

-  Dạ, thầy giáo thì đúng rồi, làm từ thiện thì cháu chỉ là người kết nối, còn với nghiệp thuốc thì cháu mới chỉ là “băm y” thôi cô.

Tôi bật cười trước danh xưng của Cường, cảm giác gần gũi, thân mật như những người bạn cũ. Chuyện bắt đầu từ mơ ước của cậu bé nhà nghèo ở miền quê giàu truyền thống cách mạng khát khao được làm thầy giáo và thầy thuốc. Năm 1999, Cường tốt nghiệp chuyên ngành Mỹ thuật của Trường Cao đẳng Nhạc- Họa Trung ương nay gọi là Trường Đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương. Năm 2000 được tuyển dụng làm giáo viên hợp đồng, năm 2002 được xét vào biên chế và cũng từ đó đến nay thầy liên tục được phân công làm Tổng phụ trách đội. Tổng phụ trách, không có năng khiếu hát, nhạc, thầy Cường chỉ có lòng yêu trẻ, sự nỗ lực, luôn trăn trở, suy nghĩ, sáng tạo các hoạt động phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học trò. Sự tâm huyết của thầy có một sức lan tỏa, lôi cuốn mạnh mẽ những đứa trẻ nông thôn vốn từ chỗ nhút nhát, e dè đến hồ hởi, tự tin, gắn kết và mạnh dạn hơn trong giao tiếp.

Để các hoạt động ngoài giờ lên lớp không khô cứng, nhàm chán thầy Cường đã xây dựng kế hoạch, xin ý kiến chỉ đạo của Ban Giám hiệu, phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường, các anh chị phụ trách  lồng ghép các nội dung giáo dục vào các tiết chào cờ đầu tuần, các ngày kỷ niệm, ngày lễ… nhằm giúp học sinh ôn lại truyền thống yêu nước, đoàn kết, kiên cường, dũng cảm chống giặc ngoại xâm của cha ông. Thầy Cường đã vận dụng chính đặc thù ban môn giảng dạy của mình kể chuyện “Khúc nhạc quê hương” bằng tranh. Tác phẩm gồm 28 trang, 16 bức vẽ trên khổ giấy A4 nói về gương chiến đấu anh dũng của liệt sĩ thiếu niên Hoàng Văn Thọ, những vật dụng chứa đựng các giá trị tinh thần, đạo lý tốt đẹp của mảnh đất đã vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý “Xã Anh hùng Lực lượng vũ trang”Nhiều thế hệ học sinh nhà trường đã tiếp nhận bài học đạo lý từ các bức vẽ và lời văn một cách tích cực nhất. Phong trào hoạt động Ðội của Liên đội Trường Tiểu học và Trung học cơ sở xã Ðại Lịch ngày càng phát triển, các hoạt động của học sinh đi vào nền nếp, chất lượng hai mặt giáo dục của nhà trường được khẳng định, tỷ lệ huy động 100% trẻ trong độ tuổi đến trường, duy trì chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Cùng với các thành tích trong công tác đội, công tác chuyên môn thầy giáo Vũ Mạnh Cường luôn có ý thức tự học, tự rèn nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy vì vậy liên tục đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi các cấp.

   Ngắm nhìn vẻ chất phác, nụ cười hồn hậu của Cường, tôi hỏi:

- Là giáo viên, là Tổng phụ trách Ðội, ở cả hai lĩnh vực đều đạt nhiều thành tích, muốn làm tốt những nhiệm vụ này đòi hỏi sự cố gắng rất nhiều vậy thời gian dành cho các hoạt động từ thiện khi nào?

Ánh mắt Cường chợt xa xăm:

   - Thực ra, để hoàn thành tốt nhiệm vụ, về phía bản thân cháu luôn xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của mình để nỗ lực phấn đấu, tập thể cán bộ giáo viên công nhân viên nhà trường luôn đoàn kết, tạo điều kiện giúp cháu đạt kết quả tốt trong công tác chuyên môn cũng như công tác đội. Còn hoạt động từ thiện thì cháu chỉ là người kết nối các mạnh thường quân với các đơn vị trường học, các mảnh đời, các số phận cần giúp đỡ thôi.

   Qua hồi tưởng, Vũ Mạnh Cường tâm sự, chứng kiến trẻ em trong làng đón trung thu còn quá nhiều thiếu thốn nên muốn làm điều gì đó cho các em nhưng vào thời điểm năm 2001 tháng lương hợp đồng mới chỉ  có 200 ngàn. Các thầy trích mỗi người 20 ngàn từ số tiền lương hợp đồng của mình để mua quà trung thu nhưng như muối bỏ bể. Làm thế nào? Trăn trở rồi tìm cách. Nát óc, giải pháp đi đến thống nhất là vận động bà con. Lúc đầu ngại nên ai cũng tự nhủ rằng mình có xin cho mình đâu để thêm quyết tâm. Cũng may, khi dân bản hiểu mục đích việc làm của thầy giáo thì đồng tình  ủng hộ. Kẻ ít người nhiều, góp gió thành bão vậy mà đủ một trung thu tạm gọi là tươm tất. Rồi thành lệ, năm nào cứ gần đến rằm tháng tám bà con lại ngóng thầy giáo đến nhà. Trẻ con thì nhấm nháy đi trung thu của thôn nhanh nhanh về kịp dự trung thu của thầy Cường. Loa đài tự túc, có sao dùng vậy bù lại hoạt náo viên là thầy giáo nên vẫn tưng bừng. Không dừng lại ở đó, ý tưởng xây dựng tủ sách dùng chung lại thôi thúc tìm kiếm nguồn tài trợ. Kết quả đã có được 7 tủ sách cho các trường vùng cao của huyện. Có sách, thiếu tủ trưng bầy, lại vận động phụ huynh học sinh đóng tủ còn phòng đọc là chính phòng khách của nhà thầy. Từ đó, hàng ngày cả gia đình thầy trở thành người phục vụ, vui vẻ, sẵn sàng đón tiếp các đối tượng là học sinh, trẻ em trong làng, người lớn hoặc bất cứ ai có nhu cầu mượn và đọc. Cảm hứng đọc sách đã được lan tỏa trong cộng đồng và chắc chắn rất nhiều điều tốt đẹp đã được khởi nguồn từ đó.

Việc làm của thầy đã tạo được sự cộng hưởng, một nhóm thiện nguyện đã kết nối để trao tặng 20 xuất quà mang tên “Học bổng mãi mãi” với số tiền được trao cụ thể: Tiểu học: 1,2 triệu; THCS: 1,4 triệu; THPT: 1,8 triệu; CĐ, ĐH: 10 triệu/ năm. Ðiều kiện nhận học bổng học sinh đang đi học từ lớp 1 trở nên, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, có ý chí vươn lên, kết quả học tập phải đạt khá, giỏi. Riêng đối với các em dân tộc Mông chương trình được mở rộng hơn chỉ cần lực học trung bình khá. Hiện tại trong 20 em được hưởng học bổng đã có ba em tốt nghiệp cao đẳng, đại học, số còn lại vẫn tiếp tục theo học. Ước mơ đến trường của học trò nghèo đã không còn dang dở.

Từ những thành quả đó, ý tưởng thành lập nhóm tình nguyện cùng kết nối thông tin, tìm những mảnh đời cần giúp đỡ thôi thúc. Thầy Cường mang ý tưởng bàn bạc cùng những người bạn. Cô giáo Nguyễn Hồng Thư là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Nhạc Họa Trung ương khi nắm bắt được ý tưởng của trò cũ đã khích lệ và gợi ý tên gọi của nhóm tình nguyện là HOA BAN TRẮNG. Trả lời câu hỏi ý nghĩa về tên gọi của nhóm, Cường giải thích: “Hoa ban được mệnh danh là bà chúa các loài hoa của núi rừng Tây Bắc, cánh hoa trắng tinh khôi hay hồng tím dịu dàng. Ý nghĩa của loài hoa này hiểu theo tiếng Thái là một loài hoa mang đến sự ngọt ngào, da diết, chứa đựng ước vọng lớn lao về một cuộc sống bình yên, no ấm. Đặt tên nhóm tình nguyện Hoa ban trắng là mong muốn hội tụ tất cả những gì gần gũi, tốt đẹp để sẻ chia, lan tỏa tới mọi hoàn cảnh khó khăn cần giúp đỡ.”. Kết quả từ những hoạt động tình nguyện ấy là lần lượt các chương trình “Dép 5 nghìn” cho học sinh các trường Mầm non, Tiểu học ở các xã vùng cao được hơn 10.000 đôi trên năm; chương trình “Tất ấm cho em” riêng nhóm tình nguyện Hoa ban trắng kết nối được 2000 đôi, các liên đội trong toàn huyện cũng cùng phát động giúp các em nhỏ vùng cao một mùa đông đôi chân không lạnh; chương trình “Nước sạch” đã mang đến cho ba đơn vị vùng đặc biệt khó khăn là xã An Lương, Sùng Đô, Suối Bu nguồn nước đảm bảo vệ sinh cho học sinh đến trường được khỏe và sạch hơn.

Là người con luôn đau đáu nỗi niềm mong mỏi được cống hiến sức mình cho quê hương, thầy Cường còn vừa vận động bà con, vừa tự mình tìm cây giống để làm nên đường hoa với khát khao chính con đường rực rỡ sắc màu ấy sẽ tô đẹp cho quê hương, đón chân các du khách đến thả hồn cùng thiên nhiên và thưởng thức những tinh túy đất trời từ ẩm thực địa phương. Chia sẻ về mơ ước chưa thành vì nhiều lý do nhưng tôi đọc trong ánh mắt ấy niềm tin về sự thành công trong một ngày không xa bởi ý nghĩa của việc làm nói như cách của thầy Cường “Trăm năm trong cõi người ta/ Trồng hoa là để trẻ, già thảnh thơi”.

Sinh ra và lớn lên ở thị xã Nghĩa Lộ, công tác ở xã Đại Lịch huyện Văn Chấn, mảnh đất kiên cường, bất khuất trong kháng chiến, nỗ lực trong phát triển kinh tế, xã hội, cũng như nhiều người con của mảnh đất anh hùng, thầy giáo Vũ Mạnh Cường luôn tự hào về quê hương với rất nhiều sản vật như chè Suối Giàng, Sùng Đô, gạo Mường Lò, cốm Tú Lệ,  đủ loại rau nương, măng rừng, thảo dược tự nhiên, dồi dào, phong phú. Từ xa xưa, người dân đã biết khai thác nguồn dược liệu tại chỗ của địa phương để chữa bệnh. Những ông lang, bà mế bằng kinh nghiệm đúc kết truyền đời của mình đã chữa cho nhiều người bệnh được khỏe mạnh. Vốn sẵn niềm đam mê, thấy Cường tự tìm tòi cây thuốc, tìm thầy để tự học. Người đầu tiên đồng ý truyền nghề cho thầy là cụ Hoàng Thị Mộc. Tiếc rằng việc học chưa được bắt đầu thì cụ mất do tuổi già. Khi sự tiếc nuối chưa nguôi thì người cha kính yêu của thầy phát hiện mắc ung thư giai đoạn muộn. Khoảng thời gian đồng hành cùng cha chữa bệnh rồi chống chọi với những cơn đau và rời xa mãi mãi là khoảng thời gian khủng khiếp nhất. Niềm yêu thích được bốc thuốc cứu người và cảm giác xót thương cha một lần nữa thôi thúc mãnh liệt thầy giáo Vũ Mạnh Cường tìm học làm thuốc.

Như một sự sắp đặt, tình cờ thầy quen một cô bạn cùng tuổi là con thầy lang nổi tiếng ở Bắc Giang. Trước khi mất, ông truyền nghề cho con gái với lời dặn dò truyền nghề để làm thuốc cứu người chứ không được hành nghề. Cô bạn đã nhận lời dạy nghề thuốc qua zalo. Người dạy thì hết lòng, người học thì miệt mài, chăm chỉ tìm tòi cho ra các sản phẩm thiên nhiên an toàn cho cộng đồng. Rồi từ đó, người dân quen cảnh thầy giáo tranh thủ mọi thời gian rỗi lọ mọ khắp đồng xa bản gần, chằng trước buộc sau những tải cùng bó. Người già, người trẻ, học trò lớn bé cứ biết đâu có cây thuốc là mách, thầy chẳng quản đường xa, leo đèo vượt dốc, nắng mưa bất thường đến tìm bằng được. Nhiều lúc một mình, cực nhọc thầy vẫn tự trào: “Kiếp sau khéo hóa thành sâu/ Gặm cây, cắn lá chân đầu đều xanh”, còn dân bản đùa vui gọi là đồng nát.

Ngoài việc được truyền dạy nghề thuốc, thầy giáo Vũ mạnh Cường còn sưu thầm các bài thuốc dân gian, đọc trong sách, chọn lọc, điều chỉnh cho phù hợp với từng người bệnh. Quan điểm thuốc phải an toàn, tiện dụng, giá cả hợp lý, cây dễ kiếm, tận dụng được nguyên liệu địa phương để đáp ứng với mọi đối tượng, người nghèo cũng dùng được. Hàng ngày, sau giờ lên lớp thầy tranh thủ đi gần 50km từ Đại Lịch vào thị xã Nghĩa Lộ để làm thuốc, tối nấu cao tại nhà mẹ đẻ do nhà vừa rộng rãi lại có mẹ đỡ đần. Thầy Cường tâm sự nếu bốc thuốc cho bệnh nhân bng lá cây, người bệnh tự sắc uống thì lợi nhuận cao gấp 5, 6 lần nấu thành cao nhưng sử dụng thuốc dưới dạng cao lại tiện lợi cho người dùng. Thầy chọn cách tiện cho người dùng.

Dạy học, làm công tác đội, có nhiều thời gian gần gũi với học sinh, nhận thấy trẻ em độ tuổi thiếu nhi thường mắc các chứng bệnh về răng miệng, thầy đề nghị giáo viên chủ nhiệm lên danh sách học sinh bị đau răng, bị chấy để thầy lấy thuốc chữa miễn phí trên phạm vi không chỉ tại trường mình mà ở quy mô các trường trong huyện.

Đề cập tới khó khăn trong làm thuốc, thầy Cường bộc bạch, do nguồn dược liệu ngày càng khan hiếm, tự một mình thầy vừa tìm cây thuốc vừa chế biến sao tẩm, nghiền thuốc nên mất rất nhiều thời gian. Tôi tò mò, sao không để cả lá mà phải nghiền nhỏ thuốc cho mất thời gian. Thầy Cường mỉm cười giải thích, tại sao phải nghiền thuốc không hẳn là để giấu nghề mà chứa đựng một giá trị nhân văn khác. Tâm lý người bệnh thường tin vào cái gì đó cao siêu, nếu biết rằng những cây thuốc đó bình thường mọc dại quanh nhà thì đánh mất niềm tin dẫn tới thiếu kiên trì, bỏ thuốc vì thế sẽ không khỏi bệnh.

Ý kiến về sử dụng thuốc Tây hay thuốc Nam, thầy Cường cho rằng: Mọi sự so sánh đều khập khiễng! Tây y là sự nghiên cứu khoa học là thành tựu của ứng dụng kỹ thuật. Đông y là nghiên cứu từ kinh nghiệm ngàn năm, dân gian và tự nhiên. Không thể so sánh cái nào tốt hơn cái nào. Nếu Tây và Đông y kết hợp tốt thì sẽ có phác đồ điều trị hiệu quả nhất cho người bệnh.

Dù rằng thầy giáo Cường và nhóm tình nguyện Hoa ban trắng đã nhận được sự ủng hộ rất nhiều từ gia đình, Ban giám hiệu, tập thể cán bộ giáo viên công nhân viên nhà trường, Phòng Giáo dục và Đào tạo, chính quyền địa phương nhưng khó khăn cũng không phải là ít. Nguồn nguyên liệu tại chỗ dần kiệt quệ dẫn tới nhiều vị thuốc phải mua vì thế giá thành thuốc sẽ cao. Mơ ước phát triển nghề thuốc nam, hạn chế thuốc Tây tránh những tác dụng phụ ảnh hưởng tới sức khỏe người dân cần tạo được vùng dược liệu tại chỗ góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống của bà con thôn bản. Mơ ước của thầy không phải nhà đẹp, xe sang mà chỉ là có được một máy nghiền dược liệu, một nồi nấu cao áp xuất lớn vì như vậy sẽ đáp ứng được nhu cầu sử dụng thuốc Nam chữa bệnh cho cộng đồng.

Các sản phẩm do thầy Cường bào chế, sao tẩm đưa ra thị trường đều giành được sự ủng hộ, có những phản hồi tích cực từ người sử dụng như các loại túi tắm thơm, thảo dược ngâm chân, lợi gan, cao xương khớp, hương thảo dược, trà vối rừng... 100% các sản phẩm đều có nguồn gốc tự nhiên, lành tính, không có tác dụng phụ. Người viết bài cũng đã thử nghiệm gói ngâm chân, hương thảo dược, cao xương khớp và thực sự thấy hiệu quả. Các sản phẩm thảo dược Hoa ban trắng không chỉ phục vụ nhu cầu của bà con địa phương mà đã bay xa đến các tỉnh bạn. Sản xuất các sản phẩm thảo dược với quy mô ngày càng lớn là một nhu cầu có thực bởi nó đáp ứng được nguyện vọng chăm sóc sức khỏe an toàn của người dân.

Trời đã về chiều, người bệnh đã gọi giục, tôi biết thầy không còn nhiều thời gian nhưng vẫn muốn hỏi:

   - Tất cả những việc làm của thầy đều dành cho cộng đồng, cho những số phận kém may mắn, lúc nào cũng thấy thầy đang hối hả. Vậy thời gian nào dành cho vợ con?

   Đáp lại câu hỏi của tôi là tiếng cười ha hả như khỏa lấp sự thiệt thòi của gia đình:

   - Thì... đấy đấy cô! Thực lòng, cháu thấy mình may mắn có được người bạn đời đảm đang, khéo vén, hết lòng chăm lo cho gia đình và cậu con trai cũng ngoan ngoãn lễ phép. Có lẽ vì vậy cháu mới toàn tâm với công việc được cô ạ.

   Tôi gật đầu bày tỏ sự đồng tình, bỗng chợt nhớ tới những dòng thơ đầy tâm trạng của Cường: “Đừng bao giờ kêu khổ/ Thế gian còn ối người/ Bán mình cho mưa nắng/ Cơm mong nồi đầy thôi”. Trân trọng một thầy giáo, một thầy thuốc có trái tim nhân hậu, một con người tràn đầy nhiệt huyết với công việc, luôn khao khát sẻ chia, chuyên lo chuyện “bao đồng” như lời nhận xét của người bạn thân thiết về thầy. Ghi nhận những cống hiến tốt đẹp ấy, thầy giáo Vũ Mạnh Cường đã vinh dự được trao tặng Bằng khen của Sở Giáo dục và Đào tạo về công tác chuyên môn, Bằng khen của Tỉnh đoàn về công tác thanh thiếu nhi, bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên bái về công tác xã hội và gần nhất được tôn vinh là một trong những tấm gương tiêu biểu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Quý lắm thay một người thầy như thế!

 

L.T.T.N

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter