• Loading...
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Yên Bái tập trung đẩy mạnh đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII vào cuộc sống
 
Lời người mãi khắc trong tim
Ngày xuất bản: 01/03/2019 8:27:45 SA

Ký của Nguyễn Thị Tâm

Quen biết nhà giáo, tác giả thơ Trịnh Thoại đã lâu mà mãi tới gần đây, tôi mới tình cờ biết được ông là một trong số những giáo viên đầu tiên theo tiếng gọi của Đảng, của Bác, xung phong đem ánh sáng văn hóa lên miền núi mùa thu năm 1959. Thấm thoát đã 60 năm kể từ ngày 860 giáo viên miền xuôi tình nguyện rời xa quê hương, xa người thân, mang theo “Ngọn cờ đỏ của Ðảng để cắm lên những ngọn núi cao nhất” của Tây Bắc, Việt Bắc như lời của Nhà thơ Tố Hữu đã nói. Những người giáo viên ấy đã bám bản, bám dân, vừa nỗ lực đưa chữ đến cho hàng vạn đồng bào dân tộc thiểu số, vừa là những người cán bộ quần chúng mẫn cán, giúp đồng bào giác ngộ chính trị, làm trọn nhiệm vụ vẻ vang của người thanh niên và người giáo viên yêu nước. Chính họ đã tạo nên sức bật mới cho giáo dục miền núi trong suốt những năm tháng khởi đầu đến bây giờ. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, Trịnh Thoại cũng giống như rất nhiều trong số 860 con người ấy vẫn luôn đau đáu khắc sâu trong tim lời Bác dạy năm nào: “Công tác ở miền núi có nhiều khó khăn. Các cô, các chú xung phong gánh lấy những khó khăn để làm công tác giáo dục ở miền núi, thế là tốt, là vẻ vang. Nhưng các cô, các chú đã xung phong thì phải xung phong đến nơi đến chốn…”. Để rồi gần trọn cuộc đời Trịnh Thoại đã gắn bó với vùng cao Tây Bắc. Ông cùng bạn bè, đồng nghiệp dùng cả thanh xuân trẻ trung của mình để cõng chữ lên non, xây dựng nền tảng cho sự nghiệp giáo dục nơi miền núi xa xôi.

Những ngày đầu xuân mới, còn chưa dứt được cái tâm thế hưởng thụ sự thư thái, thảnh thơi sau chuỗi ngày bận rộn cuối năm thì tôi lại chợt nhớ tới tác giả Trịnh Thoại, nhớ tới nét mặt ưu tư và những câu thơ chứa đựng nhiều nỗi niềm tâm sự mà ông đọc cho chúng tôi nghe hôm ông đến Hội: “Năm chín chúng con lên Lào Cai/ Nhớ lời Bác dạy chẳng mờ phai/ ‘Xung phong cho đến nơi đến chốn...’/ Nghe Bác bao năm đã miệt mài...”. Biết mình không thể bỏ qua cơ hội được nghe câu chuyện thật của một trong số những người làm nên sự kiện huyền thoại mùa thu năm ấy nên tôi và đã đến thăm ông trong một chiều mưa xuân giăng trắng phố.

Ở tuổi tám ba, cái tuổi lẽ ra đã được an nhàn, thỏa sức vui với thơ với nhạc thì “ông giáo” Trịnh Thoại lại vẫn nguyên dáng vẻ tất bật, bận rộn. Thấy tôi đến theo đúng lời hẹn hôm trước, ông vui ra mặt. Ông vui không phải vì tôi giữ lời hứa hay niềm vui của người đón khách đến chơi nhà mà dường như ông vui vì gặp được người muốn nghe ông dốc bầu tâm sự. Có lẽ bởi sự tất bật vốn có, cộng thêm tâm trạng này nên câu chuyện ông kể cho tôi cũng trở nên gấp gáp, vội vã. Chắp ghép, kết nối từ những chi tiết trong câu chuyện vội vã ấy tôi biết được, ông vốn quê gốc ở Đức Tùng- Đức Thọ- Hà Tĩnh. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, cha sớm giác ngộ và hoạt động cách mạng từ những năm 30, 31. Bởi có trình độ nên khi bị bắt, cha đã bị giặc Pháp đưa vào đội lính thủy. Sau trở về, cha lại tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng và nhà chính là nơi sinh hoạt bí mật của Chi bộ Đảng. Mỗi lần Chi bộ họp, Trịnh Thoại lại lén nghe các đồng chí của cha nói về cách mạng, về khí thế, ý chí chiến đấu của nhân dân ta. Rồi anh trai cả, anh trai thứ hai của ông cũng lần lượt ra trận. Không bao lâu gia đình ông nhận tin anh hai hy sinh ngoài chiến trường. Lòng trai sôi sục, tinh thần cách mạng thấm nhuần trong ông lâu nay bỗng trỗi dậy mạnh mẽ nên dù là đối tượng ưu tiên, lại đang học dở chương trình phổ thông trung học nhưng ông vẫn viết đơn xung phong đi bộ đội để được cầm súng chiến đấu như các anh của mình. Nhập ngũ, sau mấy tháng huấn luyện tân binh, Trịnh Thoại được đưa vào huấn luyện tại đơn vị pháo binh thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu IV để chuẩn bị tham gia chiến dịch Điệp Biên Phủ. Huấn luyện chưa xong thì Điện Biên Phủ được giải phóng, ông chưa kịp thỏa ước muốn góp sức mình cho đất nước. Hòa bình lập lại, Trịnh Thoại được điều về Đoàn 80 để dạy học cho sĩ quan ra quân, sau lại được điều về Cục văn hóa để học sư phạm, được phong quân hàm Trung sĩ rồi chuyển ngành về Sở Giáo dục Hà Nội. Kể từ đây, cuộc đời ông rẽ sang con đường mới.

Tháng 9 năm 1959, lời kêu gọi mang ánh sáng văn hóa lên miền núi của Đảng, của Bác Hồ ngày ngày vang lên trên loa truyền thanh đã thôi thúc Trịnh Thoại một lần nữa viết đơn xung phong lên đường, dù khi ấy Hà Nội đã có chút níu kéo, vương vấn riêng tư. Những ngày cuối tháng chín, trong khí thế rầm rộ của gần một nghìn giáo viên từ khắp các tỉnh, thành miền xuôi xung phong lên miền núi, Trịnh Thoại cùng với 24 đồng nghiệp xuất phát từ Hà Nội ngược đường lên Tây Bắc. Yên Bái, Lào Cai những năm 1959, 1960 vừa trải qua giai đoạn khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương sau chiến tranh, mọi thứ tuy nói rằng đã bắt đầu đi vào ổn định nhưng thực tế còn rất nhiều khó khăn. Với những chàng trai, cô gái tuổi 23 đương độ xuân xanh, lại hừng hực khí thế sẵn sàng xung phong lên đầu trận tuyến nên họ không màng tới những gian nan thử thách đang đón đợi mình ở phía trước.

Sau nhiều ngày vượt đèo, vượt núi, ngày 01/10/1959 đoàn dừng chân tại thị xã Lào Cai, được lãnh đạo tỉnh đón tiếp và giới thiệu sơ qua về tình hình của tỉnh rồi nhận nhiệm vụ công tác. Hai người con gái trong đoàn được ưu tiên phân công ở lại thị xã, còn lại 23 chàng trai trẻ phân chia nhau tản về các huyện vùng cao, vùng sâu còn nhiều khó khăn của tỉnh. Trịnh Thoại và Phạm Sỹ Quang được điều lên Bảo Nhai- một xã vùng hạ huyện của Bắc Hà. Chiếc ba lô nặng trĩu toàn sách là hành trang trên vai, các ông đã đi bộ gần 50 cây số đường núi để đến với Bảo Nhai. Lên đến nơi, giáo án, sổ sách không có, trường lớp không, học sinh lại càng không. Thứ duy nhất hai thầy giáo trẻ có là tấm lòng và sự quyết tâm. Tìm vào nhà một cán bộ xã xin ở nhờ, hai thầy giáo bắt đầu lên kế hoạch mở trường, dựng lớp. Nhờ có cán bộ xã cùng các già làng, trưởng bản, hai người nhanh chóng tập hợp được bà con trong thôn, trong xã, họp bàn, vận động. Kết quả, một gian nhà tranh nứa cũng được dựng lên làm trường học, những chiếc cọc tre đóng xuống thành bốn góc, đủ để ghép lên những mảnh ván mỏng làm bàn. “Cơ sở vật chất” coi như tạm ổn, hai thầy tiếp tục đi vận động học trò ra lớp…

Đang kể chuyện, bỗng “ông giáo” như sực nhớ ra điều gì. Ông hớt hải chạy vào gian trong tìm kiếm gì đó. Một lúc sau, ông mang ra cho tôi một cuốn sổ tay đã cũ, một bức thư viết tay bằng nét chữ run run, siêu vẹo, rất nhiều tài liệu, quyết định khen thưởng… và vài tập thơ mà ông đã xuất bản. Tôi lướt nhanh qua bức thư vừa nhận trên tay ông. “Phố Lu ngày 28 tháng 9 năm 1959/ Thầy kính mến!/ Em được nghe nhà trường nói chuyện các thầy, các cô ở miền xuôi lên công tác ở miền núi. Chúng em rất vui mừng và mong mỏi các thầy, các cô chóng lên dậy dỗ em và các bạn em. Nhất là những nơi em ở trong làng hẻo lánh còn chưa có trường học… Đặng Thị Tịnh/ Học sinh lớp 1”. Chờ tôi đọc hết, không nói ngay về bức thư mà lại giở mấy tập thơ đưa tiếp cho tôi rồi ông đằng hắng đọc: “Ba lô sách nặng mòn vai khoác/ Lội suối trèo non đến mọi nhà/ Tìm trò dạy chữ yêu đất nước… Chống gậy tìm trò/ Dốc cao đèo vắng/ Suối ngàn rau đắng/ Bục giảng nứa bương/  Mõ trường gọi trẻ… Quên sao được trời Bảo Nhai nắng lửa/ Đàn ngựa thồ hí vang vọng núi non/ Mảng nứa dại vượt lũ tràn sông Chảy/ Trường đảm đang ơi cô gái Nậm Mòn…”. Đọc liền cho tôi nghe đến ba, bốn bài thơ rồi ông bảo: “Đó chính là kỷ niệm những ngày đầu gây dựng sự nghiệp giáo dục trên đất khó đấy. Sau tất cả những cố gắng, nỗ lực ấy, chúng tôi cũng chỉ tập hợp được hơn chục học sinh ra lớp nhưng “Ngôi trường mới ấm tình dân bản/ Buổi đầu tiên luyện mãi chữ i- tờ…”, tình cảm của bà con dân bản, những gương mặt trẻ thơ trong sáng khao khát học được con chữ và cả bức thư tôi tình cờ nhận được ngay khi vừa đặt chân đến Lào Cai đó chính là động lực giúp chúng tôi vượt qua tất cả”.

Khi mọi thứ ở Bảo Nhai đã đi vào quỹ đạo ổn định thì Ty Giáo dục tỉnh điều ông về phụ trách Trường Thiếu niên dân tộc, một năm sau chuyển sang nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng Trường cấp I, rồi cấp II phố Lu. Về phố Lu, mọi thứ từ sinh hoạt đến dạy học, đi vận động học sinh không còn vất vả như trước nhưng bởi năng lực công tác, luôn được cấp trên tín nhiệm giao phó nhiều công việc nên ông không chỉ là một thầy giáo dạy học nữa, mà trở thành con dao pha của ngành giáo dục, nào là làm công tác nâng cao chất lượng đảng viên, đi nghiên cứu nội dung dạy học và tình hình thực tế ở vùng cao để xác định thời gian biểu, thời khóa biểu cho phù hợp rồi lại tham gia vào chiến dịch diệt mù chữ… Năm 1961, duyên trời xe kết cho Trịnh Thoại lấy được người vợ hiền ở Lào Cai. Song do điều kiện công tác, ông ở nhà với vợ chẳng được mấy ngày nói gì đến việc chăm sóc cho vợ con. Ngày vợ ông sinh con gái đầu lòng, ông đang trong chiến dịch đi Pha Long- Mường Khương để nghiên cứu. Năm 1965, Trịnh Thoại được tổ chức cử đi học Đại học ở Hà Nội. Trở về, ông nhận vị trí công tác mới, làm Trưởng phòng Phổ thông Ty Giáo dục Lào Cai rồi chuyển sang làm Hiệu trưởng Trường Phổ thông cấp III Lào Cai. Đến năm 1978, Trịnh Thoại được điều về Sở Giáo dục Đào tạo Hoàng Liên Sơn, làm Trưởng phòng hành chính tổng hợp. Về tiếp nhận công tác, mọi thứ với bản thân ông cũng như gia đình lại như mới bắt đầu. Vợ ông chuyển công tác về trước, nhà chưa có, được cơ quan vợ cho mượn gian tập thể để ở. Đồng lương có hạn, hai vợ chồng hì hụi tăng gia chăn nuôi để cho ba đứa con ăn học rồi tích cóp mua sắm, trang trải thêm cho gia đình. Nhờ vậy đến năm 1982 thì vợ chồng ông mua lại của người dân trong huyện một căn nhà gỗ. Sau gần 20 năm (1997), phải vay mượn thêm hai vợ chồng mới xây được ngôi nhà tử tế cho các con ở… Cuộc sống bộn bề khó khăn là vậy nhưng vợ chồng ông không nản mà vẫn cống hiến hết mình cho công việc mới. Sáu năm làm việc tại Sở, qua quá trình đầu tư thời gian, công sức mày mò tìm hiểu rồi nghiên cứu thực tế địa phương, Trịnh Thoại đã tham mưu cho Sở tổ chức các kỳ thi chọn giáo viên dạy giỏi. Hoạt động thiết thực này không những tạo được không khí thi đua mà còn trở thành động lực để các thầy cô giáo tăng cường trau dồi kiến thức, kỹ năng, nâng cao chất lượng dạy học. Khi nhận nhiệm vụ làm Trưởng khoa Bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục Trường Cao đẳng Sư phạm Yên Bái, Trịnh Thoại được phân công kiêm nhiệm phụ trách Công đoàn nhà trường. Nhìn cảnh khổ không chỉ riêng mình mà thầy cô trong trường ai cũng khó khăn, ông lại đề xuất tăng gia sản xuất ngay tại trường, cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống cho cán bộ, giáo viên. Tính đi tính lại, quỹ đất của trường có hạn, chăn nuôi, trồng cấy rất khó thực hiện, ông nảy ra ý định hùn vốn xây lò làm bánh mỳ, có thu có chi, có doanh số và tiền phát sinh nhanh. Vậy là ông cùng anh em họp bàn, xin ý kiến chỉ đạo, lên kế hoạch và triển khai ngay. Làm bánh mỳ cái khó các ông vấp phải không phải về vốn, kỹ thuật làm bánh hay con người mà khó nhất lại là khâu tiêu thụ. Bánh làm ra anh em trong cơ quan phân công nhau đi bán rong cũng không được bao nhiêu, Trịnh Thoại lại đích thân đi tìm mối ở các quán ăn, các hàng tạp hóa, quán cóc, hàng chè nước trên phố. Cuối cùng lò bánh của Công đoàn nhà trường cũng đi vào hoạt động ổn định và hiệu quả. Đời sống được nâng lên, hoạt động thi đua sôi nổi hẳn và hơn cả là tình cảm đồng nghiệp thêm phần đoàn kết, gắn bó hơn.

Năm 1996, nhà giáo Trịnh Thoại được về nghỉ chế độ hưu trí với bảng thành tích dày đặc là những Huy chương, Huân chương, Bằng khen, Giấy khen của Trung ương và địa phương dành cho những cống hiến miệt mài của ông. Nhưng bởi tín nhiệm nên nhà trường mời ông ở lại dạy hợp đồng thêm. Khi ông về nghỉ hẳn thì học viên cũ là vị Chủ tịch phường sở tại tìm đến đánh tiếng “thầy giúp em”. Vậy là “ông giáo” lại tiếp tục tham gia công tác ở phường, là đại biểu HĐND, Ủy viên Ban chấp hành Đảng ủy phường rồi rút về làm Bí thư Chi ủy khu dân cư, Tổ trưởng tổ dân phố, Mặt trận tổ quốc, Hội Chữ thập đỏ… Ở mỗi vị trí ông nhận đảm nhiệm là một lần ông phải học lại từ đầu. Ông bảo, phải học để làm việc cho tốt, không chỉ học ở tổ chức nhà nước, học những người đi trước mà quan trọng nhất là phải học từ nhân dân, gần gũi, tiếp xúc và cảm nhận được mọi thứ xung quanh cuộc sống của nhân dân. Chẳng thế mà ông luôn nhận được sự tín nhiệm cao của phố phường, tình cảm yêu mến, quý trọng của bà con lối xóm. Mãi đến năm nay, khi ông đã ngoài tuổi tám mươi, bà con mới chịu để ông thảnh thơi mà lo cho con, cho cháu.

Tò mò lục giở đống tài liệu ông mang ra lúc trước, tôi vô tình chạm phải cuốn sổ tay đã phai màu mực của ông. Trong cuốn sổ ấy có nhiều nét chữ khác nhau. Tất cả đều là những vần thơ, câu hát và những bức ký họa mà bạn bè và chính ông sưu tầm, sáng tác. Nhìn cuốn sổ, ông nghẹn ngào chia sẻ với tôi: “Suốt cả chặng đường đời gian nan ấy, thơ chính là món ăn tinh thần duy nhất, thơ trở thành bạn tâm tình, là động lực giúp chúng tôi vượt qua tất cả…”. Chẳng cần ông nói, chỉ cần nhìn vào 6 tập thơ in chung, in riêng để trên bàn cũng đủ để tôi hiểu, thơ có vị thế quan trọng đến thế nào với ông. Từ buổi đầu xanh đến khi mái tóc đã chuyển màu mây trắng, cuộc đời, sự nhiệp đã gắn bó ông một cách máu thịt với Tây Bắc. Ông yêu dãy Hoàng Liên Sơn, yêu dòng sông Hồng, sông Chảy như chính dãy Hồng Lĩnh và dòng sông La, nơi chôn rau cắt rốn của ông vậy. Và tất cả tình yêu ấy ông đã đem gửi gắm cả vào thơ, vào văn của mình. Tôi được biết, tác giả Trịnh Thoại thuộc lớp hội viên đầu tiên của Hội Văn học nghệ thuật Hoàng Liên Sơn, tiền thân của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Yên Bái và Lào Cai bây giờ. Giờ đây, ông đã gác lại tất cả sự nghiệp của một nhà giáo, gác lại công việc xã hội, nhưng có lẽ thứ duy nhất ông sẽ không bao giờ dừng lại chính là thơ. Chúc cho ông luôn được viên mãn và thăng hoa với những vần thơ của mình. Tôi xin mượn một khổ thơ trong bài thơ “Dáng xưa… còn đó” của ông để thay cho lời kết, cũng xin phép ông được sửa lời một câu trong khổ thơ ấy cho phù hợp với thời điểm hiện tại: “Sáu mươi năm/ Dáng xưa… còn đó/ Lời Bác dặn còn đây…/ Hoàng Liên Sơn cao vút trời mây!”.

 

                                                                                       N.T.T

 

 

 

 

 

Văn nghệ Yên Bái số mới

Đất và người Yên Bái qua ảnh

Thư viện video

Các cuộc thi Văn học nghệ thuật

Lượt truy cập

Visitor Counter